Hôm nay,  

Thẩm Phán Tối Cao Steven Nói Về Bầu Cử Tổng Thống 2000

23/04/201100:00:00(Xem: 9163)

Thẩm Phán Tối Cao Steven Nói Về Bầu Cử Tổng Thống 2000

TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG

Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000 đã trôi qua 11 năm rồi nhưng vẫn có người nói đến những sai trái ,lầm lỗi của cuộc bầu cử không trong sạch này. Một trong những người đó là Thẩm phán Tối cao pháp viện Mỹ John Paul Steven. Ông còn tranh cãi với Tổng thống Bush con về chuyện tù nhân khủng bố ở trại Guantanamo. Ông lên tiếng về những chuyện này khi chuẩn bị về hưu ở lứa tuổi 90. Ông thẳng thắn nói lên những suy nghĩ của mình về những vấn đề trọng yếu của quốc gia Hoa Kỳ mà lá phiếu của ông ở Tối cao pháp viện góp phần quyết định hướng đi của quốc gia.

Trong 35 năm ngồi ở Tối cao pháp viện, ông thường theo nguyên tắc truyền thống là từ chối phỏng vấn nói về quyết định của ông trong những vụ án . Vào nhiệm kỳ cuối ông đồng ý nói chuyện với phóng viên Scott Pelley của chương trình " 60 minures" để nói lên những băn khoăn, ưu tư về những chuyện " trật đường rầy " trong xã hội Mõỹ.

Ông chuẩn bị về hưu ở lưá tuổi 90. Ông được Tổng thống Ford đề cử vào chức vụ thẩm phán tối cao. Nhưng từ một người theo khuynh hướng Cộng Hoà ôn hoà ( moderate Republican) , ông cuối cùng trở thành lãnh tụ cuả phe cánh cấp tiến ( liberal wing).

Với 35 năm làm việc ở Tối cao pháp viện Mỹ, ông là người đứng hạng thứ ba phục vụ lâu nhất ở Tối cao pháp viện . Khi nói đến cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000, ông cho đó là một sự sai lầm ngớ ngẩn nhất cuả toà án Mỹ.

Khi được hỏi là toà án nên làm gì về trường hợp Bush và Al Gore. Thầm phán Steven trả lời " Toà án không nên bác bỏ chuyện đình hoãn đếm phiếu ."

Phóng viên Pelley hỏi tiếp, "Và như thế là để cho chuyện tái kiểm phiếu recount) ở Florida được tiến hành."

Thẩm phán Steven trả lời "Đúng thế."

Trong trận đấu giành ngôi tổng thống giữa Bush con va Gore thì một tháng sau ngày bầu cử, tiểu bang Florida vẫn tái kiểm phiếu. Bush dẫn đầu số phiếu nhưng cuộc tái kiểm phiếu có thể đưa đế thắng lợi cho một trong hai người .

Phe vận động tranh cử của Bush yêu cầu ngưng chuyện tái kiểm phiếu, với lý do là cuộc tái kiểm phiếu có thể gây ra sự tai hại không sưã chữa được cho quốc gia. Đêm trước khi Tối cao pháp viện nghe lời yêu cầu, Thẩm phán Steven nói chuyện với một đồng nghiệp trong một buổi họp mặt và nhớ lại chuyện tâm sự " Tội nhớ là chúng tôi nói với nhau rằng, " Ồ, tôi đoán ngày mai chúng ta sẽ gặp phải vấn đề này, nhưng chúng ta chỉ cần 10 phút để giải quyết chuyện này , vì rõ ràng nó không có hợp lý . Bởi vì , để có thể đạt được một sự đình hoãn trong bất kỳ tình huống nào, người nộp đơn phøải chứng minh có sự nguy hại không thể sữa chữa (irreparable injury) và rõ ràng chẳng có sự nguy hại không thể sữa chữa gì về chuyện cho phép việc tái kiểm phiếu bởi vì điều tệ hại nhất xảy ra là chúng ta có thêm được sự chính xác của phiếu đếm. Nhưng chúng tôi ngạc nhiên khi thấy đa số các thẩm phán Tối cao pháp viện lúc ấy đồng ý cho đình hoãn chuyện đếm."

Cuối cùng phe đa số trong Tối cao pháp viện Mỹ quyết định chuyện tái kiểm phiếu sẽ không công bình vì quá trình tái kiểm phiếu sẽ không đồng nhất giữa các tiểu bang và không thể sữa chữa trước kỳ hạn cuối cùng của tiểu bang Florida.

Phóng viên Pelley chỉ ra, "Nhiều người ở Mỹ cảm thấy Tối cao pháp viện đã đánh cắp cuộc bầu cử về cho Tổng thống Bush con. Đó là lời tố cáo như thế ."

Thẩm phán Steven trả lời "Thật không may mắn khi có lời tố cáo như thế và đó là hậu quả quyết định cuả toà tối cao mà tôi nghĩ rằng đó là một quyết định không khôn ngoan từ toà án có dính líu đến vấn đề chính trị đảng phái."

Khi được hỏi rằng quyết định của toà án có tính chất thiên vị đảng phái hay không, Thẩm phán Steven nói, " Tôi thực sự không muốn nói thế. Tôi không nghi ngờ lòng tốt của mọi người và của những vị thẩm phán tôi không đồng ý. Nhưng tôi nghĩ họ sai trầm trọng . "

Vấn đề thứ hai là chuyện chính phủ Bush con cho rằng những tù nhân ở vịnh Guatanamo không có quyền nhờ luật sư biện hộ vì họ bị giam giữ ngoài lãnh thổ Hoa kỳ. Nhưng Thẩm phán Steven lãnh đạo đa số thẩm phán tối cao để đưa ra luật rằng căn cứ hải quân Mỹ ở vịnh Guatanamo đích thực là lãnh thổ Hoa kỳ, cho nên những tù nhân có quyền tố tụng hợp pháp.

Phóng viên Pelley nhấn mạnh "Có một câu khắc ở ngay cửa của toà nhà này là " Bình đẳng trước pháp luật " ( Equal Justice Under Law).. Liệu câu này có được áp dụng với những người ngoại quốc muốn làm hại nưóc này không ""

Thẩm phán Steven phân bua " Nếu họ bị truy tố vì gây ra tội lỗi, họ phải có quyền có một phiên toà công bình hay một tiến trình truy tố công bình."

Trong một trường hợp một vụ án khủng bố khác, sự nguy hiểm tăng lên vì nghi can Jose Padilla là một công dân Mỹ. Anh ta bị bắt tại Mỹ vì sự nghi ngờ có liên quan đến khủng bố và bị giam ở một nhà giam quân sự trong gần 4 năm mà không có sự truy tố nào. Anh ta bị giam riêng, không do lệnh của ai ngoài tổng thống.

Thẩm phán Steven nói, " Tôi nghĩ chuyện đó là mối đe dọa đến mỗi công dân của nước Mỹ nếu bạn bị bắt giữ mà không liên lạc được với toà án hay luật sư hay phần sau là một vấn đề đáng quan tâm."

Phe đa số của toà án bác đơn kháng án của Padilla vì luật lệ chuyên môn, nhưng thẩm phán Steven và 3 thẩm phán Tối cao pháp viện khác muốn có một luật về sự giam giữ của Padilla. Thẩm phán Steven tỏ bày sự bất mãn với chính phủ Bush con, ông viết " Nếu quốc gia này vẫn trung thành với những lý tưởng được biểu tượng bằng lá cờ, nó sẽ không dùng đến dụng cụ cuả bọn bạo chúa."

Thẩm phán David Souter nhận xét về Thẩm phán Steven như sau , "

" Thẩm phán Steven chơi theo luật . Nhưng ông biết cách tung quả đấm ra."

Thẩm phán Souter về hưu năm 2009. Ông thường là đồng minh của Thẩm phán Steven ở trong cánh cấp tiến và cùng phe với Steven trong vụ án Guantanamo và Padilla.

Thẩm phán Souter nói thêm " Thẩm phán Steven không dồng ý, nói rằng với kiểu này giống như bí mật chuyển một công dân Mỹ để chặt đi quyền của một công dân Mỹ tiếp xúc với một toà án dân sự hay tìm hiểu tính cách hợp pháp về sự giam giữ họ. Đó là sự căn bản của bất cứ quyền quyết định về sự tư do của mỗi công dân trong thời đại của tôi."

Thẩm phán Steven là người đứng dậy và nói, " Đợi một chút. Chuyện này đã đi quá trớn rồi.". Đó là lý do tại sao mọi người cần đến toà án. Ông lãnh lương thì ông phải hoàn thành nhiệm vụ. Ông làm nhiệm vụ bằng những ý kiến như vậy sao" Đúng như thế. Điều đó làm ông trở thành một trong những thẩm phán vĩ đại.

Phóng viên Pelley hỏi Thẩm phán Steven" : Tôi nghĩ đa số dân Mỹ sẽ không đồng ý với ông về những ý kiến này. "

Ông trả lời , " Điều đó có thể đúng. Anh biết đó, một phần công việc của chúng tôi là viết ra những ý kiến từ thời này đến thời khác dù không được phổ thông và anh biết vào lúc đó nó không được phổ thông."

Trở lại chuyện bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000 với sự can thiệp của Tối cao pháp viện đem chiến thắng về cho ứng cử viên Bush con. Tối cao pháp viện Mỹ có 9 thẩm phán. Khi đặt ra vấn đề là có nên ngưng cuộc tái kiểm phiếu ở Florida để cho Bush con thắng cử hay không thì có 5 thẩm phán bỏ phiếu chấp thuận. Đó là các thẩm phán William Rehnquist, Antonin Scalia, Sandra Day O'Connor, Clarence Thomas và Anthony Kennedy. Bốn thẩm phán bỏ phiếu chống lại trong đó có Thẩm phán John Paul Steven.

Sau mấy năm làm tổng thống ,báo chí Mỹ đánh giá Tổng thống Bush con là một trong những tổng thống tệ hại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. Không biết 5 vị thẩm phán dấm dúi bỏ phiếu đưa ông Bush con lên ngôi tổng thống có xấu hổ với dân Mỹ hay không"

Không phải đợi đến lúc ông Bush con làm tổng thống mới biết ông ta là thứ vô tài bất tướng chẳng ra gì. Khi tranh cử tổng thống năm 2000,. ông là đương kim thống đốc tiểu bang Texas, mà tiểu bang Texas dưới quyền lãnh đạo của ông Bush coi như đứng cuối sổ về mọi mặt trong 50 tiểu bang ở Hoa Kỳ. Có một điểm tiểu bang Texas dưới thời Bush con làm thống đốc là đoạt giải nhất là xử tử tội nhân nhiều nhất so với những tiểu bang khác !! Lúc còn thanh niên, ông Bush con mắc bệnh ghiền rượu nặng và có sử dụng ma túy. Một người có thành tích xấu như thế mà làm tổng thống thì nước Mỹ đến hồi mạt vận là đúng rồi.

Hai vết đen trong nhiệm kỳ tổng thống của ông Bush con là đem quân vào Iraq để bị sa lầy và chết oan uổng trên 4000 quân Mỹ và cuộc khủng hoảng nhà cửa và nhà băng cuối nhiệm kỳ làm khủng hoảng cả nước Mỹ .

Năm 2004 ông Bush con tái tranh cử tổng thống và thắng ông John Kerry vì chính phủ Bush con đã gieo rắc sự sợ hãi trong dân chúng về sự tàn bạo của quân khủng hố Hồi giáo trong biến cố 9/11và cố chứng minh chính phủ của ông đối phó cứng rắn với bọn khủng bố như dùng hình thức tra tấn dội nước tàn bạo dành cho những tên khủng bố. Suốt ngày chính phủ ông ra rả đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống khủng bố. Dân chúng Mỹ lo sợ và ghê tởm bọn khủng bố nên dồn nhiều phiếu cho ông cũng là điều dễ hiểu và đã giúp ông chiến thắng ông Kerry của Đảng Dân Chủ.

Cho dù ông Bush con có thắng ông Al Gore mấy trăm phiếu ở Florida năm 2000 thì chuyện ông đắc cử tổng thống cũng là một chuyện không hợp lý vì trên toàn quốc ông Al Gore hơn ông Bush con 2 triệu phiếu. Khi được tuyên bố thắng phiếu tại Florida ông Bush con coi như thắng phiếu cử tri đoàn ( electoral vote) và thế là thắng cử luôn .

Bầu cử tổng thống Mỹ không chỉ căn cứ trên lá phiếu cử tri mà còn căn cứ trên phiếu cử tri đoàn. Ông Gore thắng phiếu cử tri toàn quốc mà phải chịu thua ông Bush con về phiếu cử tri đoàn. Khi tối cao pháp viện cho ngưng chuyện tái đếm phiếu ở Florida, ông Bush con coi như thắng phiếu cử tri ở tiểu bang Florida và từ đó dẫn đến chuyện thắng phiếu cử tri đoàn ở Florida và từ đó được nhìn nhận thắng cử tổng thống luôn

Đã có nhiều người nhìn ra sự mâu thuẫn giữa số phiếu cử tri và cử tri đoàn và yêu cầu bỏ đi chuyện phiếu cử tri đoàn trong chuyện bầu cử tổng thống nhưng rồi đề nghị hợp lý này chẳng đi đến đâu. Bầu cử tổng thống Mỹ vẫn sử dụng hai hệ thống cử tri và cử tri đoàn như cũ .

Một điều cần nói thêm ở đây là cơ quan thăm dò dư luận uy tín Gallup. Trong suốt cuộc tranh cử tổng thống Mỹ năm 2000, lúc nào cơ quan này cũng đưa ra tỷ lệ thăm dò là ông Bush con được 49 % phiếu cử tri và ông Al Gore được 48 %. Đến khi tổng kết phiếu bầu cử, người ta sửng sốt khi thấy toàn quốc ông Gore hơn ông Bush con 2 triệu phiếu. Có nghĩa là kết quả thăm dò dư luận của cơ quan Gallup sai bét. Khi đưa ra con số thăm dò cho biết ứng cứ viên này hơn ứng cử viên kia thì ứng cử viên có số phiếu thăm dò lớn hơn có lợi rất nhiều vì làm cho cử tri có cảm tưởng là ứng cử viên có phiếu thăm dò coi như được nhiều người ủng hộ hơn và coi như có lợi nhiều trong cuộc tranh cử.

Liệu viện thăm dò Gallup phạm phải sai lầm trong khi thu thập ý kiến người dân hay có một thế lực đen tối nào đó " xỏ mũĩ " ,lèo lái để công bố kết quả thăm dò sai sự thật " Câu trả lời không phải đơn giản. Thế lực này cũng có thể leò lái luôn tối cao pháp viện để tối cao pháp viện đưa ra những quyết định có lợi cho phe gà nhà của mình.

Mười năm sau lần bầu cử tổng thống năm 2000, Thẩm phán John Paul Steven mới bức xúc nói ra những sai trái khó được tha thứ của cuộc bầu cừ này trên chương trình " 60 minutes" của Đài CBS ngày 28 tháng 11 năm 2010. Còn người viết bài này từ năm 2000 đã thấy khó chiụ về cuộc bầu cử không trong sáng này nên đã viết bài nói rõ sự bất mãn ra. ( Xin vào www.nsvietnam.com , rồi bấm vào tên Trần viết Đại Hưng nằm bên trái rồi bấm vào bài số 10)" Thắng kiện chứ không thắng cử " để đọc và hiểu rõ hơn.)

Không ai chối cãi nước Mỹ là một nước dân chủ nhưng rồi có những hiện tượng bất thường trong sinh hoạt chính trị làm cho những nhà báo quan sát cảm thấy khó chịu và nói ra những điều sai trái . Chuyện bầu cử tổng thống năm 2000 là một ví dụ cụ thể cho sự sai trái của guồng máy chính quyền Mỹ trong việc bầu chọn tổng thống. Cũng may là còn có vị thầm phán công tâm và can đảm như John Paul Steven phơi bày ra sự thật những chuyện khuất tất, đen tối để mọi ngươì cùng thấy và sẽ có biện pháp sữa chữa sau này.

Nói đến chuyện u ám bầu cử tổng thống năm 2000, không thể không nói đến năm 1976, là năm kỷ niệm 200 năm Hiến Pháp Hoa kỳ, nước Mỹ gặp phải một cảnh trớ trêu là có một tổng thống không do dân bầu lên là Tổng thống Gerald Ford. Lý do là Tổng thống Nixon từ chức vì vụ tai tiếng Watergate. Trước đó Phó tổng thống Spiro Agnew bị tôi gian lận thuế nên bị bãi chức. Chủ tịch thượng vịên Gerald Ford thay thế làm phó tổng thống cho tổng thống Nixon. Khi Tổng thống Nixon từ chức thì ông Gerald Ford lên thay . Thật là một trớ trêu của lịch sử!

Chế độ dân chủ thường được xây dựng trên một tiến trình dài lâu. Chuyện bầu cử tổng thống Mỹ năm 2000 là một chuyện làm phản dân chủ và đã bị Thẩm phán tối cao pháp viện Mỹ John Paul Steven phê phán đích đáng. Đó là điểm mạnh của nền dân chủ Mỹ. Có sự phê phán thẳng thắn thì mới có sưã chữa và tiến bộ được. Đó là một bài học mà mỗi ngươì Việt trên đất Mỹ nên học hỏi để một ngày nào đó áp dụng vào trong chuyện xây dựng nền dân chủ ở quê nhà Việt Nam sau khi chế độ Cộng sản sụp đổ.

Los Angeles, một ngày u ám có sáng nắng le lói và chiều mưa lâm râm giữa tháng 4 năm 2011

TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG

email : [email protected]

( Muốn đọc tất cả những bài của Trần viết Đại Hưng, xin vào www.nsvietnam.com. rồi bấm vào tên Trần viết Đại Hưng nằm bên trái

Hay vào www.hung-viet.org rồi bấm vào tên Nhân vật- Tác giả nằm phiá trên , rồi bấm vào tên Trần viết Đại Hưng).

Ý kiến bạn đọc
01/07/201114:09:45
Khách
Xin góp ý với toà soạn Việt báo , mong toà soạn nên bỏ qua những bài vở không có dấu và đừng nên đăng những bài ấy . Chúng ta viết tiếng Việt chớ có viết tiếng Mỹ đâu mà không để dấu ? Cũng xin đừng đăng những bài có nội dung miệt thị một cá nhân nào , gây phản cảm cho người đọc !
26/04/201117:47:43
Khách
Kinh ong Tran Viet Dai Hung. Rang doc bai viet cua ong cho het de biet duoc la ong viet co cong bang hay khong truoc khi gop y voi ong, nhung chung toi nguoi tre ( 52 tuoi) cam thay xau ho va coi thuong tu cach con nguoi Viet Nam cua ong, chung toi khong can biet nam nay ong duoc bao nhieu tuoi, nhung qua bai viet day cam thu, vu khong va hon xuoc cua ong thi chung toi cam thay ong la mot nguoi thien ta cap tien hang nang, con hon ong Son Dien Nguyen Viet Khanh nua. Dong y, o Hoa Ky Tu Do Ngon Luan la bac nhat, nhung khong phai xu ly nhu ong viet bai nay ma coi thuong doc gia cung nhu coi thuong nen Dan Chu cua My. Khong biet, bay gio ong co biet la TT Obama va dang Dan Chu dang lam cho dan chung My kho so nhu the nao chua ma ong chua sang mat ra ma con dam viet bai nay hau beu xau cuu TT George W Bush ma tang boc cho TT Obama?. Chinh ong da noi o tren la ong David Souter va ong Paul Stevens, hai vi nay la canh ta hang nang tren TCPV, sau 11 nam moi len tieng ve su bat man cua minh ve vu bau cu TT nam 2000???. Thu hoi ong TVDH neu dang Dan Chu co ly thi ho se bo qua vu bau cu TT nam 2000 hay khong???. Chung toi dong y la phieu cu tri cua ong Al Gore nhieu hon ong Bush, nhung luat bau cu Hoa Ky la neu ung cu vien nao thang phieu cu tri doan la thang, la se duoc cu tri doan bau len lam tong thong. Nhung to phu cua nguoi My rat sang suot khi lam ra luat bau cu tren 2 tram nam qua. Neu cu de cho thang phieu pho thong ( cu tri) la thang thi Cong Hoa hay Dan Chu phe nao co dong cu tri thi cu dac cu duoc lam tong thong hoai suot doi hay sao?. Chung toi khong biet la ong TVDH da song o Hoa Ky bao lau roi, ma luat bau cu tong thong don gian nhu vay ma ong khong hieu duoc. Chi vi ong theo dang Dan Chu va luon benh vuc cho dang Dan Chu mot cach mu quang ma khong con tinh nhan ban nua, chinh ong cung da viet trong bai nay la ong van con ham huc, bat man voi vu bau cu tong thong tu 11 nam qua. Chung toi that su khong muon but chien voi ai, nhung doc qua bai viet ho do cua ong, that khong the doc cho qua roi thoi, it nhat cung viet len de doc gia biet duoc su that, co the toi sai hoac khong hieu biet nhieu bang ong nhung qua bai viet cua ong va loi gop y cua toi, doc gia Viet Bao cung se co mot cai nhin khac mot chut. Loi that mat long. Xin thanh that xin loi neu co lam cho ong TVDH kho chiu, so voi nhung gi ong viet vu khong cuu TT George W Bush thi no la mot roi mot vuc.
Nguoi thay sao noi vay thanh Sacto.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.