Hôm nay,  

Mong Được Lắng Nghe

12/04/201000:00:00(Xem: 9511)

Mong Được Lắng Nghe

Tôn tượng Quán Thế Âm được tạc xong tại núi Ông Trịnh, Vũng Tàu, Việt Nam.


Vĩnh Hảo


Quán Thế Âm (Avalokistevara) trong truyền thống Phật giáo Bắc truyền là một vị bồ-tát xuất hiện nơi đời bằng hình thức nữ nhân, đã từng phát lời nguyện rộng lớn: “Khi nào chúng sanh hết khổ tôi mới thành Phật.”
Đại nguyện của ngài làm chấn động tâm tư của bất cứ ai nghe đến, tác động đến lòng từ bi và ý hướng dấn thân cứu khổ của tất cả những hành giả công khai hay thầm lặng đi vào cuộc đời. Theo ý nghĩa đó, bồ-tát Quán Thế Âm đã hóa thân khắp mọi nơi chốn, mọi thời gian. Cũng theo ý nghĩa đó, ngài thị hiện trong ứng thân ngàn tay ngàn mắt (thiên thủ thiên nhãn). Lòng từ bi và hạnh nguyện của ngài, thật cao vời mà lại rất gần gũi. Người đời, dù ở độ tuổi nào, thân phận nào, cũng thờ kính ngài như một người mẹ; và trong dân gian, người ta gọi ngài là “mẹ hiền Quán Âm.”
Pháp môn của ngài là quán âm (lắng nghe âm thanh của thế gian); hạnh nguyện của ngài là lắng nghe tiếng kêu cầu của chúng sanh mà tùy duyên cứu độ. Phật-tử Việt đã quá quen thuộc với hình ảnh và hạnh nguyện của ngài nên ở đây không cần phải nhiều lời. Điều muốn kể quý vị là câu chuyện bức tượng bồ-tát Quán Thế Âm của Chùa Tam Bảo, thành phố Tulsa, tiểu bang Oklahoma, Hoa Kỳ. Xin cùng học theo hạnh của ngài, lắng nghe phật sự của Chùa Tam Bảo.
Chùa này được thành lập từ năm 1993, hiện nay do thầy Thích Đức Trí trụ trì. Tôi không quen biết thầy trước. Chỉ tình cờ nghe được câu chuyện tôn tượng Quán Thế Âm tạc bằng đá hoa cương tại Việt Nam, đã hoàn tất nhưng lại thiếu tiền để vận chuyển qua Mỹ. Nơi tạc tượng có ý thúc giục Chùa Tam Bảo lo việc vận chuyển sớm chừng nào hay chừng nấy. Đây cũng là điều dễ hiểu, vì tôn tượng Quán Thế Âm này cao 17 mét, nặng 200 tấn, nếu không chuyển đi sẽ choán chỗ của xưởng đúc và bãi đá. Chỉ nghe vậy thôi, lòng thấy không an. Tôi liền liên lạc với thầy bằng điện thoại và được thầy trình bày rõ hơn, sau đó thầy giới thiệu tôi website của Chùa Tam Bảo (www.ducquannam.com).
Đại khái, thầy đã xin được giấy phép tôn trí tượng Quán Thế Âm lộ thiên trong khuôn viên Chùa Tam Bảo, chi phí tạc tượng (ở Việt Nam) đã trả xong, chi phí xây móng để dựng tượng (tại Oklahoma) cũng đã trả xong. Nay chỉ còn thiếu chi phí chuyên chở. Chi phí quá đắt, còn nặng hơn cả chi phí đúc tượng, nằm ngoài dự liệu của Chùa Tam Bảo; vì năm ngoái (2009) thầy khảo giá thì được biết là mỗi container chuyển từ Việt Nam sang Mỹ tốn $2,500 USD, nhưng năm nay thì lại $4,900. Tôn tượng cao 17 mét được phân thành 17 containers, tính luôn tòa sen. Thầy đang nỗ lực vận động tăng ni và phật-tử các nơi hỗ trợ tài chánh để tiến hành việc chuyển vận tôn tượng; nếu việc vận động tài chánh không có kết quả tốt trong tình hình kinh tế khủng hoảng ngày nay, thầy buộc lòng phải vay tiền nhà băng để thực hiện sớm, không thể trì hoãn.


Phần nền (foundation) của tượng đài Quán Thế Âm trong khuôn viên Chùa Tam Bảo cũng đã xây xong.

Tôi không có duyên theo dõi diễn tiến công trình xây tượng Quán Thế Âm lộ thiên của Chùa Tam Bảo ngay từ đầu. Nay đến giai đoạn chót mới được tin thì tượng của ngài đang trong tình trạng mà xưởng đúc thúc hối phải đưa đi (dù suốt thời gian qua, sau khi tượng được đúc xong, thầy vẫn phải trả tiền cho bãi đá để nhờ người bảo vệ, chăm sóc); còn công ty xây dựng ở Mỹ (thực hiện đúc nền và trang trí nơi tượng đài) cũng không thể chờ đợi quá lâu. Lòng không an của tôi lúc này giống như đứa con ở phương xa, nghe tin mẹ mình ở quê bị người khác mời ra khỏi nhà, sớm chừng nào tốt chừng đó. Hai chữ “choán chỗ” dù đã thốt thành lời hay còn trong ý niệm, vẫn là điều xót xa, khó chịu cho đứa con đối với sự hiện diện của người mẹ đang tạm trú trong nhà người khác.
Do vậy, tôi viết ít dòng nơi đây, kính mong chư tôn đức tăng ni và quý bạn đạo khắp nơi, xin tiếp giúp mỗi người một tay, để pho tượng Quán Thế Âm sớm được cung nghinh và tôn trí tại sân Chùa Tam Bảo, làm biểu tượng văn hóa của Phật Việt trên xứ người.
Điều chúng ta quan tâm hiện nay là đóng góp tài chánh để vận chuyển trong một thời gian thật ngắn để hoàn tất giai đoạn cuối cùng của công trình; nhưng sự đóng góp của một biểu tượng lớn, phổ hiện lòng từ bi của mẹ hiền Quán Âm nơi xứ này, là ngàn năm.
Tất nhiên các pháp hữu vi, hình tướng đều bị chi phối bởi luật vô thường. Dù bằng kim cương hay đá hoa cương, vẫn sẽ suy tàn hoại diệt theo thời gian. Nhưng hãy tưởng tượng thời gian hiện hữu khiêm nhường của đá khoảng ngàn năm, khi tất cả chúng ta và nhiều thế hệ sau này đều thay nhau nằm xuống, thì bức tượng Quán Thế Âm bằng đá hoa cương, vẫn sừng sững tồn tại; và trong suốt thời gian ngàn năm tôn tượng hiện diện nơi đây, trước tiên là gieo duyên lành với người qua lại và sinh sống quanh vùng, ngoài ra, còn cảm hóa và an ủi, đem lại tâm bình an cho không biết bao nhiêu phận người. Biểu tượng từ bi cứu khổ của Quán Âm lộ thiên Chùa Tam Bảo sẽ là bài pháp không lời, là dấu ấn của văn hóa Phật Việt tại hải ngoại nói chung, và tại Hoa Kỳ nói riêng. Chỉ ngần ấy thôi, đã là kỳ tích của việc hoằng dương chánh pháp.
Nhất tâm cầu nguyện cho phật sự này được thành tựu tốt đẹp.
Thư viết ngắn không thể hết ý; chỉ là đôi lời giới thiệu để gieo duyên đến bạn đạo khắp nơi.
Để biết thêm chi tiết, xin liên lạc:
Đại Đức Thích Đức Trí
16933 E. 21st Street
Tulsa, OK  74134
Tel: 918-438-0714  *  Fax: 918-438-0714
email: [email protected]
Chi phiếu ủng hộ, xin ghi: CHÙA TAM BẢO
California, ngày 10 tháng 4 năm 2010
Vĩnh Hảo

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
Với chế độ độc đảng toàn trị hiện hành, với bộ máy tam trùng hiện tại, với văn hoá tham nhũng hiện nay, và với chủ trương cấm tự do báo chí cố hữu … thì chuyện sống được bằng lương mãi mãi chỉ là một kỳ vọng xa vời. Vô phương thực hiện!
Hội nghị Paris là một quá trình đàm phán giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt kể từ ngày 13 tháng 5 năm 1968, sau ngày 25 tháng 1 năm 1969 có thêm Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) tham gia. Ngoài 202 phiên họp chính thức của bốn bên, còn có thêm 24 cuộc mật đàm khác giữa Henry Kissinger và Lê Đức Thọ, Xuân Thủy. Cuối cùng, hội nghị kết thúc sau bốn năm chín tháng và bốn bên chính thức ký kết Hiệp định Paris để chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.
Ngày 30 tháng Tư năm 1975 khép lại trang sử Việt của hai lực lượng dân tộc đối đầu nhau trong thế tương tranh quốc tế giữa tư bản và cộng sản. Thế tương tranh này kéo dài từ tranh chấp giữa hai triết thuyết xuất phát từ phương Tây – Duy Tâm và Duy Vật, đã làm nước ta tan nát. Việt Nam trở thành lò lửa kinh hoàng, anh em một bọc chém giết nhau trong thế cuộc đảo điên cạnh tranh quốc tế.
Galang là tên một đảo nhỏ thuộc tỉnh Riau của Indonesia đã được chính phủ nước này cho Cao ủy Tị nạn Liên Hiệp quốc sử dụng trong nhiều năm để người tị nạn Đông Dương tạm trú, trong khi chờ đợi được định cư ở một nước thứ ba. Trong vòng 17 năm, kể từ khi mở ra năm 1979 cho đến lúc đóng cửa vào năm 1996, Galang đã là nơi dừng chân của hơn 200 nghìn người tị nạn, hầu hết là thuyền nhân vượt biển từ Việt Nam và một số người Cam Bốt.
Hình ảnh thay cho ngàn lời nói, ghi nhận rõ "sự hấp hối" của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ghi lại cảnh hỗn loạn, sự hoảng hốt, nỗi lo sợ của dân chúng lũ lượt rời nơi đang sinh sống, đã bỏ nhà cửa trốn chạy trước khi VC tràn vào thành phố
Chúng ta liệu có thể đóng vai trò giúp đỡ những người nhập cư và tị nạn trong tương lai như là người Mỹ đã từng làm cho chúng ta không? Theo lời của Emma Lazarus, liệu chúng ta có nâng “... ngọn đèn bên cạnh cánh cửa vàng” cho “... kẻ bão táp, người vô gia cư ... người mệt mỏi, người nghèo khổ” không? Đối với chúng tôi, trong ngày 30 tháng 4 này, không có câu hỏi nào có ý nghĩa và tính quan trọng hơn câu hỏi này.
Khách đến Việt Nam ngày nay thấy nhiều nhà cao cửa rộng, xe chạy chật đường hơn xưa. Nhưng đa số người Việt Nam có vẻ không có cái nhu cầu dân chủ của người Myanmar hay người Hồng Kông. Hay là họ có, nhưng 20 năm chiến tranh đã làm họ mệt mỏi, xuôi xị chấp nhận chút đầy đủ vật chất, nhắm mắt với tương lai? Và Đảng Cộng sản Việt Nam có thể hy vọng người Việt sẽ ngoan ngoãn như người dân Bắc Hàn, không cần dự phần tự quyết cho tương lai của mình và con cháu mình?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.