Hôm nay,  

Bé Và Giáng-sinh

28/12/200900:00:00(Xem: 6522)

Bé Và Giáng-Sinh

Hình ảnh kỷ niệm của ngày làm thiện nguyện.


Chân-Quê


Họ không biết tên của chúng tôi.  Họ gọi anh là: “Santa Clause” hoặc “Mr. Christmas Tree”, Họ gọi tôi là “Sweetheart”.   Vì năm nào gần Lễ Giáng-Sinh là chúng tôi đều khệ nệ khiêng cây thông và đồ trang-trí đến cho Họ tự thiết kế, những bữa ăn nóng hổi cuối tuần và chuẩn bị tiệc mừng Giáng-Sinh đúng ngay đêm Noel mừng sinh-nhật Chúa.
Mỗi khi Trời chuyển mùa, gió rét căm căm, mưa lạnh như trút nước xuống California.  Một tiểu bang nổi danh ấm áp của Hoa-Kỳ, vậy mà có những sáng mùa đông, vườn trước và sau nhà tôi đóng băng trắng xóa.  Những đêm nằm trong chăn ấm, nệm êm.  Tôi vẫn hoài trằn trọc không tài nào ngủ được; khi nghĩ đến thân-phận của Họ, những kẻ không nhà trôi nổi ngoài kia.  Lưu linh bao nhiêu năm tháng qua… Chúng tôi đã trở thành những người bạn thân-thiết của Họ tự lúc nào, nhưng chỉ gặp được Họ mỗi khi mùa đông trở về.  Vì Trời quá lạnh, Họ không thể ngủ ngoài đường phố, bắt buộc phải tìm đến “Trại Lính Quốc-Gia Hoa-Kỳ” này để xin tá túc qua đêm.  Năm nay, có quá nhiều người không cửa, không nhà.  Họ là ai"  Là “HOMELESS”.


Ngày 24, tháng 12, 2009.  Sau khi sinh-hoạt âm-nhạc “Christmas Carol” Thiện-Nguyện ở Trung-Tâm Điều-Dưỡng cho người Cao-Niên: “Đa-Lạc-Viên” (do anh Ngô-Văn-Quy điều-hợp).  Không kịp dùng cơm trưa tại đây.  Tôi phải vội chở cô con gái cưng đi lấy thức-ăn để chuẩn bị cho tiệc mừng sinh-nhật Chúa đêm đông.  Khi đi đường, ngang qua những khu phố vắng; cô bé hỏi tôi:  “Mẹ ơi!  Sao Homeless nhiều quá vậy"  Con thấy như Họ đang ngồi CHỜ (waiting) cái gì đó.  Nhìn tội-nghiệp quá!”  Tôi mới giải-thích cho con rằng:  “Họ như vậy đó bé à!  Không biết đi về đâu; cứ lang thang suốt ngày rồi ngồi nghỉ ở một nơi nào mà Họ không bị xua đuổi.  Đến 6giờ tối thì tìm đến “Shelter” ghi danh vào tạm trú qua đêm.  Đúng 6giờ sáng hôm sau là phải “check-out” và tiếp tục lang thang khắp các nẻo đường, tiếo tục ngồi CHỜ và CHỜ… Mẹ nghĩ rằng Họ đang CHỜ một phép màu-nhiệm để giải-thoát Họ qua cảnh túng-cùng này bé ạ!  Mẹ với bé đọc kinh cầu-nguyện cho Họ đi nhe!”  Tôi nhìn qua, thấy con bé ứa nước mắt rồi chắp tay nhìn Trời lâm râm kinh-nguyện cùng Mẹ.
Đọc kinh xong, tôi nói với bé rằng: “Mẹ chỉ mong có thế; đó là trái tim bé biết rung động trước những cảnh đói nghèo của nhân-loại, vì phải có cảm từ đáy con tim thì bé mới biết chia xẻ tình-thương qua hành-động , chân thành, thiết thực. Hãy cố gắng CHO đi không chừng mực và lãnh NHẬN không phàn nàn.  Cũng như bé hãy tin rằng CHO là NHẬN.  NHẬN vô biên, nhất là trong mùa Giáng-Sinh này.  Chúa sẽ đổ tràn Hồng-Ân lên cho bé và những trái tim con người đang nở hoa yêu thương”.
Chân-Quê.  (Giáng-Sinh 2009)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.