Hôm nay,  

Câu Chuyện Được, Thua

12/08/200900:00:00(Xem: 5734)
CÂU CHUYỆN ĐƯỢC, THUA
TRẦN PHONG VŨ
(Nhân bài viết của linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh.)
Từ trong nước, linh mục Nguyễn Ngọc Tỉnh, đã gửi cho cá nhân tôi (đồng thời, ngài cho biết cũng đã gửi cho VietCatholic) bài viết mới nhan đề: “Tam Tòa: Chuyện Nhỏ"” Trong Email hồi âm, tôi hứa với cha là sẽ giới thiệu với độc giả Diễn Đàn Giáo Dân trên số 94 phát hành tháng 9-2009.
Đọc đi đọc lại bài viết, như một phản ứng của vô thức, tôi không khỏi suy tư, trăn trở và tự thấy có trách nhiệm phải bày tỏ đôi điều. Trước hết để tạ lòng tác giả, một linh mục già thuộc dòng Thánh Phanxicô khó khăn, hiện đang sống cô đơn, tù túng trong vòng kiềm tỏa của một chế độ bất khoan dung tôn giáo, giữa những bất trắc nghi kỵ -không chỉ với bày lang sói thù nghịch Giáo hội…, vậy mà cha vẫn gạt bỏ mọi tị hiềm để can đảm lên tiếng. Thứ đến để một lần nói lên những suy tư chân thực, thẳng thắn của mình trước nỗi đau chung của Giáo hội và Quê hương, Đất nước hôm nay.
LM Nguyễn Ngọc Tỉnh đã nói gì"
Trước hết cha nói tới những phản ứng ngoạn mục của mọi thành phần Dân Chúa trong giáo phận Vinh, từ giám mục, linh mục đoàn tới cảnh tượng “nối vòng tay lớn” của 500 ngàn giáo dân thuộc 18 giáo hạt với ngót 200 giáo xứ trong giáo phận qua những buổi cầu nguyện vào những ngày cuối tháng 7, đầu tháng 8-2009. Tiếp theo là hình ảnh “người người hiệp thông” ở trong cũng như ngoài nước, sau khi Tam Tòa dậy sóng (công an nhà nước dùng bọn côn đồ hành hung giáo dân, phá bàn thờ, cướp thánh giá. Và máu giáo dân, máu linh mục đã đổ ra trên phần đất này).
Nói về một “sự im lặng đáng sợ”, linh mục tác giả viết: “Trong khi ở trong nước cũng như từ nước ngoài, các tín hữu bày tỏ tình hiệp thông với Tam Toà như vừa nói ở trên, thì ở trong nước các giám mục hoàn toàn im hơi lặng tiếng, khiến nhiều người ngạc nhiên…”
Ngược về quá khứ, cha đề cập một điều mà ngài nghĩ là may mắn cho Tam Tòa vì kể từ năm 2006 giáo xứ này được tháp nhập vào giáo phận Vinh, nếu không sẽ khó tránh khỏi số phận hẩm hiu của Thiên An, nếu còn nằm trong giáo phận Huế! Cha cũng bàn sâu vào lời tuyên bố không trọn ý của đức cha Nguyễn Văn Hòa với tư cách chủ tịch HĐGM về nội dung câu trả lời xấc xược của Nguyễn Minh Triết với giới truyền thông nước ngoài liên hệ tới vụ án bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý năm 2007. Ngài cũng nói tới phản ứng chung chung, mang tính giáo điều của đức cha Nguyễn Văn Nhơn, đương kim chủ tịch HĐGM trong văn thư gửi nhà nước về những quy kết của giới cầm quyền đối với đức TGM Ngô Quang Kiệt và hàng linh mục, tu sĩ, giáo dân TGP Hànội trong vụ tòa Khâm sứ và giáo xứ Thái Hà. Từ đấy, cha gợi nhớ tới những lời lẽ quyết liệt, đanh thép, nghiêm khắc lên án cơ chế “Xin-Cho” trong một văn kiện của HĐGMVN được công bố năm 2002.
 Đề cập những “chuyện nhỏ, chuyện lớn”, tác giả nhắc tới vụ Bôxít nổ ra trong khi các GM chuẩn bị chuyến đi “ad limina”; vụ Dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm, vụ tòa Khâm Sứ, vụ Thái Hà trước đây và trường hợp giáo dân Tam Tòa bị bách hại hiện nay… đã bị lu mờ (nếu không muốn nói là bị quên lãng) vì niềm mơ ước thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Vatican và Hànội, triển vọng Đức Thánh Cha thăm Việt Nam và việc sửa soạn mừng Năm Thánh 2010. 
Linh mục Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh nêu lên nghi vấn: “Chẳng biết có phải đây là lý do khiến các giám mục Việt Nam giữ miệng làm thinh như ta đang chứng kiến"”
Rồi người mục tử già dòng Thánh Phanxicô Khó khăn suy nghĩ tiếp:
“Hồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Va-ti-can, có người bảo: sắp có bang giao giữa Toà Thánh và Việt Nam rồi. Tôi nói với mấy người bạn: Cứ chờ đi. Hồi Hội nghị Pa-ri, phải mất 6 tháng mới thoả thuận được về hình thù của cái bàn hôi nghị, thì nay các phái đoàn của Toà Thánh cứ việc đi đi về về mòn cả dép, chưa chắc gì đã có bang giao. Điều này xem ra đúng. Mà giả như nay mai có một vị sứ thần Toà Thánh ở Hà Nội, thì ta cũng chớ vội mừng: thử hỏi tại thủ đô Hà Nội, ông đại sứ của cường quốc số 1 là Hoa Kỳ, đã làm được gì để chính quyền cộng sản Việt Nam bớt độc tài, thối nát" Còn chuyện đức giáo hoàng sang Việt Nam, thì trong hoàn cảnh bình thường, có người tín hữu nào lại không mong điều đó. Nhưng trong hoàn cảnh thực tế, có lẽ mơ điều đó chỉ là mơ chuyện hão huyền. Và giả như để có được một cuộc viếng thăm như thế, cái giá phải trả là ngậm miệng làm thinh mặc cho các nhà đấu tranh cho dân chủ cứ nối tiếp nhau vào tù, mặc cho chuyện khai thác Tây Nguyên cứ việc tiếp tục, dù chẳng lợi lộc gì về kinh tế, môi trường bị huỷ hoại, an ninh quốc phòng bị xâm phạm, nguy cơ tiếp nối “một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” là không tránh khỏi, mặc cho ngư dân ở nhà thì chết đói, mà ra biển thì bị tàu Trung Quốc tấn công, v.v… Cái giá phải trả thật là quá cao so với niềm vui được đón tiếp đức giáo hoàng. Điều ta còn phải lo âu là nếu lãnh đạo tôn giáo vì muốn yên thân lo việc đạo mà nhắm mắt làm ngơ cho bạo quyền mặc sức lộng hành, phỉ báng sự thật, bóp chết tự do, chà đạp công lý, thì liệu đạo Chúa Ki-tô trên đất nước này có còn là men trong bột, là muối cho đời nữa chăng"”
Trước khi kết thúc, cha viết:
“Là công dân Việt Nam, tôi thấm thía nỗi đau của người nông dân bị cướp đất, của ngư dân phải ở nhà nhịn đói, không dám đi ra biển, của những trí thúc muốn xây dựng đất nước, nhưng chỉ vì dám nghĩ khác đảng cộng sản mà phải vào tù. Là tín hữu Chúa Ki-tô, tôi xót xa khi thấy anh chị em đồng đạo ở Thái Hà, ở Tam Toà bị bách hại. Nhất là tôi thất vọng trước vẻ thờ ơ lạnh lùng của những bậc cha mẹ của tôi trong đời sống đức tin. Nhưng tôi an tâm vững chí khi nhớ lại lời ông Moóc-đo-khai nói với hoàng hậu Ét-te: “Đến lúc này mà con vẫn cứ ngậm miệng làm thinh thì người tín hữu sẽ nhận được sự trợ giúp và giải cứu từ một nơi khác” (Et 4,14)”.
Nghĩ về chuyện Được, Thua
Tiền nhân chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm về chuyện khôn-dại, còn-mất, sống-chết, được-thua ở đời. Luận về lẽ “dại, khôn”, một nhà thơ viết:
Khôn nghề cờ bạc là khôn-dại,
Dại chốn văn chương, ấy dại-khôn
Các Phúc âm nhất lãm đều nhắc lại câu nói mang giá trị chân lý ngàn đời của Chúa Giêsu: “Hạt lúa có thối rữa, có chết đi mới trổ sinh nhiều bông trái”. Trong lời Kinh Hòa Bình, Thánh Phanxicô Xaviê viết: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”. Và trước phút giây bước lên đoạn đầu đài, anh hùng Nguyễn Thái Học đã nói một câu để đời khi luận về giá trị đích thực của hai chữ thành-bại trong kiếp nhân sinh:
“Không thành công, nhưng cũng thành nhân”.
Ứng dụng vào cảnh ngộ Giáo hội và Quê hương Việt Nam đưới chế độ vô thần ác độc cộng sản hôm nay, chúng ta nhận ra rất nhiều chứng tá cho thấy những chỉ dấu tuồng như mâu thuẫn qua những trường hợp tưởng THUA nhưng lại ĐƯỢC, trái lại không ít những lúc tưởng ĐƯỢC nhưng lại THUA. Mà là THUA ĐẬM. Thua đến mất hết cả chì lẫn chài!

Đời sống và cung cách hành sử của đức cha Philipphê Nguyễn Kim Điền, cố TGM giáo phận Huế là một thí dụ. Trường hợp cha Tađêô Nguyễn Văn Lý hiện nay là một thí dụ khác. Đánh giá bằng sự luận đoán qua con mắt đời thường, cả đức cha Điền và linh mục Lý đều thất bại, nói cách khác, đều thua đậm. Trong hai năm 1975-1976, cố TGM Huế đã thất bại trong nỗ lực sống tinh thần hợp tác với chế độ mới bằng thành tâm, thiên chí muốn góp phần mình vào công cuộc xây dựng lại đất nước sau nhiều thập niên bị chiến tranh tàn phá. Nhưng bàn tay của ngài đưa ra đã không được đảng và nhà nước CSVN nắm lấy. Trái lại chi là những xuyên tạc, những mưu chước lọc lừa dối trá. Sau khi phát hiện bộ mặt thật của một chủ nghĩa bất khoan dung, kỳ thị tôn giáo, chống lại con người, ngài quyết liệt khước từ mọi thỏa hiệp giai đoạn . Cuối cùng ngài đã chết một cách bí ẩn, tăm tối. Nhưng giống như hạt lúa có thối rữa, có chết đi mới trổ sinh hoa trái, sự hy sinh của đức cha Nguyễn Kim Điền đã không vô ích. Thái độ sống chan hòa, ngay thẳng và cung cách hành sử trong suốt trong sứ vụ chủ chiên của ngài đã trở thành tấm gương chói sáng cho nhiều linh mục, tu sĩ và giáo dân trong tổng giáo phận Huế noi theo. Người đầu tiên mạnh dạn bước theo chân thày mình chính là linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý. Kế tiếp là nhiều vị trong linh mục đoàn Huế, trong đó nổi trội hơn hết là hai linh mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải. Trong vài năm gần đây, cùng với cha Chân Tìn, các linh mục này đã kết hợp thành “Nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền” tiếp tục dấn bước trên con đường đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho công bằng lẽ phải và cho nhân quyền, nhân phẩm Việt Nam.
Về phần linh mục Nguyễn Văn Lý, quan sát dọc dài cuộc đời của cha từ sau tháng tư năm 1975 đến nay, tuồng như lúc nào cũng chỉ là những thua thiệt, cay đắng và thất bại! Hết ra tù vào khám nhiều phen lại bị tước đoạt tự do bằng những năm dài quản thúc trong họ đạo, không được hành sử chức năng của người mục tử. Lần cuối cha bị kết án 8 năm tù trong một phiên tòa bịt miệng ngày 30-3-2007. Ngoài nỗi khổ ê chề thể xác, cha còn phải chịu đựng những dằn vặt về tinh thần: bị bôi xấu, bị bỏ rơi, bị hạ nhục, không chỉ bởi kẻ thù mà còn bới chính những bạn bè, kể cả bề trên của mình!
Bằng cái nhìn trần tục, linh mục Nguyễn Văn Lý đã thua đậm, đã thất bại nặng nề. Nhưng với nhãn quan hiểu biết và những cảm nhận sâu thẳm từ tâm linh, cha đã thành công, đã thắng lớn. Sau đức cố TGM Nguyễn kim Điền, sau cha Tađêô Nguyễn Văn Lý, dưới nhiều hình thức, cách thế khác nhau, cả một thế hệ linh mục, tu sĩ –cách riêng các linh mục, tu sỉ Dòng Chúa Cứu Thế- và hàng hàng lớp lớp tín hữu giáo dân đã đứng dậy. Đứng dậy ở tòa Khâm Sứ. Đứng dậy ở giáo xứ Thái Hà. Và hôm nay họ đang can trường đứng dậy ở Tam Tòa và 18 giáo hạt, ngót 200 giáo xứ thuộc giáo phận Vinh.
Như thế, đức cha Philipphê Nguyễn Kim Điền cố TGM giáo phận Huế tuy đã ra người thiên cố hơn hai thập niên trước, nhưng thực tế, ngài vẫn đang sống, sống lừng lẫy, sống chan hòa giữa lòng Giáo hội Việt Nam hôm nay. Và linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lý dù đang bị vây hãm trong bốn bức tường nhà tù cộng sản, nhưng ý chí bất khuất của cha, lòng ham chuộng tự do, công lý và tinh thần yêu mến Giáo hội, yêu mến Quê Hương, Dân Tộc của cha vẫn đang bay bổng, vẫn đang hiện diện một cách sống động trong lòng mọi người.
Cũng như hàng trăm ngàn tiền nhân tử đạo xưa, cố tổng giám mục Nguyễn Kim Điền và linh mục Nguyễn Văn Lý đã nhận rõ được con đường phải đi của những con người có tinh thần trách nhiệm trong đạo ngoài đời, thực tâm yêu Chúa, yêu đạo, yêu đất nước, yêu sự thật, sự lành thánh và cái đẹp trong đời sống, không hề màng tới chuyện hơn thua, thành bại theo cái nhìn vị kỷ đời thường, khi dấn thân trong vai trò ngôn sứ.
Và một cách nào đó, cung cách hành sử chức năng mục tử giữa đoàn chiên của đức cha Ngô Quang Kiệt, TGM giáo phận Hànội trong vụ tòa khâm sứ, vụ giáo xứ Thái Hà,  và của đức cha Cao Đình Thuyên, giám mục giáo phận Vinh trong biến cố Tam Tòa hiện nay, ít nhất cũng mang một giá trị biểu tượng, chứng tỏ, dù trong cô đơn, trong nghịch cảnh, vẫn có những mục tử kiên cường bất khuất, luôn trung thành với Tin Mừng của Đấng Cứu Thế.
Đôi lời tạm kết
Đọc bài viết mới của cha Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh từ trong nước gửi ra, suy nghĩ về tâm sự của ngài, bất giác người viết những dòng này không khỏi liên tưởng tới nội dung cuốn phim “Les Missions” và bản phúc trình gửi về Tòa Thánh của các giám mục địa phương sau đó. Và để thay cho lời kết, xin tóm tắt vài dòng nội dung cuốn phim bất hủ này:
Phim thuật lại quang cảnh hãi hùng man rợ khi đoàn quân viễn chinh của thực dân da trắng mở cuộc tấn công vào các bộ lạc da đỏ. Các linh mục Thừa Sai (Les Missions) đang âm thầm thi hành tác vụ truyền giáo bên cạnh các sắc dân da đỏ khi ấy có hai thái độ chọn lựa.
* Thái độ thứ nhất: đứng hẳn về phía các nạn nhân người da đỏ, sát cánh với họ trực diện chống lại những hành vi gian ác của thực dân.
* Thái độ thứ hai: khước từ bạo lực, áp dụng phương thức đấu tranh ôn hòa, bất bạo động bằng những lời cầu nguyện: nài xin Thiên Chúa hoán cải tâm hồn chai đá của kẻ ác và thêm sức mạnh cho các nạn nhân.
Nhưng cuối cùng, với thái độ dã man và với sức mạnh áp đảo của vũ khí, bọn thực dân đã hung hãn mở cuộc tấn công và tiêu diệt tất cả bao gồm nạn nhân các bộ lạc người da đỏ và các nhà truyền giáo.
Trong bản phúc trình gửi về Tòa Thánh của hàng giám mục địa phương sau đó, người ta đọc được đoạn sau đây:
‘Hàng giáo sĩ trong số các Thừa Sai đã đứng ra bênh vực người da đỏ, chống lại thực dân. Có người mạnh dạn dùng bạo lực, có người đối kháng bằng phương thức ôn hòa qua lời cầu nguyện.
Cả hai nhóm giáo sĩ đều đã chết.
Họ đã chết, nhưng dường như họ vẫn sống.
Còn chúng tôi, hàng giám mục thì vẫn còn đang sống.
Chúng tôi đang sống, nhưng dường như chúng tôi đã chết!’
Nam California, Hoa Kỳ ngày 04-8-2009
TRẦN PHONG VŨ
GHI CHÚ:
1-  Đức cha dứt khoát phủ nhận sự hiện diện của cái gọi là Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo Yêu Nước Việt Nam, nghiêm khắc cấm ngặt các linh mục, tu sĩ trong giáo phận gia nhập tổ chức này, trừng phạt những giáo sĩ tham gia Hội Đồng Nhân Dân các tỉnh thị do nhà nước lập ra. Hậu quả của thái độ cương quyết ấy là đức cha Điền đã bị công an cô lập, “mời làm việc” trong ba tháng trời ròng rã và bị cấm đoán, làm khó dễ trong suốt hơn mười năm cho đến chết ngày 08-6-1988, một cái chết mờ ám với nhiều nghi vấn. (Tìm đọc “Hai diện mạo, một tấm lòng” của TPV từ trang 605 đến trang 649 trong tuyển tập “Ba Mươi Năm CGVN Dưới Chế Độ CS 1975-2005” với nhiều tác giả do nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân và PT Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại ấn hành).

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.