Hôm nay,  

Hốt Hoảng Vì Khủng Hoảng

1/23/200800:00:00(View: 12494)

Kinh tế Mỹ khó tránh nổi nạn suy trầm vì dư luận Mỹ đã hốt hoảng...

Bóng ma suy trầm kinh tế đang ám ảnh thế giới. Trong hai ngày liên tiếp, các thị trường chứng khoán lớn nhất từ Á qua Âu về tới Mỹ châu đều cùng tuột giá, còn nghiêm trọng hơn cơn chấn động sau vụ khủng bố năm 2001 tại Hoa Kỳ. Người ta sợ suy trầm kinh tế tại Mỹ có thể lây lan khắp nơi, mặc dù Tổng thống George W. Bush vừa đề nghị kế hoạch kích cầu kinh tế lên tới 140 tỷ Mỹ kim. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ tìm hiểu về nguy cơ ấy, qua cuộc trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây…

Hỏi: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Kể từ Thứ Hai 21, trong mấy ngày đầu tuần, các thị trường chứng khoán trên thế giới đều theo nhau sụt giá, sau khi Tổng thống Mỹ đề nghị với Quốc hội một chương trình kích cầu kinh tế thị giá khoảng 140 tỷ. Lý do được nêu ra là các thị trường hoài nghi sự công hiệu của biện pháp cấp cứu của Chính quyền Hoa Kỳ và kinh tế Mỹ có thể bị suy trầm khiến thế giới bị lây hoạ. Qua đến Thứ Ba thì Ngân hàng Trung ương Mỹ đã

Vì lý do trên, chương trình chuyên đề tuần này đề nghị là chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu về nguy cơ suy trầm, về chương trình kích thích kinh tế của Hoa Kỳ và về rủi ro lây lan qua các nền kinh tế khác. Câu hỏi đầu tiên ở đây là về hiện tượng suy trầm. Đó là gì"

Suy trầm, hay "recession" nói theo Anh ngữ, là khi đà tăng trưởng sản xuất bị sút giảm, tức là có tăng trưởng mà thấp hơn. Quy ước do Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF đưa ra và nhiều nơi áp dụng chung là suy trầm xảy ra khi đà tăng trưởng sản xuất giảm sút liền trong ít nhất hai quý, là hai tam cá nguyệt hoặc sáu tháng liên tiếp. Hoa Kỳ thì lại theo một định nghĩa mơ hồ hơn, đó là "khi sản xuất giảm sút một cách đáng kể trong nhiều lãnh vực và trong nhiều tháng liền." Nặng hơn thế, khi sản xuất không tăng, dù chậm hơn trước, mà còn giảm thì người ta có nạn suy thoái. Khi suy thoái kéo dài và lan rộng qua lãnh vực khác hay thị trường khác thì người ta bị nạn khủng hoảng kinh tế.

Cứ theo định nghĩa phổ thông ấy thì ta thấy rằng suy trầm là hiện tượng đã xảy ra mà người ta chỉ biết được sau khi kiểm chứng được thống kê về sản xuất trong quá khứ. Vì vậy, ta mới gặp một nan đề là chỉ có thể dự báo với xác suất cao hay thấp của một vụ suy trầm khi nó đã manh nha xảy ra từ một hai tháng trước.

Hỏi: Trên diễn đàn này, qua các chương trình ngày 25 tháng Chín, rồi 14 và 24 tháng 12 vừa qua, ông đã có nói tới rủi ro suy trầm ấy, và cứ theo tình hình thị trường trong mấy ngày vừa qua thì có lẽ nạn suy trầm đã xảy ra, hoặc có khả năng xảy ra với xác suất cao"

Tôi xin giải thích đôi chút, rằng người ta có nghiệm thấy từ lịch sử kinh tế thị trường là sau một giai đoạn tăng trưởng bình quân là sáu năm thì sinh hoạt kinh tế có thể đình đọng hay suy trầm và gọi đó chu kỳ kinh doanh bình. Từ hơn nửa thế kỷ nay, nạn suy trầm như vậy tại Hoa Kỳ thường kéo dài trung bình chừng 10 tháng. Lần trước, kinh tế Mỹ bị suy trầm là từ tháng Ba đến tháng 11 năm 2001, sau khi đã bị vụ khủng bố 9-11. Từ giai đoạn ấy tới nay, Hoa Kỳ lại lâm chiến, dầu thô lại tăng giá gấp ba, đồng đô la sụt giá phân nửa so với các ngoại tệ mạnh khác, và từ đầu năm ngoái còn bị khủng hoảng tín dụng vì loại tín dụng thứ cấp hay sub-prime trên thị trường địa ốc. Cho nên, nếu suy trầm có xảy ra tại Mỹ thì chẳng nên ngạc nhiên. Ăn thua là nặng hay nhẹ và dài hay ngắn mà thôi.

Hỏi: Nếu nhiều người đã có thể đoán trước là suy trầm có thể xảy ra theo chu kỳ như vậy thì vì sao giới hữu trách lại không ngăn trước được"

Đây là câu hỏi rất lý thú vì cho thấy nhiều khía cạnh phức tạp của kinh tế thị trường.

Thứ nhất, kinh tế học hay cả kinh toán học cũng không là khoa học chính xác và mọi dự đoán đều có thể sai, chỉ có các nhà nước tập trung quản lý kinh tế mới tưởng rằng mình biết hết và có thể ứng phó được hết mọi chuyện. Đã thế, sau khi đã thu thập thống kê kinh tế của tháng trước, người ta còn phải duyệt lại và điều chỉnh thì mới có một mô tả tạm chính xác về quá khứ hầu dự báo tương lai, với ý thức là dự báo ấy vẫn có thể sai.

Thứ ba, quan trọng nhất, kinh tế xuất phát từ tâm lý của con người, từ giới tiêu thụ đến nhà sản xuất. Nếu chỉ dự đoán là kinh tế có thể bị suy trầm mà tung biện pháp chặn trước thì người ta có thể gây hốt hoảng cho thị trường, là điều có thể đang xảy ra, hoặc còn gây tác dụng ngược, là thổi bùng nạn lạm phát, vốn cũng là một mối lo đáng kể tại Mỹ.

Thứ tư, một số người còn quan niệm rằng thị trường có sự thăng giáng tự nhiên và cần thiết của chu kỳ kinh doanh. Nếu mình chủ quan duy ý chí can thiệp vào thị trường thì có khi còn gây họa nặng hơn. Một thí dụ nổi tiếng là sau vụ sụt giá cổ phiếu tại Mỹ năm 1929, chính là các biện pháp can thiệp của Chính quyền Hoa Kỳ mới gây ra khủng hoảng rồi tổng khủng hoảng từ 1929 đến 1933, một nguyên nhân xa của Thế chiến II. Cho nên, dù dự báo với mức độ chính xác nào đó chỉ có thể kiểm chứng về sau, người ta cũng cần thận trọng trong biện pháp đối phó để không gây tác dụng phụ hay tác dụng ngược!

Hỏi: Bây giờ ta bước qua phần hai, chương trình kích thích kinh tế mà Tổng thống Bush đã đề nghị hôm Thứ Sáu 18 vừa qua. Vì sao các thị trường thế giới lại có vẻ hoài nghi với kết quả của chương trình ấy nên cổ phiếu mới sụt giá đồng loạt vào ngày Thứ Hai và đến Thứ Ba thì Ngân hàng Trung ương Mỹ lại đột ngột cắt lãi suất rất mạnh"

Thông thường, khi kinh tế suy trầm vì sản xuất sút giảm, người ta có biện pháp tiền tệ là hạ lãi suất cho tiền rẻ hơn, lưu hành nhiều hơn để kích thích tiêu thụ và nâng đà sản xuất. Đây là biện pháp có hiệu quả sớm nhất. Kế đó là biện pháp thuế vụ là bơm thêm tiền vào kinh tế cũng để kích thích tiêu thụ, qua các mục tăng chi có hiệu quả nhanh hay chậm tùy loại. Thứ ba là loại biện pháp về cơ chế là giải toả ách tắc để nâng đỡ đầu tư và sản xuất, với hiệu quả còn chậm hơn nữa, có khi vài năm sau mới thấy.

Từ tháng Tám năm ngoái, Ngân hàng Trung ương Mỹ đã ba lần hạ lãi suất ngắn hạn, tổng cộng 100 điểm, tức là 1%, để giảm bớt mối nguy ách tắc tín dụng sau vụ khủng hoảng thị trường sub-prime. Ngày hôm qua họ bất ngờ hạ thêm 75 điểm ở ngoài phiên định kỳ dự trù vào ngày 30 tới và đến ngày đó có khi còn hạ thêm 25 điểm nữa. Đó là về biện pháp tiền tệ mà trong chương trình phát thanh hồi tháng Chín chúng ta đã nói tới. Với lãi suất liên ngân hàng hiện là 3,50% thì Mỹ còn có thể hạ lãi suất được nhiều, khác với Ngân hàng Trung ương Nhật nay có lãi suất là 0,50% - miễn là biện pháp nới lỏng tiền tệ không thổi bùng lạm phát vì bơm quá nhiều tiền vào kinh tế.

Hỏi: Thế chương trình của Tổng thống Bush thuộc về lãnh vực thuế vụ phải không"

Ngân hàng Trung ương Mỹ là định chế độc lập, có quyền quyết định về chính sách tiền tệ và tín dụng, và chỉ báo cáo định kỳ cho Quốc hội chứ không do Hành pháp hay Lập pháp chỉ huy chính là vì e ngại chính trị chi phối chuyện tiền bạc của dân chúng. Còn lại, Tổng thống có thể đề nghị loại biện pháp thuế vụ hoặc giải toả cơ chế, với sự đồng ý phê chuẩn của Quốc hội.

Tuần qua, sau khi tham khảo ý kiến của lãnh đạo Quốc hội, Tổng thống Bush đề nghị một chương trình kích cầu gồm có bốn điểm chính là 1) nhất thời trả lại một số tiền thuế cho dân có thêm tiền chi tiêu, 2) nhất thời mở rộng việc trợ cấp thất nghiệp, 3) gia tăng thành phần được trợ cấp lương thực, và 4) là nâng mức khấu hao hay chiết cựu cho doanh nghiệp có thêm hiện kim tiền mặt trong việc đầu tư và sản xuất. Kết quả còn do Quốc hội quyết định và có thể là một khoản tiền chừng 140 tỷ Mỹ kim bơm vào nền kinh tế.

Hỏi: Một khoản tiền như vậy là chưa đủ hay sao mà các thị trường tài chính lại thất vọng và tuột giá liên tiếp"

Tổng sản lượng GDP của Mỹ trong năm qua được ước lượng là gần 14.000 tỷ đô la, chính xác là 13.700 tỷ, khoản tiền kích cầu này trị giá 140 tỷ bằng 1% của GDP thì không phải là nhỏ như dư luận nói. Nhưng vì nó không là liều thuốc đúng bệnh đúng thời nên mới gây thất vọng.

Hỏi: Ông có thể giải thích điều ấy được rõ hơn hay không, thế nào là đúng thời, đúng bệnh"

Thứ nhất là về tính chấp kịp thời, thì biện pháp này có khi được áp dụng quá trễ.


Khi kinh tế Mỹ bị suy trầm năm 2001, cũng chính Tổng thống Bush đã đề nghị trả thuế lại cho mỗi người vài trăm mà Quốc hội mất năm tháng mới ban hành thành luật và khi chi phiếu in ra gửi tới từng nhà vào tháng Chín năm đó thì kinh tế bắt đầu ra khỏi suy trầm, và tác dụng của biện pháp ấy chỉ lan toả một năm sau. Năm nay, dù Quốc hội có cấp tốc duyệt xét và đồng ý với đề nghị của Tổng thống thì cũng còn mất nhiều tuần, vì nhiều vị đại diện dân cử còn lo đi tranh cử. Và đúng lúc này, nhân viên cơ quan thuế vụ liên bang IRS và bộ Ngân khố lại đang ở giữa mùa khai thuế nên sớm lắm việc cấp phát chi phiếu giảm thuế cũng chỉ hoàn thành vào tháng Sáu. Tức là có thể quá trễ, và chắc chắn là chậm công hiệu hơn biện pháp hạ lãi suất.

Hỏi: Theo như ông trình bày thì liều thuốc này có khi lại còn không đúng bệnh"

Tôi thiển nghĩ rằng đó chỉ là liều thuốc gây mê trong mùa tranh cử thôi. Nếu vấn đề quả là sự suy sụp của thị trường gia cư và vụ bể bóng tín dụng thứ cấp sub-prime thì vì sao Chính quyền, là Hành pháp và Quốc hội, không giải quyết thẳng vào vấn đề ấy mà lại trả thuế cho dân trong có một lần" Lý do là biện pháp hời hợt ấy có hy vọng được Quốc hội chấp thuận mau lẹ vì cuộc tranh cử vào tháng 11 này, vì vậy mới có vẻ mị dân.

Thuần về kinh tế, khi kinh tế sa sút, một hộ gia đình có hai vợ chồng khai thuế lợi tức mà được trả lại chừng 1.200 đồng thì họ sẽ không xài ngay hay xài hết, mà cố để dành hầu có thể ứng phó với những khó khăn trước mắt. Vì vậy, tác dụng kích cầu có thể công hiệu chậm và nhất là rất ít. Thứ hai, khi mở rộng trợ cấp thất nghiệp thì người lãnh tiền trợ cấp lâu hơn lại càng thấy dễ thở hơn nên… chậm đi kiếm việc hơn. Chồng mà có thêm trợ cấp thất nghiệp thì vợ có thể đi làm ít giờ hơn, là điều các nhà nghiên cứu kinh tế đều thấy ra mà giới chính trị lại ít dám nói tới vì sợ mất lòng cử tri trong một mùa tranh cử.

Hỏi: Chúng ta bước qua câu hỏi cuối. Nếu kinh tế Mỹ bị suy trầm thì kinh tế các nước sẽ bị ảnh hưởng như thế nào"

Kinh tế Mỹ khó tránh nổi nạn suy trầm vì dư luận Mỹ đã hốt hoảng do hàng loại tin xấu được loan truyền làm lượng hàng bán lẻ sa sút nặng trong tháng 12 và sẽ còn sa sút trong tháng Giêng này. Mà tiêu thụ lại chiếm gần 70% tổng sản lượng Mỹ, khi dân Mỹ bi quan và bớt chi tiêu thì suy trầm càng dễ xảy ra. Khi suy trầm xảy ra, tiêu thụ tại Mỹ sẽ giảm, nhập khẩu vào Mỹ cũng giảm theo. Kinh tế càng sống nhờ vào thị trường Hoa Kỳ thì càng bị ảnh hưởng nặng. Mặc dù chỉ sản xuất ra hơn 27% tổng sản lượng của thế giới, kinh tế Hoa Kỳ ảnh hưởng tới 60% vào đà tăng trưởng của kinh tế thế giới, nên suy trầm tại Mỹ dễ kéo theo suy trầm của các nước khác. Bây giờ là sự vận hành của quy luật hốt hoảng, là trường hợp đáng lo, chứ về thực chất thì nếu kinh tế Mỹ có suy trầm thì chỉ bị nhẹ và sẽ không kéo dài.

Người ta cứ tưởng rằng Đông Á hay các nền kinh tế mới nổi nay đã có thể tách rời khỏi nhịp độ tăng trưởng tại Hoa Kỳ. Sự thật lại chưa lạc quan như vậy, điển hình là Trung Quốc Ngân hàng BoC, một đại gia của Trung Quốc, đang chuẩn bị kết số bị lỗ gần tám tỷ Mỹ kim trong vụ sub-prime tại Mỹ, và đây không phải là ngân hàng duy nhất của xứ này đã mất tiền tại Mỹ. Nhiều nước Á châu đang bị lạm phát mạnh có khi còn bị suy trầm vào cuối năm nay, là một giả thuyết không mấy lạc quan cho Việt Nam. Khi đó, trái bóng nào cũng bể và tiền lại chảy ngược về Mỹ. Chúng ta sẽ còn cơ hội trở lại chuyện này nay mai.

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.