Hôm nay,  

Tổng Thống Chống Mỹ

9/13/201000:00:00(View: 16042)

Tổng Thống Chống Mỹ

Nguyễn Xuân Nghĩa

Đảng Dân Chủ sẽ đại bại - Và còn đại bại với Obama...
Nếu có một lời khuyên cho phe Dân Chủ thì mùng hai Tháng 11 này, họ nên... ở nhà. Thà là ngồi nhà vùng vằng tủi thân còn hơn là đi bầu mà vẫn đại bại.
Nhưng đây là một lời khuyên... thừa.
Bề nào, tỷ lệ dự tính đi bầu của các cử tri xưng danh Dân Chủ năm nay giảm nặng so với các kỳ bầu cử trước. Mọi cuộc thăm dò ý kiến đều nói như vậy.
Thông thường, trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ tổng thống, đảng của tổng thống thường mất phiếu vì cứ bị coi như chịu trách nhiệm về mọi sự phật ý lớn nhỏ của dân chúng. Lần này, người ta không chỉ có sự phật ý mà là bất mãn. Và bất mãn lan rộng vào các thành phần ôn hòa, độc lập và cả những người trước đây đã bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ và ông Obama. Nguyên do của sự phật ý là tình hình kinh tế chưa khả quan, thất nghiệp vẫn quá cao trong khi bội cho ngân sách  và quốc trái thì vọt lên trời.
Nhưng, đảng Dân Chủ không chỉ bị thất cử - từ các đơn vị xôi đậu tới cả các quận hạt lâu nay là thành trì của đảng - vì vấn đề kinh tế. Còn bảy tuần đến ngày bầu cử, không ứng cử viên nào dám nhắc đến kế hoạch kích thích kinh tế nữa vì sợ bị mắng! Ngoài chuyện kinh tế, đảng Dân Chủ còn bị trừng phạt vì đã chiếm đa số tuyệt đối trong hai kỳ bầu cử 2006 và 2008, rồi chứng tỏ khả năng kiêu mạn và thủ đoạn cao độ.
Vì vậy, Quốc hội trong tay Dân Chủ mất tín nhiệm nặng, chỉ còn tỷ lệ tin tưởng khoảng 20%.
Chuyện bao che các dân biểu tham ô đã bị Quốc hội điều tra, đàn hặc và truy tố mà vẫn giữ được ghế ngồi chỉ là một phần. Cách giải quyết vấn đề quốc kế dân sinh rất tệ mới là phần chính. Quốc hội đã nhân vụ suy trầm kinh tế quyết định tăng chỉ không phải vài chục vài trăm tỷ mà cả ngàn tỷ, trong các đạo luật dầy ngàn trang. Nhồi bên trong là nhiều khoản chi béo bở cho địa phương mình. Quốc hội ấy không chỉ tăng chi mà còn mở rộng tầm kiểm soát lên rất nhiều lãnh vực sinh hoạt của dân chúng.
Một số ứng cử viên Dân Chủ đã thấy sợ, rồi phản ứng bậy vì suy đoán sai.
Họ suy đoán là đã gây bất mãn vì ủng hộ đường lối chánh sách của Tổng thống Barack Oabama. Vì vậy, nhiều người sợ bị nhiễm phóng xạ Obama bèn tránh xuất hiện bên cạnh Tổng thống khi Obama tới tận nơi vận động tranh cử cho họ. Nhiều người khác thì cố chứng minh rằng họ cũng đã có lúc bỏ phiếu chống lại một số đề nghị của Obama!
Phản ứng này sai vì tự thân họ đáng bị thất cử chứ không chỉ vì sát cánh với một ông tổng thống cực tả. Chính là việc Lưỡng viện Quốc hội thuộc hai khoá 110 và 111 đã thông qua hàng loạt đạo luật quy mô, vĩ đại và tốn kém, bằng thủ thuật chính trị - kể cả lấy công quỹ chi cho các địa phương để mua phiếu của giới dân cử - mới làm công chúng khó chịu.
Đâm ra, thay vì cải sửa lề thói chính trị xấu xa của đảng Cộng Hoà như hứa hẹn trước đó, đảng Dân Chủ đã đưa lề thói này lên một đỉnh cao hơn.
Tuần qua, khi lại phát động tranh cử (nữa), Obama cũng không làm khác các dân biểu nghị sĩ kia, là trình bày sự thể đen tối ngày nay như là di sản của vị tiền nhiệm và lỗi của phe Cộng Hoà. Lý luận này coi thường cử tri - vốn cũng nên coi thường vì quả thật nhiều cử tri không hiểu gì cả. Xin mở ngoặc đơn với vài lời giải thích về chuyện đó để khỏi mang tiếng thiên vị.
Một vị tổng thống, dù là Mỹ, cũng chẳng thể gây ra nạn suy trầm kinh tế. Nó là hiện tượng chu kỳ kinh doanh thường xảy ra sáu bảy năm một lần, mỗi lần trên dưới một năm. Mà tổng thống cũng không gây ra bội chi ngân sách. Chỉ vì thẩm quyền chi thu ngân sách thuộc về Quốc hội, chủ yếu tại Hạ viện là nơi xuất phát các đề nghị công chi trong dự luật tài chánh. Tổng thống chỉ có khả năng tiêu cực là dùng quyền phủ quyết, nếu vượt nổi hàng rào rất cao là hai phần ba số phiếu.
Nếu nhớ lại thì Tổng thống Bill Clinton lãnh di sản của hai vị tiền nhiệm khi Chiến tranh lạnh kết thúc nên có thể giảm chi quốc phòng - và hưởng "cổ tức hoà bình". Nhưng sau khi đắc cử, chủ trương thiên tả của ông lại giúp đảng Cộng Hoà chiếm lại Hạ viện năm 1994, lần đầu tiên từ 40 năm. Chính là Quốc hội đó đã triệt để giữ kỷ luật công chi nên mới đạt thặng dư ngân sách, lần đầu tiên từ 25 năm.
Qua thời George W. Bush, Hoa Kỳ bị vụ suy trầm 2001 - xảy ra từ nạn bể bóng đầu tư thời Clinton - rồi khủng bố 9-11 và lâm chiến, trong khi Quốc hội đã lại đổi chủ từ năm 2006. Trách nhiệm rất lớn của Bush là không dám phủ quyết các dự luật ngân sách với công chi quá mạnh của Quốc hội Dân Chủ. Nhưng ông có liêm sỉ là không đổ lỗi cho người tiền nhiệm về nạn suy trầm kinh tế 2001, vụ khủng bố 9-11 hay vụ khủng hoảng của các tổ hợp bất lương như Enron vào cuối năm 2001.
Thí dụ thứ hai là vụ khủng hoảng tài chánh.
Việc giải toả kiểm soát nghiệp vụ tài chánh là quyết định của Chính quyền Clinton năm 1999. Việc dung dưỡng thói tật kinh doanh nguy hại của hai doanh nghiệp bán công là Fannie Mae và Freddie Mac là của đảng Dân Chủ - chống lại đề nghị cải cách của Bush năm 2004. Ông Bush có lỗi là không đẩy mạnh hơn việc cải tổ ấy và đảng Cộng Hoà sai lầm là không cảnh báo về nguy cơ khủng hoảng này, dù trước đó, từ năm 2003, Thống đốc Ngân hàng Trung ương là Alan Greenspan cũng đã báo động. Từ nhiều năm trước, cột báo này cũng đã đề cập tới chuyện ấy, trước khi thiên hạ biết Obama là ai.
Nhưng không phải ngẫu nhiên mà hai cơ sở đáng phá sản này lại chi tiền rất bộn cho các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ. Thật ra, hai ổ tham nhũng ấy cũng chỉ làm như các đại gia Wall Street, là tung tiền mua chuộc các chính khách, mà đa số là Dân Chủ - kể cả Nghị sĩ Barack Obama.
Đảng Cộng Hoà đáng thất cử năm 2006 vì không tôn trọng kỷ luật ngân sách như đã cam kết và cũng sinh bệnh kiêu mạn, làm ẩu, gây quá nhiều tai tiếng. Nhưng mọi chuyện ngày nay không thể do đảng này chủ động gây ra. Ông Bush cũng vậy, không thể bị chửi vì tội tiêu xài vô trách nhiệm của đảng Dân Chủ trong Quốc hội từ đầu năm 2007 tới nay.
Vì vậy, Obama nói gì thì nói, đảng Dân Chủ đang làm dân Mỹ nhìn lại đảng Cộng Hoà với nhiều... tin tưởng hơn. Nhiều người Mỹ gặp sự thất vọng của kẻ mua hớ - buying remorse - và sẽ có phản ứng, cho dù truyền thông báo chí trong dòng chính vẫn thiên về đảng Dân Chủ và tường trình chưa đầy đủ về sự thất vọng này.
Về thống kê thì thành phần xưng danh Cộng Hoà thường ít hơn đảng Dân Chủ. Vậy mà trong kỳ bầu cử tới, nội cái danh hiệu Cộng Hoà cũng dẫn trước Dân Chủ 10 điểm, là điều chưa từng thấy bao giờ. Làm gì với niềm tin ấy của dân chúng là chuyện của đảng Cộng Hòa, và không thuộc phạm vi bài viết.
Phạm vi bài viết là về Barack Obama.
Ông ta còn tỷ lệ ủng hộ rất thấp - sự kiện hiếm hoi của một tổng thống chưa hoàn tất phân nửa nhiệm kỳ đầu. Hoá ra vọt lên như sao băng và rớt xuống cũng nhanh không kém. Nhưng dù sao, mức ủng hộ 44-46% này vẫn còn gấp đôi tỷ lệ tin tưởng của dân Mỹ vào Quốc hội trong tay Dân Chủ! Vì vậy, đảng Dân Chủ đừng trách Obama mà nên nhìn lại cái tội chủ quan duy ý chí của mình.
Bây giờ mới nói về Barack Obama.


Khi ông tranh cử cùng Nghị sĩ Hillary Clinton trong vòng sơ bộ của đảng Dân Chủ, người viết đã gọi ông là "Cậu bé quàng khăn đỏ". "Cậu bé" vì Obama có kinh nghiệm rất mỏng chứ không vì tuổi tác. Năm 1992, ông Bill Clinton đắc cử tổng thống ở tuổi rất trẻ là 46 - trẻ thứ ba trong các tổng thống Mỹ - nhưng sau khi đã làm thống đốc từ năm 1978, và lần lượt thắng bốn ứng viên Cộng Hoà để tái đắc cử. Obama không có kinh nghiệm ấy.
Obama được đảng Dân Chủ thổi lên như pháo bông năm 2004 và vừa lên làm Nghị sĩ Liên bang có  bảy tháng thì đã lo tranh cử tổng thống sau một quá trình gọi là xây dựng cộng đồng và nghị sĩ tiểu bang. Những hoạt động ấy rất đáng ngợi khen nhưng từ đó mà đi tranh cử Tổng thống thì vấn đề kinh nghiệm về điều hành phải được đặt ra.
Và bảo rằng "quàng khăn đỏ" vì ông có chủ trương cực tả - không chỉ thiên tả như Bill Clinton.
Với người viết, màu da của Obama không là vấn đề. Ai không đồng ý với chủ trương cực tả này cũng chẳng thể có tội kỳ thị da màu như nhiều người vẫn nhập nhằng xuyên tạc. Thật ra, nếu Đại tướng Colin Powell không lạnh cẳng rút lui thì ông đã là ứng viên da đen đầy hy vọng của đảng Cộng Hoà trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1996 - chứ không đến lượt Nghị sĩ Bob Dole.
Bây giờ nhìn lại sau 19 tháng cầm quyền của Obama thì cách đánh giá như vậy coi bộ không đúng.
Vì còn quá nhẹ.
Obama là người thông minh, có tài hùng biện. Nhưng, yếu tố thắng lợi ban đầu là ông được phe cực tả trong đảng Dân Chủ bốc qua đầu Hillary Clinton vào tháng Sáu năm 2008 để thành ứng cử viên của đảng. Ta không nên quên vòng sơ bộ khét lẹt ấy và vai trò của Ted Kennedy cùng cánh tả của đảng Dân Chủ đã muốn trừng phạt Hillary về tội trung dung của Bill.
Ban tham mưu tranh cử của Obama cũng thuộc loại xuất sắc - hơn hẳn đối thủ là Nghị sĩ John McCain - và biết chụp lấy thời cơ là vụ khủng hoảng tài chánh bùng nổ hôm 15 Tháng Chín năm 2008. Sự ngờ nghệch của McCain trong mấy tuần hoảng hốt sau đó làm nốt phần vụ còn lại: thổi lên kỳ vọng lớn vào Obama giữa cơn khủng hoảng tâm lý của nước Mỹ.
Rồi dẫn tới "Hội chứng Obamê" - "Obamaniac" - hiện tượng tâm thần khiến thiên hạ tung hô mà khỏi xét vào lý lịch hay nội dung chương trình hành động. Tờ Newsweek còn sánh Obama với Thượng đế!
Điều đáng nói là sau khi nhậm chức, Obama quả nhiên tiến hành việc "cải tạo xã hội" - theo nghĩa của Hà Nội sau 1975 - trong tinh thần cực tả, bao cấp và tin tưởng vào khả năng "phổ độ" của Chính quyền. Từ đó, chính quyền và bộ máy nhà nước mở rộng sự can thiệp vào rất nhiều lãnh vực, kinh tế, kinh doanh, ngân hàng, y tế, môi sinh, v.v... Nạn suy trầm sản xuất và thất nghiệp cao không là ưu tiên.
Nhưng, trong khi bành trướng chế độ bao cấp này ở bên trong nước Mỹ, Obama cũng lại là "Người vái tứ phương" ở bên ngoài. Một nghịch lý lý thú mà ít ai chịu chú ý.
Nhìn lại thì ông đã cố gắng hoà giải với các chế độ hung đồ công khai coi Mỹ là kẻ thù - gần nhất và hề nhất là Venezuela. Lại như muốn xin lỗi cả thế giới Hồi giáo qua các bài diễn văn tại Cairo của Egypt và Ankara của Turkey (loại thí dụ này nhiều lắm, xin khỏi kể hết ở đây). Ông ra tối hậu thư cho Iran rồi lùi, đấu dịu với Liên bang Nga - chuyện "reset the button" của danh hài thủ vai Phó Tổng thống Joe Biden - và hai lần đỡ đòn cho Trung Quốc về tỷ giá đồng Nhân dân tệ - chống lại áp lực của Quốc hội Dân Chủ, v.v...
Nếu Hoa Kỳ còn chứng tỏ một chút gân cốt về đối ngoại thì đấy là nhờ Ngoại trưởng Hillary Clinton, nhân vật khéo léo tránh xa những tai tiếng về đối nội của Chính quyền Obama.
Mà không chỉ vuốt ve các đối thủ, Obama xẵng giọng với các đồng minh truyền thống của Mỹ. Ngẫu nhiên sao lại là các nước tư bản Tây phương, dẫn đầu là nước Đức. Có cái gì đó không ổn...
Bây giờ nhìn lại thì có lẽ người ta đã hiểu sai hoặc đánh giá sai Barack Obama. Ngày nay, hơn phân nửa dân Mỹ (55%) tin rằng Obama là người theo chủ nghĩa xã hội, với Hoa Kỳ thì đây là lời kết án rất nặng. Nhưng, chuyện quàng khăn đỏ như vậy không sai, mà... vẫn chưa đúng.
Obama không chỉ là kẻ viễn mơ còn tin vào giải pháp hoang tưởng đã phá sản của Marx và các nước xã hội chủ nghĩa. Tổng thống Mỹ không chỉ là người quàng khăn đỏ. Chủ nghĩa xã hội hay vai trò bao cấp của nhà nước chỉ là phương tiện cho một cái gì khác...
Cái đó là cái gì"
Thiếu thời, Barack Hussein Obama Junior (hay Obama II) sống ngoài nước Mỹ lục địa tổng cộng 17 năm. Thời gian đó gồm có giai đoạn ở Hawaii và được một nhà thơ da đen đảng viên Cộng sản dìu dắt, hoặc phiêu dạt ở Indonesia, Pakistan và ghé thăm lục địa Phi Châu nhiều lần. Từ bên ngoài, ông nhìn vào Hoa Kỳ với giác độ khác với dân Mỹ, trắng đen, tư sản hay lao động, ngoan đạo hay phóng túng, bảo thủ hay cấp tiến, lý tưởng hay lý tài...
Ông nhìn nước Mỹ với con mắt của "Thế giới thứ ba", các quốc gia nạn nhân chế độ thuộc địa Tây phương. Trong Đệ tam Thế giới đó, có quê hương của người cha, Barack Hussein Obama Senior (hay Obama I), một nhân vật thuộc bộ tộc Luo tại Kenya, đa thê, nghiện ngập, mắc bệnh tâm thần và thù ghét trật tự Tây phương đến xương tủy.
Thần tượng của người cha không chỉ có Karl Marx và tuyên ngôn giải phóng mà còn có những người như lãnh tụ Kwame Mkrumah của xứ Ghana hay Frantz Fanon, tác giả của "Les Damnés de la Terre" - Những kẻ khốn khổ trên ruộng đất - cuốn sách không phải viết về chuyện cải cách ruộng đất mà về chủ nghĩa thực dân, với lời tựa nổi tiếng của Jean Paul Sartre.
Với nhiều nhà tư tưởng của chủ nghĩa Đệ tam Thế giới, cách mạng chống bọn thực dân da trắng là sứ mệnh thiêng liêng vì chế độ thuộc địa ấy chưa cáo chung, và chủ nghĩa "thực dân mới" vẫn là hiện thực. Nó thoát xác thành chủ nghĩa đế quốc, với những âm mưu mờ ám của tài phiệt, doanh gia, thị trường, v.v... Nó làm ung thối ngay các nước thực dân đế quốc.
Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, trí thức thiên tả Âu Châu và Á Phi đã từng lý luận như vậy mà đa số dân Mỹ không biết và có lẽ cũng chẳng cần biết.
Ngày nay, chủ nghĩa đế quốc hay thực dân mới ấy đang kết tinh vào Hoa Kỳ.
Siêu cường toàn cầu này đang khống chế cả thế giới về kinh tế lẫn ngoại giao và quân sự nhưng bên trong đã bị ung thối, bị "tha hoá" - chữ của cánh tả để nói về khái niệm "vong thân" của Marx. Vì vậy, muốn hoàn thành sứ mạng giải phóng nhân loại thì trước tiên phải giải trừ cái căn tính "thực dân mới" ngay trong lòng xã hội Mỹ, một quốc gia thật ra chẳng có gì đáng là siêu hạng cả. Đó là giấc mơ của Obama I nay được Obama II thực hiện.
Cho nên ta đừng ngạc nhiên khi Tổng thống Obama phủ nhận cả đặc tính - hay đức tính - "exceptionalism" của Hoa Kỳ mà dân Mỹ tin là đương nhiên.
Cuốn hồi ký của Obama II có thổ lộ ảnh hưởng của Obama I ngay trên bìa, ở tựa đề mà thiên hạ không thèm hiểu. Đó là "Những giấc mơ từ cha tôi" - chứ không phải "Những giấc mơ của cha tôi". Obama là cánh tay nối dài thực hiện các giấc mơ đó từ người cha. Không phải giấc mơ của Mục sư Martin Luther King như nhiều người đã cả tin hiểu lầm.
Thành thử, chuyện "cải tạo xã hội" của cậu bé quàng khăn đỏ nhắm vào mục tiêu cao hơn là củng cố một nhà nước bao cấp. Đó là lột xác Hoa Kỳ. Từ trên đầu xuống. Hãy thử kiểm nghiệm lại mà xem...
Nhìn như vậy thì việc đảng Dân Chủ có thất cử năm nay chỉ là chuyện nhỏ!

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.