Hôm nay,  

Nghe Tiếng Chuông Ngân

7/20/200800:00:00(View: 8266)

Hơn một tháng qua, kể từ khi bắt đầu vận động đúc một đại hồng chung cho ngôi chùa ở thôn quê-dù rằng cho đến giây phút ngồi đây, viết những giòng chữ này, quả chuông vẫn chưa khởi sự đúc-tôi đã nghe được tiếng chuông của ngôi chùa ấy ngân lên mỗi sáng chiều rồi.

Trong bài kệ nghe chuông mà các chùa thường đọc, và thường được khắc lên đại hồng chung, có mấy câu này:

"Nghe tiếng chuông, phiền não nhẹ

Trí huệ lớn, bồ-đề sanh

Lìa địa ngục, thoát hầm lửa

Nguyện thành Phật, độ chúng sanh."

Chỉ cần lắng nghe tiếng chuông không thôi, cũng thấy phiền não vơi nhẹ trong lòng. Phiền não vơi thì trí tuệ mới có cơ hội phát sáng, mà tâm bồ-đề cũng nhờ đó mà phát sanh. Những khổ đau, ách nạn, chướng duyên phải đối diện trong đời chính là địa ngục, là hầm lửa, đốt lên bao nhiêu phiền muộn, lo âu, sầu não. Chúng ta chỉ có thể vượt thoát được các phiền muộn khổ đau ấy khi tâm bồ-đề khởi sanh và trí tuệ tăng trưởng; hoặc có thể nói ngược lại, khi tâm bồ đề khởi sanh và trí tuệ phá chấp tăng trưởng, thì các phiền não tự động tiêu tan. Tiếng chuông là nhân duyên xúc tác để làm khởi sinh tâm bồ đề, tiêu trừ các phiền não.

Vì vậy, ngay từ ngày đầu tiên bắt đầu ghi danh sách những người ủng hộ đúc chuông chùa Thanh Trì, tôi đã cảm nhận sâu sắc tâm bồ đề của mọi người, như những đóa hoa sen, từ khắp nơi rộ nở, và mỗi đóa hoa ấy đã phát ra một tiếng chuông ngân dài. Đó là tiếng của bồ-đề tâm. Như vậy, có thể nói rằng chuông chưa đúc mà đã nghe tiếng ngân.

Từ mấy năm trước, Sư cô trụ trì đã cầu nguyện cho nhân duyên đúc đại hồng chung cho chùa Thanh Trì được thành tựu. Đến khi khởi sự ghi danh, từ người đầu tiên, Sư cô và ni chúng đã làm lễ cầu an, chú nguyện, hồi hướng công đức cho người phát tâm vào mỗi thời kinh của chùa, và vẫn liên tục cầu nguyện cho phật sự đúc chuông được thuận lợi, viên mãn.

Dù vậy, theo Sư cô cho biết, vẫn còn lo ngại không biết sự ủng hộ của mọi người trong tình hình kinh tế khó khăn của toàn cầu-mà ngay cả ở vùng xa xôi của đất nước cũng cảm nhận được qua giá gạo tăng vọt, liệu có đủ tài chánh để đúc chuông hay không. Tôi trấn an Sư cô và hứa nếu sự đóng góp qua giới thiệu của báo và trang lưới điện toán không đủ, chính tôi sẽ mang sổ công đức để làm kẻ "hành khất" đến gõ cửa các bằng hữu, hoặc một số chùa quen biết tại hải ngoại, cho đến khi nào đủ tịnh tài đúc chuông.

Một tuần, hai tuần, vẫn chưa đủ số tiền. Nhưng theo góp ý của một số tăng ni và phật tử, không nên chờ đến khi đủ tiền rồi mới đặt cọc đúc chuông mà phải đặt cọc sớm để có được thời giá hiện tại; nếu đợi đủ tiền mới đặt cọc thì có thể lúc đó giá tiền đúc chuông lại tăng cao thêm. Do vậy, Sư cô đã sớm ra Huế, với sự hướng dẫn của một vị hòa thượng tôn túc, đã đến lò đúc chuông để chính thức đặt cọc một phần ba số tiền đúc quả chuông nặng năm tạ, vào ngày 26/6/2008. Ngày đó, tiền quyên góp chưa được một nửa mà đã quyết định đặt cọc, chứng tỏ ngoài niềm tin nơi sự gia hộ của Tam Bảo và hộ pháp thiện thần, Sư cô đã rất tin tưởng nơi tâm bồ-đề của phật tử khắp nơi cho phật sự đúc chuông này.

Quả nhiên đến tuần thứ ba thì tiền vận động đã được ba phần tư, rồi tuần lễ thứ tư, đúng một tháng kể từ ngày lập phương danh ủng hộ, không những đầy đủ tịnh tài đúc chuông mà còn vượt quá số tiền mong đợi. Sư cô nghe báo tin đã nhận đủ số tiền, vô cùng hoan hỷ, nhưng cũng vội vã nhờ tôi thông báo kết thúc ngay việc vận động. Sư cô còn băn khoăn không biết số tiền dư sau khi trang trải mọi chi phí cho việc đúc chuông, tổ chức Lễ Rót Đồng, Lễ Khai Chung, sẽ phải hoàn lại như thế nào cho các phật tử đóng góp. Đúng là cái tâm rất là "nhà chùa thôn dã." Tôi nói, "Không thể hoàn trả được đâu thưa Sư cô, vì đây là tấm lòng của phật tử đối với đại hồng chung của chùa, phải đón nhận và cầu nguyện, hồi hướng công đức của họ, nếu dư thì thông báo là sẽ sử dụng để làm phật sự khác, hoặc làm việc từ thiện giúp cho thôn xóm địa phương."

Được hỏi về phật sự của chùa, Sư cô cho biết dĩ nhiên có nhiều phật sự vẫn đang chờ đợi thuận duyên mới thực hiện; nhưng phật sự trước mắt mà Sư cô hi vọng với số tiền đúc chuông dư lại có thể tiến hành là cất một dãy nhà gọi là "tịnh nghiệp đường" dành cho phật tử nghỉ lại đêm tại chùa mỗi khi có tổ chức Bát Quan Trai-Giới hoặc Khóa Tu Niệm Phật. Thường khi, mỗi lần có khóa tu, khoảng trên tám mươi phật tử nam nữ phải nghỉ lại đêm, chia nhau nằm la liệt trên chánh điện hoặc nhà ăn, phòng khách. Tối kỵ nhất là để phật tử nghỉ lại đêm nơi chánh điện, dù rằng về mặt tâm lý, con Phật được gần với Phật sẽ cảm thấy ấm cúng, gần gũi, an bình, nhưng trên hình thức thì làm kém vẻ tôn nghiêm đối với nơi thờ kính Tam Bảo. Đây là điều Sư cô quan tâm nhất, do đó, nếu tiền đúc chuông có dư, việc nghĩ đến trước tiên là cất một tịnh nghiệp đường, một dãy nhà đơn giản chỉ cần đủ che mưa nắng, để phật tử có thể lót đệm nghỉ qua đêm. Trong những ngày thường, tịnh nghiệp đường có thể dùng làm phòng học, hội họp, hoặc dùng làm phòng ăn tiếp đãi bá tánh vào mỗi dịp lễ lớn. Tịnh nghiệp đường vì thế sẽ là một dãy nhà đa dụng, rất cần thiết và hữu ích cho sinh hoạt của chùa. "Phí tổn để cất dãy nhà này chưa rõ là bao nhiêu nhưng chắc chắn là chỉ sử dụng số tiền còn dư lại của phật sự đúc đại hồng chung chứ không vận động thêm nữa," Sư cô khẳng định như thế.

Một vài ngày sắp tới Sư cô và ba vị ni khác sẽ đại diện chùa, đáp tàu hỏa đi Huế để kịp tổ chức Lễ Rót Đồng tại phường đúc vào ngày 23/7/2008. Lễ này sẽ có chư vị tôn túc Tăng Ni tại Huế đến chứng minh, chú nguyện. Theo lệ thường, lễ rót đồng rất quan trọng. Trong lễ đó, chư tăng ni sẽ tụng kinh chú cầu nguyện cho việc đúc chuông được thành tựu viên mãn, chuông sẽ có tiếng kêu và ngân hay, không bị rè hoặc tắc tiếng (một số trường hợp như vậy xảy ra khi phước duyên của thí chủ và ngôi chùa không đủ), và với sự gia trì của tăng ni, đại hồng chung không phải chỉ là một khối đồng vô tri mà sẽ có năng lực làm sứ giả của thiền môn, đánh thức, cảnh tỉnh, giảm thiểu khổ đau, mang lại sự an lạc nhẹ nhàng cho người nghe được. Có một nghi thức và những kệ chú đặc biệt dành cho buổi lễ rót đồng này. Cũng trong buổi lễ đó, chư tăng ni sẽ cầu nguyện hồi hướng công đức cho những thí chủ đã phát tâm cúng dường. Và để thành tựu việc đúc chuông một cách trọn vẹn, người cúng dường và ngôi chùa đón nhận cúng dường (qua đại diện là vị trụ trì) đều nên thành tâm cầu nguyện, tạo nên một mối cảm ứng linh thiêng cho sự hình thành một pháp khí của thiền môn. Pháp khí này, về mặt diệu dụng, có công năng phá trừ phiền não, khởi sanh bồ-đề tâm; về mặt hình thức là một biểu tượng văn hóa Phật giáo có chu kỳ tồn tại ở đời dài lâu hơn những động sản hay bất động sản khác của chùa. Một ngôi chùa vài trăm năm đã cần trùng tu; nhưng một đại hồng chung tốt thì chỉ đúc một lần, có thể có tuổi thọ ngàn năm.

Thử tưởng tượng chuông chùa Thanh Trì sẽ có mặt ở đời đến một ngàn năm sau, hoặc khiêm nhường hơn, chỉ năm trăm năm sau thôi, sẽ như thế nào. Trong năm trăm năm ấy, sẽ có nhiều vị ni hoặc tăng (không biết chừng) thay nhau trụ trì chùa Thanh Trì. Ni chúng, hay tăng chúng, cũng theo thời gian mà thay đổi, hết lớp người này đến rồi đi, rồi lớp người khác. Phật tử đến chùa cũng thay nhau nhiều thế hệ. Ngôi chùa sẽ trùng tu bao nhiêu lần. Phòng ốc, vật dụng trong chùa, hư rồi tạo dựng hay sắm lại biết bao nhiêu lần. Cây cối, vườn tược, cũng đổi thay theo mùa, theo mỗi trăm năm. Nhưng đại hồng chung vẫn sừng sững còn đó, vững vàng như một quả núi. Mỗi ngày chuông gióng lên hai bận, cứu độ hoặc cảm hóa bao nhiêu chúng sanh cõi người, cõi trời, cõi âm, cõi dương, trong sáu nẻo luân hồi. Mỗi tiếng chuông gióng lên nếu có tác động đến một chúng sinh nào khiến phát bồ-đề tâm, hoặc phát lòng niệm Phật, hoặc khởi tâm thiện, hoặc chỉ ngưng việc ác, hoặc chỉ giảm phiền não, khổ đau, thì theo lý thuyết "thọ hậu báo," [1] các thí chủ cúng dường đúc chuông đều được thừa hưởng công đức. Mỗi ngày trên hai trăm tiếng chuông, mỗi năm bảy mươi ba ngàn tiếng, và trong năm trăm năm, chuông đó gióng lên ba mươi sáu triệu năm trăm ngàn tiếng, sẽ tác động đến bao nhiêu chúng sanh, và bao nhiêu chúng sanh đó sẽ làm lợi ích hoặc cảm hóa được bao nhiêu chúng sanh khác" Công đức cúng dường đúc chuông do vậy mà thành vô lượng.

Tôi biết khi phát tâm ủng hộ đúc chuông chùa Thanh Trì, bạn không hề nghĩ đến phước báo hay công đức gì. Bạn đã phát tâm một cách vô tư, vô cầu. Biết chùa cần chuông thì cúng chuông, vậy thôi. Nhưng ở đời, có những cái muốn cầu cũng không có, và ngược lại có những điều không cầu vẫn được. Khi hạt giống lành gieo xuống, không mong cầu kết quả tốt, kết quả tốt vẫn cứ đến.

 Vào dịp lễ Vu Lan năm nay, chuông chùa Thanh Trì do các bạn đóng góp đúc nên, sẽ điểm những tiếng đầu tiên nơi thôn xóm nghèo xa xôi ấy. Nếu vì không gian cách trở mà bạn không thể nghe được tiếng chuông thực tế của chùa ngân vang như thế nào, hãy nhắm mắt lại cùng tôi ở ngay phút giây này, lắng lòng, nghĩ đến niềm vui của ni chúng và phật tử chùa Thanh Trì, nghĩ đến hàng triệu tiếng chuông kể từ lúc chùa cử hành lễ khai chung, sẽ theo thời gian, từng ngày nối nhau đi vào không gian, đi vào lòng người…

Tiếng chuông chùa Thanh Trì đã ngân vang trong bạn rồi đó.

 California, ngày 16 tháng 7 năm 2008

 [1] Tức là những báo ứng nhận được sau khi một tác nghiệp đã hình thành - ví dụ, khi cúng dường đúc chuông, người cúng dường thọ nhận phước báo tức khắc của sự phát tâm cúng dường, đến khi quả chuông hình thành và mỗi ngày gióng lên, tùy theo tác động của tiếng chuông mà thí chủ cúng dường được thọ nhận thêm phước báo khác. Sự thọ nhận sau gọi là "thọ hậu báo."

(http://www.vinhhao.net)

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.