Hôm nay,  

Tra Tấn Tù Nhân Và An Ninh Quốc Gia

28/04/200900:00:00(Xem: 7448)

Tra tấn tù nhân và an ninh quốc gia

Trần Bình Nam
Đầu năm 2002 cơ quan tình báo CIA của Hoa Kỳ, đứng trước nhu cầu khai thác thông tin từ tù nhân bắt được tại Afghanistan để ngăn ngừa một cuộc tấn công khác của quân khủng bố Al Qaeda trên đất Mỹ đã phối hợp với Bộ Tư Pháp và quân đội nghiên cứu những phương pháp mới để khai thác tù nhân.
Chỉ thị của tòa Bạch Cung lúc đó không xác định rõ các phương pháp khai thác phải ở trong giới hạn nào nên các phương pháp được chấp thuận mang ra xử dụng đã vượt quá tiêu chuẩn quốc tế về cách đối đãi với tù binh quy định bởi Quy ước Quốc tế Geneve về tù binh (1).
Thí dụ CIA đã áp dụng cách thức điều tra mới tại các nhà tù bí mật (của CIA) tại một số nước Đông Âu như không cho tù nhân ngủ trong nhiều ngày, tát vào mặt, cởi  truồng, bỏ đói ngoại trừ nước uống, xô đẩy tù nhân vào tường, uy hiếp bằng chó, bằng ong, và giả trấn nước (waterboarding – danh từ mới) buộc tù nhân nằm ngữa bịt kín mặt bằng một miếng chất xốp rồi đổ nước vào để nước chảy vào phổi làm tù nhân ngộp thở, một cảm giác không khác gì bị trấn nước. Tù nhân ngộp thở có thể bất tỉnh, và nếu không hồi sinh sau khi được dựng đứng thẳng bác sĩ sẽ khai thông bằng cách mổ cuống họng để mang không khí vào phổi (2).
Dư luận thế giới quan tâm đến cung cách Hoa Kỳ đối đãi với tù nhân Al Qaeda sau khi các sự quá đáng đối với tù nhân tại nhà tù Abu Ghraib do quân đội Hoa Kỳ phối hợp với CIA quản lý được phanh phui vào đầu năm 2004.
Lập trường của chính phủ Bush là cuộc chiến chống khủng bố al Qaeda là một cuộc chiến không quy ước vì vậy Hoa Kỳ không bắt buộc phải theo Quy ước Geneva về tù binh. Mặt khác các luật sư thuộc Bộ Tư Pháp tìm cách giải thích các phương pháp được áp dụng không phải là tra tấn và không vượt quá những tiêu chuẩn quốc tế. Phó tổng thống Cheney thì cho rằng cách thức điều tra nặng tay có kết quả và giúp bảo đảm an ninh quốc gia (3).
Nhưng không ai đồng ý với quan điểm của chính phủ Bush. Dư luận quốc tế trở nên ác cảm với Hoa Kỳ. Và phương pháp cơ quan CIA dùng để khai thác tù nhân trở thành một vấn đề nóng tại quốc hội Hoa Kỳ. Nó trở thành một trong những đề tài tranh cử tổng thống năm 2008. Hai ứng cử viên Barack Obama (Dân Chủ) và John McCain (Cộng Hòa) có một lập trường chung không chấp nhận mọi hình thức tra tấn, với một khác biệt: Thượng nghị sĩ McCain không nói các phương pháp CIA đang dùng có phải là tra tấn không. Trong khi Thượng nghị sĩ Obama cho rằng các phương pháp đó là tra tấn và cần chấm dứt ngay.
Ba ngày sau khi nhậm chức tổng thống Obama ký văn kiện hành chánh ra lệnh đóng cửa các nhà tù bí mật của CIA ở nước ngoài, chấm dứt các phương pháp điều tra “nặng tay” mới được xử dụng. 
Nhưng mãi cho đến ngày 16/4/2009 tổng thống Obama mới cho phép phổ biến tài liệu của Phòng Cố vấn Luật pháp thuộc Bộ Tư pháp (Justice Department's Office of Legal Counsel) do các ông Phụ tá Bộ trưởng Tư pháp Jay Bybee và người phụ tá John C. Yoo soạn thảo từ đầu năm 2002. Tài liệu này chính yếu bổ túc và hoàn chỉnh các đề nghị của cơ quan CIA, và bảo vệ tính cách hợp luật của các phương pháp điều tra mới trong đó có phương pháp hành xác như giả trấn nước (4).
Quyết định cho công khai hóa tài liệu “điều tra” nội bộ của Bộ Tư Pháp là một quyết định khó khăn của tổng thống Obama. Người ta lo rằng nội dung tài liệu sẽ không nâng uy tín của Hoa Kỳ đối với thế giới, lo rằng tài liệu cung cấp cho Al Qaeda biết phương pháp của CIA để chuẩn bị cho các tay khủng bố cách thức chịu đựng và chống lại các cuộc điều tra. Nhân sự cấp cao từng phục vụ trong Bộ Tư pháp và nhân viên CIA lo ngại sẽ bị truy tố về tội vi phạm pháp luật quốc gia và vi phạm nhân quyền. Nói chung đặt vấn đề khai thác tù nhân dưới chính quyền Bush là hợp luật hay không hợp luật sẽ đào sâu thêm cái hố đảng phái (Cộng Hòa chống Dân Chủ), tạo chia rẽ trong đại khối quần chúng khi quốc dân đang cần đoàn kết để vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế trước mắt.
Ý thức rõ vấn nạn này, ngày 16/4/2009 khi công bố tài liệu về “phương pháp điều tra” tổng thống Obama nói: “Lúc này là lúc để suy nghĩ lại những gì chúng ta đã làm chứ không phải lúc ngồi kể tội lẫn nhau …” (nguyên văn: This is a time for reflection, not retribution. . . . Nothing will be gained by spending our time and energy laying blame for the past.)
Ngày 20/4 tổng thống Obama đến tổng hành dinh CIA ở Langley, Virginia để trấn an nhân viên CIA. Ông nói Hoa Kỳ đang sống trong một không khí đầy đe dọa và nhân dân Mỹ cần CIA hơn bao giờ hết, và rằng “Hoa Kỳ sẽ mạnh hơn và an ninh hơn khi chúng ta triển khai sức mạnh vật chất và những giá trị tinh thần của chúng ta – trong đó có tinh thần trọng pháp” (nguyên văn: I believe that our nation is stronger and more secure when we deploy the full measure of both our power and the power of our values -- including the rule of law.)


Những gì tổng thống Obama làm chứng tỏ ông đã bị áp lực nặng nề để không thể trụ được ý muốn nguyên thủy của ông là bỏ qua sự việc tế nhị này. Áp lực không những từ dư luận quốc tế và các nhóm tranh đấu cho nhân quyền mà còn đến từ Quốc hội cùng đảng với ông. Bà chủ tịch Hạ nghị viên Nancy Pelosi và bà Thượng nghị sĩ Diane Feinstein, Chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng nghị viện đều có khuynh hướng “không thể bỏ qua” và ông không có thẩm quyền và ảnh hưởng đủ đối với quốc hội để ngăn cản.
Biết không thể bỏ qua, nhưng tổng thống Obama cũng không thể để cho vụ việc này chiếm mất những ưu tiên quốc gia khác. Tổng thống Obama khéo léo điều chỉnh lập trường. Hôm Thứ Ba 21/4 tổng thống tuyên bố ý định nếu cuộc điều tra là cần thiết thì ông muốn bổ nhiệm một công tố viên đặc biệt với quyền hành rộng rãi để điều tra. Và ông xác định nhân viên thừa hành sẽ không bị truy tố, nhưng những nhân viên cao cấp tại Bộ Tư Pháp liên hệ đến vụ tra tấn này có thể bị truy tố.
Sáng kiến bổ nhiệm một công tố viên đặc biệt thuộc thẩm quyền của Bộ Tư Pháp để điều tra nội vụ sẽ giúp tránh được những cuộc điều trần liên miên đầy mầu sắc đảng phái trước Quốc hội, tại đó “ông nói ông phải, vãi nói vãi hay”  để không ai thấy được bản chất của vụ việc quan trọng này.
Bản chất của vụ việc là câu hỏi cốt lõi: làm sáng tỏ hay không làm sáng tỏ vụ “tra tấn” này có lợi gì cho Hoa Kỳ và cho cộng đồng nhân loại"
Nếu vì sợ phiền toái mà bỏ qua vụ việc này thì sự công nhận mặc nhiên của thế giới rằng Hoa Kỳ là một quốc gia cầm đầu ngọn cờ dân chủ và nhân quyền trên thế giới sẽ mai một. Và quan trọng hơn sẽ có một tiền lệ là người lãnh đạo một quốc gia mạnh có thể tùy tiện xử dụng bạo lực hay vi phạm nhân quyền nếu việc đó phục vụ cho quyền lợi của quốc gia mình. Thế giới sẽ không còn tiêu chuẩn luật pháp và luân lý, sẽ trở nên hỗn loạn vì trả thù và chém giết nhau. Luật rừng xanh sẽ chiếm lĩnh thế giới, và không có ai có thể có một đời sống yên ổn để hưởng hạnh phúc trong tinh thần phục vụ người và phục vụ mình.
Trái lại, nếu vụ “tra tấn” tại Hoa Kỳ được mang ra ánh sáng theo tiêu chuẩn của luật pháp hiện hành của quốc gia và trong tinh thần của luật lệ quốc tế như tổng thống Obama đang làm sẽ là một minh chứng rằng nước Mỹ vẫn cầm đầu ngọn cờ dân chủ, pháp trị, nhân quyền và tuân thủ luật lệ quốc tế.
Cho đến giờ này Hoa Kỳ đã chứng tỏ vẫn hành xử trong tinh thần trọng pháp và không có cá nhân nào ở trên luật lệ quốc gia. Năm 1973 tổng thống Nixon từ chức trước viễn ảnh bị truất phế vì bị tố cáo “lạm dụng quyền lực”. Năm 1999 Thượng nghị viện đem tổng thống Clinton ra xét xử vì tội “ngăn cản sự thi hành luật pháp”. Vụ binh sĩ Mỹ giết thường dân tại Mỹ Lai tháng 3 năm 1968 trong cuộc chiến Việt Nam đã được mang ra ánh sáng, và các sĩ quan can dự đều bị truy tố trước tòa án quân sự. Vụ vi phạm nhân quyền tù nhân Al Qaeda tại nhà tù Abu Ghraib ở Iraq tháng 5 năm 2004 cũng đã được điều tra và quân nhân các cấp vi phạm đều được luật pháp chiếu cố. Và lần này vụ sáng tạo các phương pháp khai thác tù nhân thiếu tính nhân đạo của CIA cũng đang được chính quyền Obama xử lý.
Đó là mặt tôn trọng công lý và đạo lý, và như lời tuyên bố của tổng thống Obama, sẽ làm cho Hoa Kỳ mạnh hơn chứ không yếu đi.
Mặt thực tế là làm thế nào duy trì công lý và đạo lý mà không làm mất sự đoàn kết quốc gia do tinh thần đảng phái.
Một cuộc điều tra bởi một công tố viên độc lập để truy tố những ai vượt quyền hạn quy định (dù dưới danh nghĩa vì nhu cầu an ninh quốc gia) rồi sau đó giảm án, ân xá có thể là phương cách tốt nhất để giải quyết nổi phiền lụy quốc gia này./.
Trần Bình Nam
April 27, 2009
[email protected]
www.tranbinhnam.com
Ghi chú:
(1) “Geneva Convention”, quy ước quốc tế quy định những nguyên tắc đối đãi với tù binh do Liên hiệp quốc thông qua ngày 12/8/1949 và có hiệu lực từ ngày 21/10/1950
(2)  Giới y khoa gọi là tracheotomy.
(3)  Ngày 20/4/2009 khi trả lời một cuộc phỏng vấn của đài FOX News cựu Phó tổng thống Dick Cheney lặp lại: “Tôi biết qua các bản báo cáo tôi đọc rằng các cuộc điều tra đã giúp chúng ta biết rất nhiều, và ảnh hưởng đến sự giữ gìn an ninh quốc  gia như thế nào” (nguyên văn: I know specifically of reports that I read, that I saw, that lay out what we learned through the interrogation process and what the consequences were for the country.)
(4) Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế cho rằng “waterboarding” là vô nhân đạo. Ông tân Bộ trưởng bộ Tư Pháp Eric Holder cũng nói không thể chối cãi rằng “warterboarding” là một hình thức tra tấn.
Tài liệu tham khảo:
(1)  Obama releases Justice Department documents that guided the CIA on how to use waterboarding and other tactics with terror suspects.
(Los Angeles Times 18/4/2009 by Greg Millet & Josh Meyer)
(2)  Obama calls on CIA to chart new course.
(Los Angeles Times 21/4/2009 by Mark Silva)
(3)  Military helped with CIA interrogation tactics.
(Los Angeles Times 22/4/2009 by By Julian E. Barnes)
(4) Obama open to inquiry on CIA tactics.
(Los Angeles Times 22/4/2009 byy Peter Nicholas and Greg Miller)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.