Hôm nay,  

Văn Hóa Lá Cải…

11/10/200700:00:00(Xem: 10372)

Từ ngữ “Lá cải”  được dùng trong tiếng Việt bắt đầu từ khi giới báo chí Pháp dùng chữ tương tự là  “feuille de chou”  để nói về cách làm báo nhảm nhí, rẻ tiền, khai thác các tin ngắn thật giật gân rồi thông tin bằng cách thổi phồng sự thật (nếu có) lên tột độ.  Thường thường các tin lọai này phải có tựa đề rất “bắt mắt” đồng thời bản tin được tăng cường thêm rất nhiều hình ành mầu sắc nội dung đại lọai về các tội ác rùng rợn, sự dâm ô kích dục, các thiệt hại về tài sản và nhân mạng ghê rợn do tai nạn, thiên tai hay sự bất hạnh của cá nhân, tập thể… mà các tờ báo thông tin đứng đắn, vì vấn đề lương tâm, không thể làm.

Thực ra “lá cải” ghi lại khá chính xác các chi tiết về thời gian, biến cố và người can dự để trước tiên tạo niềm tin từ người đọc ở giao đọan dẫn nhập.  Sau đó, sự trung thực không phải là mục đich nữa!  Cái tai hại của văn hóa lá cải là sự vẽ vời hươu vượn của nó lại được đọc gỉa chú ý liền tức thì bởi vì đọc gỉa đã được “lá cải” gãi đúng chỗ ngứa.  Lá cải cho họ đọc, xem và nghe những cái họ muốn để họ có cơ hội (ảo) khỏa lấp các sự thường tình “cơm hai bữa, quần áo mặc suốt ngày” của đời sống; để họ thỏa mãn sự hiếu kỳ; để cảm thấy may mắn, hạnh phúc (ảo) khi nhìn thấy các bất hạnh, khó khăn của ngưới khác không (chưa) xẩy đến cho mình (")

Báo chí lọai “Lá cải” rất ăn khách và phát đạt vì báo sẽ bán chạy (có nhiều đọc gỉa), và đem lại nhiều lơi nhuận quảng cáo hơn trong khi chi phí điều hành và sản xuất của báo lá cải lại thấp (Báo “Lá cải” chỉ cần một ban biên tập nhỏ là đủ!)

Văn hóa Lá cải bây giờ không chỉ đơn thuần ở báo in, mà còn lan tràn qua Radio, TV và điện báo (internet); không riêng các bản tin tức hàng ngày mà thông tin lá cải còn phổ biến, truyền bá các lời đồn đại, nhỉ tai (vô căn cứ) về phim ảnh, đời tư các nghệ sĩ, văn thi sĩ, chính trị gia nổi tiếng, thời trang, tin nhảm… như là sự thật.  

Văn chương lọai “Lá cải” từ từ làm người đọc đần độn hơn; xa vời thực tế; mất khả năng suy đóan phải và trái; làm cái gọi là “Tâm lý thông thường, ”dễ hiểu không còn ý nghĩa “thông thường” gì cả.  Văn hóa lọai “Lá cải” biến rất nhiều vấn đề “bất bình thường” thành “bình thường.”  Gỉa thành thật.  Đầu óc của người đọc trở thành ấu trĩ hoang mang hệt như y trẻ con vẫn cứ tin là các nhân vật họat họa của “Disney” như chuột Mickey, Bạch Tuyết bẩy chú lùn, Peter Pan…  là có thật!

Văn hóa lá cải là một sự bất hạnh xẩy ra cho sự phát triển tri thức con người.  Vấn đề tự do (quá trớn của) ngôn luận và báo chí đã được bàn cãi rất nhiều.  Có người tranh luận là “thì cứ việc để cho trăm hoa đua nở đã sao"  Nếu không thích thì đừng đọc, đừng xem, đừng nghe.”  Trên thực tế, phải làm cách nào"  phải làm cái gì" để cảnh giác mọi người.  Trong đời sống hàng ngày, làm sao tránh được cái văn hóa độc địa đang vây bủa chung quanh chúng ta từ phải qua trái, từng giờ từng phút… Chúng ta không có đủ tài nguyên và năng lực để quan sát và hướng dẫn con em chúng ta để chúng thấu hiểu sự tai hại của nó" Nói chi đến chuyện “ddội đá vá trời” hướng dẫn “người  lớn” ra khỏi cái mê hồn trận “lá cải.”  Trong thời buổi văn minh và tự do dân chủ này, vấn đề kiểm duyệt ngôn luận đã được xem như đi ngược lại sự tiến hóa của con người.

Công thức thông tin hữu hiệu, nói chung, của báo chí lá cải là trộn lẫn các tin “nóng” có thật với sự “giật gân” bằng cách thêm mắm thêm muối vào; đăng các câu chuyện gỉa tưởng ngắn xa vời sự thật thay vì chỉ để gỉai trí thôi thì lại ám chỉ một cách mập mờ là chuyện (này) có thật;  Viết các bài bình luận chủ đích gây ngạc nhiên hơn là để hướng dẫn người đọc.  Chung qui, họ để đọc gỉa (hoặc khán gỉa) tự thẩm định cái gía trị của bản tin hay bài viết đó một mình.  Theo sự thăm dò khoa học đàng hòang, thì đại đa số đọc gỉa của báo lá cải có trình độ văn hóa kém xa trình độ văn hóa của đọc gỉa báo đứng đắn.  Vì vậy họ (đọc gỉa lá cải) thấy sao hiểu vậy, suy với đóan làm chi cho mệt óc!  Vả lại, văn hóa lá cải triệt để khai thác các vấn đề khó hiểu, sự thương tâm, sự bất hạnh, sự sợ hãi, sự rùng rợn… mà người yếu đuối, (cũng) bất hạnh, ít học, mặc dù thiếu khả năng phân tích hư thực hoặc tìm ra một giải pháp hay một lối thóat nhưng thấy câu chuyện gần gũi với cái thực tế của chính họ; làm họ thích đọc (")  Số người “bất hạnh” kể cũng đông.  Thế là báo lá cải đủ thành công rồi: báo bán chạy, tiền quảng cáo vô nhiều, nổi tiếng…  Đây là cái văn hóa thuộc lọai “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi.”  Người đã nghèo, thiếu học và thiếu cơ hội sẽ học hỏi được gì ở văn hóa lá cải để áp dụng cho đời sống của họ"  để làm cho đời sống đỡ bất mãn hơn"  Câu trả lời là họ chỉ tìm được… một cái “lá cải” vô dụng, nguy hại, một mớ chuyện thiếu lành mạnh như: giết người tập thể, hiếp dâm, đĩ điếm, đồng tính luyến ái, hình ảnh khỏa thân, lường gạt, cướp của, nghiện ngập, kỳ thị chủng tộc và giới tính, thời trang kỳ quặc (xâm mình xâm mẩy xanh lè, xỏ mũi, xỏ lưỡi, quần đáy thấp, đội mũ ngược …)

Văn hóa lá cải là một cái “bẫy” nguy hiểm làm cho người đã vướng phải khó thóat ra!  Giống y như bịnh nghiền ma túy.  Cái bẫy này cũng tạo một cái lỗ lủng lớn trong cấu trúc xã hội; làm cho xã hội chìm xuống nhanh hơn.  Chẳng hạn vấn đề (thời trang) mặc quần đáy thấp lòi khe đít, xỏ mũi, xỏ lưỡi, (tính dục, sex) đồng tính luyến ái, làm tình cẩu thả; (nghiện ngập) hút thuốc, uống rượu là chuyện “bình thường” nên được bắt chước; là  (“kool!”)  Đồng thời chê bai người sống lương thiện, bác ái, có trách nhiệm là “lạc hậu;” phản bác vấn đề học hành chăm chỉ, tính kiên nhẫn, giữ gìn sức khỏe, tập thể thao là “cù lần;” chế riễu sự liên hệ tình cảm đứng đắn bền chặt là “lỗi thời;” giữ vệ sinh chung là “mất thời giờ” (“who care"”)…

Sự liên tục “giật gân” của văn hóa lá cải tác dụng như cái bánh xe nhân qủa (“cause and effect”) của đời sống.  Nó làm cho con người (người đọc) dần dần mất tự chủ.  Trở thành dễ nóng nẩy, giận dữ vô cớ, thiển cận,  ngu xuẩn, “dị ứng” với sự thật đã quá hiển nhiên, thiếu kiên nhẫn trong việc duy trì các tình cảm lâu dài, bỏ cuộc trong khi đang theo đuổi các vấn đề lành mạnh, ích lợi cho chính cá nhân mình!

Nhìn đời sống chung quanh ta, cái gì cũng nhanh và ngắn: qủang cáo thương mại trên radio và TV; nấu ăn cho nhanh bằng lò “vi âm” (“microwave oven”), thức ăn nhanh (“fast foods”), drive-through services.  Những cái “nhanh và ngắn” này không tốt cho sức khỏe (cả cơ thể và tâm thần) của chúng ta.  Nó làm chúng ta giảm bớt sự chú ý.  Trong khi các chuyện “tốt” đòi hỏi sự kiên nhẫn và bình tĩnh; chẳng hạn như tình cảm lứa đôi vợ chồng, nghe nhạc cổ điển, món ăn ngon bổ dưỡng… 

Trong xã hội dân chủ, mỗi người đều có ý nghĩ và quan điểm riêng không nhất thiết phải giống người khác.  Kể cả việc không đồng ý sự kiện hiển nhiên: “một cộng một là hai.”  Vì vậy chắc chắn văn hóa lá cải sẽ tồn tại vì dầu muốn dầu không nó lúc nào cũng có đọc gía của.  Chỉ có một cách dân chủ để giảm thiểu ảnh hưởng của văn hóa lá cải là giáo dục và hướng dẫn; nâng cao sự “quan tâm” của mọi người.  Công việc to lớn này phải có sự giúp đỡ của chính phủ, tôn gíao và học đường.  Giáo dục thế nào" Quan tâm cái gì" Vấn đề (câu hỏi) tương tự đã một lần nêu ra ở đầu bài nhận đinh này rồi!  Có lẽ cũng lại là việc “ddội đá vá trời.”  Nhưng ít nhất cũng còn hơn là “ngồi chơi, không làm gì cả!”  Chỉ tiếc là một số lớn đọc gỉa của báo lá cải là người thông minh, hiểu biết nhưng cũng “ghiền” văn hóa lá cải vì những “tầm thường” của đời sống.  Họ thấy cần phải tìm những cái “giật gân,” “thích thú ngắn hạn mà rẻ tiền” của văn hóa lá cải để bớt chán!

Ngưới viết không bao giờ dám vô lễ và lộng ngôn tỏ ra “tôi biết nhiều hơn anh!”  Xin xem những nhận định thô thiển vừa nêu ra như những góp ý chân tình; một cái gì đó cần được làm mà “tốt” cho mọi người.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Lực lượng “ăn cháo đá bát” rất đông và lan nhanh như bệnh dịch, nhưng chưa bao giờ được công khai cho dân biết để dân bàn, dân kiểm tra. Ngược lại, dân lại là nạn nhân của đám ong nuôi trong tay áo từ bao năm nay. Chúng nằm trong ngành Tuyên giáo, trước đây gọi là Ban Tư tưởng-Văn hóa Trung ương và Ban Khoa giáo Trung ương. Sau lưng đảng còn có đội ngũ chuyên nghề nói thuê và viết mướn gồm Báo cáo viên và Dư luận viên được trả lương bằng tiền thuế của dân.
Vào sáng ngày 1 tháng 5-1975 Trung tá bác sĩ Hoàng Như Tùng, nguyên chỉ huy trưởng Quân Y viện Phan Thanh Giản - Cần Thơ, mặc đồ dân sự, trong tư thế quân phong, đưa tay lên chào vĩnh biêt Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lênh Quân Đoàn IV, Quân Khu IV, Vùng 4 Chiến Thuật, trước sự kinh ngạc của một nhóm sĩ quan cấp cao của bộ đội cộng sản vì sự dũng cảm của bác sĩ Trung Tá Hoàng Như Tùng. Một sĩ quan của bộ đội cộng sản mang quân hàm thiếu tá tiến đến và yêu cầu bác sĩ Hoàng Như Tùng nhận diện Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Sách này sẽ được ghi theo hình thức biên niên sử, về các sự kiện từ ngày 8/5/1963 cho tới vài ngày sau cuộc chính biến 1/11/1963, nhìn từ phía chính phủ Hoa Kỳ. Phần lược sử viết theo nhiều tài liệu, trong đó phần chính là dựa vào tài liệu Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ “Foreign Relations of the United States 1961-1963”, một số tài liệu CIA lưu giữ ở Bộ Ngoại Giao, và một phần trong sách “The Pentagon Papers” của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ, ấn bản Gravel Edition (Boston: Beacon Press, 1971). Vì giờ tại Việt Nam và Hoa Kỳ cách biệt nhau, cho nên đôi khi ghi ngày sai biệt nhau một ngày.
Tôi là anh trưởng trong gia đình, với 9 đứa em cả trai lẫn gái, nên trách nhiệm thật khó khăn, từ nhân cách cho đến cuộc sống. Nhưng may mắn tôi gặp được những người anh ngoài xã hội để noi gương và học hỏi. Một trong số những nhân vật hiếm hoi đó, chính là anh Nguyễn Văn Tánh, người mà tôi đã có cơ hội được tiếp tay hỗ trợ và đồng hành cùng anh trong suốt 20 cuộc Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế Liên Hiệp Quốc tại thành phố New York từ 20 năm qua.
Tôi tha phương cầu thực gần như trọn kiếp (và may mắn lạc bước đến những nơi không thiếu bơ thừa sữa cặn) nên bất ngờ nhìn thấy mảnh đời cùng quẫn thì không khỏi chạnh lòng. Nghe tiếng mời chào khẩn thiết, nhìn những khuôn mặt khẩn cầu của đồng bào mình mà muốn ứa nước mắt.
Các định kiến tai hại đối với các phụ nữ Á Châu trong văn hóa đại chúng của Mỹ đã có từ ít nhất thế kỷ thứ 19. Từ đó, các nhà truyền giáo và binh sĩ Mỹ tại Á Châu đã xem phụ nữ mà họ gặp đó như là ngoại lai và dễ tùng phục. Các định kiến này đã ảnh hưởng luật di trú đầu tiên của Hoa Kỳ dựa vào chủng tộc, Đạo Luật 1875 Page Act, ngăn cản các phụ nữ Trung Quốc vào Hoa Kỳ. Giả thuyết chính thức là rằng, ngoại trừ được chứng minh ngược lại, các phụ nữ TQ tìm cách vào Hoa Kỳ đã thiếu tư cách đạo đức và là những gái mại dâm. Trên thực tế, nhiều người là vợ tìm cách đoàn tụ với những ông chồng là những người đã đến Hoa Kỳ trước đó. Khoảng cùng thời gian đó, các phụ nữ TQ tại San Francisco cũng bị làm dê tế thần bởi các viên chức y tế địa phương là những người sợ rằng họ sẽ lây truyền các bịnh lây lan qua đường tình dục cho các đàn ông da trắng, là những người sau đó sẽ lây lan cho các bà vợ của họ. Vào giữa thế kỷ 20, các căn cứ chiến tranh và quân sự của Hoa Kỳ tại TQ, Nhật, Phi Luật Tân,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Bá Thanh, Nguyễn Thiện Nhân, Nguyễn Hòa Bình, Nguyễn Xuân Phúc … quả đúng là những kẻ thuộc giới ăn trên ngồi trốc. Họ là những hạt giống đỏ được gieo trồng từ miền Bắc, và đã ươm mầm thành cây. Loại cây này, học giả Phan Khôi gọi một cách lịch sự là cây Cộng Sản. Còn dân gian thì gọi là cây cứt lợn!
Nếu đảng đủ can đảm và ông Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng còn đủ bản lĩnh của một Lãnh đạo gương mẫu trong công tác phòng, chống tham nhũng thì hãy công khai cho dân biết Tổ chức Thanh niên của đảng đã làm được những gì cho dân cho nước trong 90 năm qua. Hay ngót 7 triệu Đoàn viên TNCS chẳng làm được trò trống gì, ngoải vai trò tay sai đã tuyệt đối trung thành với đảng và với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh?
Adam Smith và Karl Marx cùng được gọi chung là kinh tế cổ điển (classical economy) tức là lao động (labour) tạo ra giá trị (value.) Khác ở chổ Smith quan niệm thị trường tự do giúp mọi người hưởng thụ giá trị lao động còn Karl Marx lên án giá trị lao động của công nhân bị tư bản bóc lột. Vào đầu thế kỷ thứ 20 xuất hiện một cách nhìn mới là giá trị (value) do nơi tiện ích (utility) thay vì từ lao động (labour). Thí dụ một người đang khát uống ly nước đầu thì thật ngon, ly thứ nhì vừa vừa còn ly thứ ba đầy bụng nuốt không vô, tức là giá trị của mỗi ly nước giảm khi nhu cầu tiện ích hạ thấp. Quan điểm này gọi là Giá Trị Biên Tế hay Marginal Value.
Cùng với tác phẩm của Dương Thu Hương-"Những Thiên Đường Mù", Trần Mạnh Hão-"Ly Thân", Bảo Ninh-"Nỗi buồn Chiến tranh", Phạm Thị Hoài-"Thiên sứ", "Tướng về hưu"của Nguyễn Huy Thiệp đã tạo nên dòng văn học phản kháng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.