Hôm nay,  

Tự Do Ngoại Thương Bị Đe Dọa

11/04/200700:00:00(Xem: 8849)

...đàn áp người dân chủ sẽ dẫn tới nhiều thiệt hại cho dân chúng Việt Nam trong mối giao dịch với Hoa Kỳ...

Cách đây một tuần, Hiệp định Thương mại Song phương giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn kịp được ký kết, nhưng còn có thể bị Quốc hội Mỹ bác bỏ trong tương lai. Đồng thời, Bộ Thương mại Hoa Kỳ cũng vừa đề nghị trừng phạt Trung Quốc việc phá giá và trợ cấp xuất khẩu giấy vào thị trường Mỹ. Các biến cố trên làm thế giới nói tới xu hướng bảo hộ mậu dịch rất mạnh trên chính trường Hoa Kỳ với hậu quả tai hại cho luồng trao đổi ngoại thương trên thế giới. Diễn đàn Kinh tế đài RFA tìm hiểu về xu hướng này qua phần trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.

Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, sau 10 tháng thương thuyết, Hiệp định Thương mại Song phương giữa Hoa Kỳ và Nam Hàn cuối cùng đã được hai bên ký kết ngày mùng một tháng này nhưng dư luận quốc tế vẫn cho rằng văn kiện này có thể sẽ bị Quốc hội Mỹ bác bỏ vì xu hướng bảo hộ mậu dịch rất mạnh trong Quốc hội khoá 110 của Hoa Kỳ. Trong chương trình tuần này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ cùng tìm hiểu về xu hướng ấy, với những hậu quả có thể xảy ra cho Việt Nam và các nước đối tác với kinh tế Mỹ.

Vì vậy, câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là ta sẽ tìm hiểu sơ lược về bối cảnh giao thương giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ trước khi phân tách xu hướng bảo hộ mậu dịch tại Mỹ.

Trước khi nói đến Hiệp định Thương mại Song phương Mỹ-Hàn, ta sẽ phải nhắc tới một yếu tố đặc thù của Hoa Kỳ là đạo luật rộng quyền thương thảo mậu dịch người Mỹ gọi là "trade promotion authority", hoặc như trước đây, là "fast track". Đạo luật này đã được Quốc hội Mỹ thông qua năm 2002 và có hiệu lực năm năm, đến cuối tháng Sáu năm nay. Theo đạo luật tôi dịch nôm na là rộng quyền thương thảo thì Đại diện Thương mại thuộc Hành pháp Mỹ có toàn quyền thương thảo các thỏa ước cho tới khi hoàn thành Hiệp định. Sau đó, bản Hiệp định được chuyển qua Lập pháp phê chuẩn trong thời hạn 90 ngày, với tinh thần gọi là "trọn gói", tức là bác bỏ hay chấp thuận toàn bộ văn kiện, chứ không đi vào việc cứu xét từng điều khoản. Đạo luật ấy vì vậy cho phép Hoa Kỳ mở rộng quan hệ mậu dịch song phương với các nước theo thủ tục ngắn gọn... Trước đấy, Chính quyền của Tổng thống Bill Clinton không vận động nổi đạo luật này dù đảng Dân chủ của ông khi đó đang chiếm đa số trong Quốc hội. Năm 2002, Chính quyền của Tổng thống George Bush đã phải thỏa hiệp qua biện pháp bảo hộ ngành thép của Mỹ mới vận động được Quốc hội thông qua đạo luật rộng quyền mậu dịch trong thời hạn năm năm.

Hỏi: Và thời hạn năm năm ấy sẽ kết thúc vào ngày 30 tháng Sáu này phải không"

Thưa vâng, chính vì vậy mà phía Hoa Kỳ đã phải ráo riết hoàn tất bản Hiệp định Mỹ-Hàn hầu Tổng thống Bush kịp thời chuyển qua Quốc hội nội trong 90 ngày trước khi đạo luật kia đáo hạn. Nhờ chênh lệch giờ giấc mà hai Chính phủ Hoa Kỳ và Nam Hàn đã đạt thỏa thuận có 25 phút trước khi ông Bush kịp ký kết văn kiện để xin Quốc hội Mỹ phê chuẩn. Đây là văn kiện quan trọng vì, thứ nhất kích thước của bài toán mậu dịch Hoa Kỳ và, thứ hai vì tính chất trắc nghiệm phản ứng của Quốc hội khoá 110 vừa được dân Mỹ bầu lên tháng 11 năm ngoái. Thế giới và cả Việt Nam nên theo dõi văn kiện này vì hai lý do ấy.

Hỏi: Lý do thứ nhất là vì kích thước của bài toán mậu dịch, thế thì trị giá của văn kiện này sẽ là bao nhiêu tiền mà quan trọng như vậy"

So sánh tương quan thì Mỹ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, Nam Hàn đứng hàng thứ 11, hai bên buôn bán với nhau chừng gần 80 tỷ một năm, gấp 10 so với Việt Nam, và Hiệp định Song phương Mỹ-Hàn quy định hai nước sẽ hạ thấp hàng rào hải quan chừng 95% trong thời hạn ba năm, với kết quả có thể là nâng cao khối lượng buôn bán chừng 25% một năm, chừng hai chục tỷ Mỹ kim. Vì hai nền kinh tế không có tính chất tương tranh, tức là trực tiếp cạnh tranh với nhau, nên về dài thì đà gia tăng trao đổi ấy có lợi cho cả hai. Nếu so sánh thì đây cũng là Hiệp định Thương mại có ảnh hưởng lớn nhất cho kinh tế Mỹ kể từ bản Thỏa ước Tự do Mậu dịch Bắc-Mỹ NAFTA mà Hoa Kỳ đã ký với Canada và Mexico năm 1993. Tuy nhiên, tôi thiển nghĩ rằng văn kiện này sẽ gặp nhiều trở ngại và khó được phê chuẩn vì yếu tố thứ hai, vì trào lưu bảo hộ mậu dịch trong Quốc hội Mỹ.

Hỏi: Chúng ta bắt đầu tìm hiểu yếu tố thứ hai đó. Vì sao ông cho là Quốc hội Mỹ có thể bác bỏ bản Hiệp định này"

Không chỉ bác bỏ Hiệp định Thương mại Mỹ-Hàn mà còn có thể xét lại hàng loạt các hiệp định thương mại mà Chính quyền Bush đã thông qua với nhiều quốc gia khác và sẽ còn gây sức ép rất mạnh với các nước đang đạt thặng dư mậu dịch với Mỹ, đứng đầu là Trung Quốc với mức xuất siêu là hơn 230 tỷ Mỹ kim.

Lý do ở đây, như chúng ta đã nhiều lần cảnh báo trên diễn đàn này, là một số thành phần dân Mỹ lại không thấy lợi lộc gia tăng nhờ tự do mậu dịch, hoặc ít ra là không gia tăng nhanh và nhiều như thành phần chủ đầu tư Mỹ hoặc như công nhân hay nông gia của các nước nghèo. Họ hoài nghi trào lưu toàn cầu hoá và còn chống lại nguyên tắc tự do mậu dịch nên dùng lá phiếu tác động vào chính trường, vào Quốc hội. Quốc hội khoá 110 vừa nhóm họp vào đầu năm nay tại Hoa Kỳ có khuynh hướng bảo hộ mậu dịch rõ rệt và sẽ gây trở ngại cho Hành pháp Mỹ đang bị suy yếu vì hồ sơ Iraq, đồng thời có thể không cho tái tục đạo luật rộng quyền ngoại thương kể từ mùng một tháng Bảy này trở đi.

Hỏi: Có phải là vì đảng Dân chủ vừa chiếm đa số tại cả hai viện Quốc hội Mỹ hay không"

Thưa chỉ một phần thôi. Nói chung thì chừng hai phần ba giới dân cử bên đảng Dân chủ và một phần ba bên đảng Cộng hoà ngả theo xu hướng bảo hộ mậu dịch mà họ gọi là "mậu dịch công bằng". Khi đảng Cộng hoà bị thất thế trong cuộc bầu cử năm ngoái thì họ không dám lấy rủi ro làm mất lòng quần chúng trong cuộc bầu cử vào năm 2008 tới đây. Chỉ còn Chính quyền Bush là cố vớt vát tinh thần tự do mậu dịch nhưng bị suy yếu nặng vì vụ Iraq, nên ta có thể nói là xu hướng bảo hộ mậu dịch đang là đặc tính "lưỡng đảng", có sự đồng thuận của cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà. Họ sẽ lấy đủ mọi lý do phản bác hay cản trở những cam kết đã có của Chính quyền ông Bush.

Trở lại chuyện cụ thể là Hiệp định Mỹ-Hàn mình vừa đề cập tới thì nếu nông gia Mỹ có lợi nhờ sẽ bán thịt qua Hàn Quốc thì công nhân kỹ nghệ xe hơi sẽ lại kịch liệt chống vì một năm Mỹ bán có chừng 4.000 xe hơi qua Nam Hàn trong khi nhập khẩu 800 ngàn xe Hàn Quốc vào Mỹ. Ba đại gia về xe hơi của Mỹ tại Detroit của bang Michigan đều đang bị điêu đứng vì không thể cạnh tranh nổi với xe ngoại quốc, kể cả xe Nhật hay Hàn Quốc ráp chế tại Mỹ, và họ đòi chính quyền phải bảo vệ. Bên kia, các công đoàn hay nông gia Hàn Quốc cũng muốn chống vì e sợ sự cạnh tranh của hàng Mỹ. Cho nên lực cản hiện đang mạnh hơn lực đẩy và điều này không chỉ giới hạn trong mậu dịch Mỹ Hàn mà mở rộng qua nhiều ngành khác, với nhiều xứ khác nữa.... Chi tiết đáng chú ý là với Hiệp định Thương mại Mỹ-Hàn, nhiều giới chức dân cử Mỹ đã đả kích hàng rào bảo hộ mậu dịch của Nam Hàn với ngôn ngữ thời Chiến tranh lạnh, khi gọi đó là "bức màn sắt"!

Hỏi: Chúng ta bắt đầu bước qua phần liên hệ đến Việt Nam. Theo sự phân tách của ông, thì liệu Việt Nam có bị ảnh hưởng bất lợi gì từ trào lưu bảo hộ tại Mỹ không, sau khi ký kết Hiệp định Thương mại và có quy chế mậu dịch bình thường và vĩnh viễn với Hoa Kỳ và trở thành hội viên thực thụ của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO từ đầu năm nay"

Tôi xin có nhận xét tổng quát trước rồi chuyện Mỹ sau. Thứ nhất, trào lưu bảo hộ mậu dịch hoặc chặn đà bành trướng của toàn cầu hóa không là hiện tượng đặc thù của Mỹ mà đang là xu hướng phổ biến trong các nước công nghiệp tiên tiến, kể cả Liên hiệp Âu châu hay Nhật Bản và gặp phản ứng mạnh từ các nước tân hưng, mới phát triển lên hàng ngũ công nghiệp, như trường hợp Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil hay cả Nam Hàn. Yếu tố ấy mới giải thích vì sao vòng đàm phán Doha về tự do mậu dịch mới tan vỡ và khó có thể vớt vát nổi. Thượng đỉnh G-8 và Hội nghị thường niên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới vào tuần này có thể cho chúng ta cơ hội kiểm chứng điều ấy.

Thứ hai, và ta đi dần vào sự ngộ nhận tai hại từ phía Việt Nam, khi một cơ chế quốc tế và đa phương như WTO bị bế tắc vì vòng đàm phán Doha như diễn đàn này đã nói nhiều lần, thì các nước đều tìm thỏa thuận song phương với tương quan mạnh hay yếu của từng nước. Điều này bất lợi cho các nước nghèo vì họ mất một diễn đàn có thế mạnh là WTO.

Thứ ba, và ngược với nhận xét của một vị dân cử Mỹ đối với Việt Nam, quan hệ đôi bên không phải là một cuộc hôn nhân vĩnh viễn tốt đẹp để Việt Nam cứ tưởng rằng từ khi đã qua cửa ải WTO và PNTR với Mỹ thì mình muốn làm gì cũng được, kể cả vi phạm nhân quyền hay nhục mạ vị Đại sứ Mỹ và các Dân biểu Hoa Kỳ đang công du tại Việt Nam.

Hỏi: Một cách cụ thể thì những rủi ro gì có thể xảy ra cho nền kinh tế Việt Nam"

Tôi xin lấy một ví dụ cụ thể. Hiệp định Thương mại Song phương giữa Hoa Kỳ và Peru có thể bị cản trở vì Dân biểu Dân chủ nổi tiếng phản chiến là ông John Murtha đã tìm ra yếu tố bất ngờ là vì nền an ninh của Mỹ. Lý do là một doanh nghiệp của xứ UAE, Liên hiệp các Tiểu vương Hồi giáo, có đầu tư vào Peru, nếu doanh nghiệp Dubai Ports World này từ đó đầu tư vào Mỹ thì có thể đe doạ an ninh của các thương cảng Hoa Kỳ. Giới quan sát cho rằng đây chỉ là lý cớ chính trị trong nội tình Hoa Kỳ nhưng vẫn gây thiệt hại cho Peru và xứ UAE, vốn là hai đồng minh của Hoa Kỳ tại Nam Mỹ và Trung Đông.

Vốn đang mở mang quan hệ bình thường với Hoa Kỳ, Việt Nam không phải là không có vấn đề tồn đọng trong mối giao thương với thị trường Mỹ. Bây giờ khi tự gây thêm vấn đề về tự do và nhân quyền với chính người dân của mình, lãnh đạo Việt Nam mặc nhiên tạo ra nền tảng đồng thuận giữa xu hướng lý tưởng và đòi hỏi dân chủ với xu hướng bảo hộ mậu dịch trong cả hai đảng Dân chủ và Cộng hoà. Các xu hướng này sẽ nêu vấn đề ngay tại Quốc hội và gây sức ép với bộ Ngoại giao và Tòa Đại sứ Mỹ tại Hà Nội để đòi hỏi nhiều điều kiện phụ trội khác như đã từng thấy trong quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Mà Việt Nam chẳng có cái thế chính trị hay cái lực kinh tế như Trung Quốc.

Việc đàn áp người dân chủ sẽ dẫn tới nhiều thiệt hại cho dân chúng Việt Nam trong mối giao dịch với Hoa Kỳ. Nông gia, ngư dân và công nhân hay ngành dệt sợi, bán tôm cá, giày dép hay vật dụng điện tử Việt Nam sẽ bị thiệt thòi lớn vì lãnh đạo chính trị đã gây ra chuyện kỳ cục ấy. Đây không chỉ là một sai lầm lớn về đạo đức dân tộc mà còn là một dại dột nặng về chính trị và những kẻ hữu trách cần phải bị trừng phạt. Nên giải oan cho cha Lý và xin lỗi những người bị xúc phạm chứ không phải cứ chửi Mỹ là xen lấn vào chuyện nội bộ Việt Nam mà đã là xong!

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.