Hôm nay,  

Văn Hóa Và Phát Triển

22/10/200900:00:00(Xem: 10403)

Văn Hóa Và Phát Triển

Nguyễn Xuân Nghĩa & Việt Long RFA

...Đài Loan vẫn theo đạo Phật nhưng kinh doanh rất giỏi...
Cách đây một năm, khi khủng hoảnh tài chính bùng nổ tại Hoa Kỳ và lan khắp nơi khiến kinh tế toàn cầu bị suy trầm nặng thì nhiều người nói đến khủng hoảng của kinh tế trị trường hay tư bản chủ nghĩa. Một năm sau, các khối kinh tế lớn trên thế giới đều đụng đáy và đang hồi phục với mức độ nhanh chậm khác nhau, nhưng dường như không còn ai nói đến khủng hoảng của kinh tế thị trường nữa. Khi tổng kết lại kinh nghiệm của cơn chấn động vừa qua, người ta có thể chú ý tới một khía cạnh mơ hồ mà cá biệt của các nền kinh tế, là yếu tố văn hoá. Diễn đàn Kinh tế sẽ làm một tổng kết sơ khởi về yếu tố văn hoá ấy trong tiến trình phát triển của các nước. Cuộc trao đổi với nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa về đề tài này sẽ do Việt Long thực hiện sau đây.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Sau một năm cơ như hốt hoảng vì khủng hoản tài chính và suy trầm kinh tế, thế giới đang bước qua giai đoạn hồi phục với tốc độ khác biệt của từng quốc gia. Một câu hỏi có vẻ mơ hồ là yếu tố chung khả dĩ giải thích khả năng ứng phó và phục hồi đó có thể là nét văn hóa của từng nhóm quốc gia hay không" Nhìn sâu xa hơn, ông thấy là yếu tố văn hoá ảnh hưởng thế nào đến tiến trình phát triển trong trường kỳ và đến khả năng đối phó với các biến động nhất thời của kinh tế"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng câu hỏi này không mơ hồ mà lại rất cần thiết để ta thấy ra nhiều ngộ nhận quá phổ biến về tương quan giữa văn hoá và phát triển, lồng trong đó là khả năng ứng phó với các biến động kinh tế.
- Muốn tìm hiểu vấn đề, trước hết, tôi xin đề nghị là ta có thể hiểu văn hoá theo lối đơn giản nhất "là những tập quán bất thành văn - cụ thể là không viết thành luật lệ - mà một cộng đồng nào đó cùng chia sẻ, cùng tôn trọng vì các lý do lịch sử hay tôn giáo tích lũy từ nhiều thế hệ". Chúng ta chọn một định nghĩa đơn giản như vậy để biết là cùng nói về chuyện gì.
Việt Long: Thưa vâng, xin đồng ý với định nghĩa đó.
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thứ hai, từ khi loài người chọn hình thái kinh tế thị trường, là lấy quy luật cung cầu làm yếu tố chính trong các quyết định kinh tế - một hình thái thật ra cũng mới chỉ xuất hiện và phổ biến từ vài thế kỷ thôi - thì người ta nghiệm thấy một hiện tượng là sinh hoạt kinh tế có bị chi phối bởi những chu kỳ thăng giáng, lên xuống. Ở đây, ta không đi sâu vào việc giải thích các chu kỳ ấy mà chỉ tìm hiểu xem yếu tố văn hoá mình vừa nói ở trên ảnh hưởng thế nào đến cách đối phó với chu kỳ ấy. Nói cho nôm na thì mỗi nền văn hoá có thể chỉ ra một cách xử trí với nghịch cảnh và xuyên qua đó, ảnh hưởng đến tiến trình phát triển trong trường kỳ. Như vậy có được không"
Việt Long: Chúng tôi hiểu rằng ta sẽ đề cập đến nhiều phạm trù khá trừu tượng thuộc về lý luận nên ông muốn minh định nền tảng vấn đề một cách đơn giản và dễ tiếp nhận. Nếu đồng ý ở các định nghĩa đó, mình có thể nào tìm ra giải đáp về tương quan giữa văn hoá và phát triển không" Cụ thể thì tập quán văn hóa của một dân tộc có là yếu tố thuận lợi hoặc tiêu cực cho phát triển"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Câu hỏi ấy rất xác đáng và có khi sẽ giải tỏa được nhiều ngộ nhận lưu cữu từ cả trăm năm nay.
- Khởi đầu của ngộ nhận là lý luận của nhà xã hội học nổi tiếng của Đức là Max Weber. Ông là một nhà tư tưởng lớn và từ đầu thế kỷ 20 đã giải thích chủ nghĩa tư bản từ đạo tắc - là quy tắc đạo đức - của đạo Tin Lành, với hàm ý là tinh thần khổ hạnh cần kiệm của người theo đạo Tin Lành đã giúp cho việc tích lũy tư bản đề đầu tư. Do lý luận có ý giải thích sự phát triền của chủ nghĩa tư bản từ một tập quán văn hoá, người ta tin rằng một nền văn hoá này có lợi thế cao hơn một nền văn hoá khác chẳng hạn. Sở dĩ người ta tin như vậy vì trong hệ thống Tây phương nếu đối chiếu hai nếp văn hóa xuất phát từ tôn giáo là Công Giáo và Tin Lành, thì các nước phát triển sớm đều theo đạo Tin Lành của hệ phái Calvin khác với các nước theo Công giáo ở miền Nam. Nhưng đây là một ngộ nhận vì sau đó xứ nào của Âu Châu hay Bắc Mỹ cũng đều phát triển mạnh. Trong thất hùng kinh tế là nhóm G-7 của bảy nước công nghiệp hàng đầu thế giới ngày nay, có bốn nước Âu Châu, Hoa Kỳ, Canada và cả Nhật Bản là quốc gia không nằm trong hệ thống Thiên chúa giáo hay văn hoá Âu châu.
Việt Long: Và nếu kể thêm trường hợp Trung Quốc là cường quốc kinh tế mới nổi nay sắp bắt kịp Nhật Bản thì đúng là văn hoá Tin Lành, Công Giáo hay Thiên Chúa Giáo không giải thích được tất cả. Thế nhân chuyện Nhật Bản hay Trung Quốc đang là cường quốc kinh tế thì mình có thể kết luận rằng nếp văn hoá Khổng Mạnh có là yếu tố thuận lợi cho phát triển không"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trung Quốc và Nhật Bản là hai trường hợp gọi chung là Đông Á trong khu vực rất đa diện và phức tạp của Á châu.
- Trong thế kỷ 20, vốn hướng dẫn dư luận toàn cầu từ khá lâu, các nước Âu châu vẫn lý luận rằng Á châu không có tương lai và văn hoá Á Châu có những đặc tính không thuận lợi cho kinh tế thị trường và phát triển. Đấy cũng là một ngộ nhận theo lối suy nghĩ của Max Weber, rằng dân châu Á không có tinh thần kinh doanh như dân Âu châu. Thật ra, Nhật Bản đã công nghiệp hoá rất sớm và trên doanh trường quốc tế ngày nay, dân Á châu chẳng thua kém gì ai. Lồng trong sự ngộ nhận ấy lại có vài huyền thoại khác ly kỳ không kém.


- Chẳng hạn như qua nhiều thập niên, người ta cho rằng văn hoá Khổng Mạnh quá coi trọng vai trò của tập thể và không phát huy sáng kiến hay quyền lực cá nhân như tại Âu Châu, nên cũng gây trở ngại cho phát triển. Sau đó, người ta lại nói ngược rằng tinh thần tập thể của văn hoá Á châu là yếu tố có lợi cho công nghiệp khi mọi người đều tham gia với tinh thần kỷ luật cao vào tiến trình sản xuất trong nhà máy. Cực đoan hơn thế, người ta còn phát triển một lý luận sai lầm về cái gọi là "giá trị Á châu" trong tiến trình phát triển, tức là gián tiếp đề cao kỷ cương thậm chí quyền lực nhà nước châu Á như yếu tố phát triển có ưu thế ổn định hơn sự phóng túng của cá nhân hay rối loạn của thị trường theo kiểu Tây phương. Lý luận này còn hàm ý bênh vực sự chuyên quyền và độc đoán sung dụng tài nguyên của một nhà nước anh minh sáng suốt nên cổ võ ngầm cho chế độ độc tài. Nó bị phủ nhận bởi vụ khủng hoảng kinh tế Đông Á năm 1997-1998. Chế độ tập quyền dẫn tới tham nhũng và sai lầm trong phân phối tài nguyên đầu tư và đối phó với chu kỳ suy trầm, nên không thể là động lực tốt cho phát triển.
Việt Long: Như ông vừa trình bày thì đạo Tin Lành, văn hoá đề cao tự do cá nhân của Âu Châu hoặc tư tưởng Khổng Mạnh của Á Châu không nhất thiết là một ưu điểm hoặc là một trở ngại tự nhiên và tiên khởi của công cuộc phát triển"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy và ta nên vượt qua những nghịch lý ấy thì mới hiểu ra yếu tố quyết định của công cuộc phát triển. Một thí dụ khác cũng rất đáng chú ý cho người Việt là sự khác biệt giữa Hàn Quốc và Đài Loan. Đại Hàn nói chung là một bán đảo đã được Nhật Bản cưỡng bách công nghiệp hoá từ đầu thế kỷ 20. Sau khi bị chia đôi thì Bắc Hàn vốn đã có nền công nghiệp nặng lại bị lụn bại dưới chế độ cộng sản. Trong khi miền Nam, thời đó chủ yếu là chỉ có canh nông, lại phát triển mạnh về kỹ nghệ để bắt kịp Nhật Bản trên nhiều địa hạt siêu kỹ thuật. Nhưng dân Đại Hàn nói chung đều nghi ngờ và thật ra không ưa Nhật Bản. Ngược lại, là một thuộc địa của Nhật từ xưa, Đài Loan không có tinh thần tỵ hiềm đó với nước Nhật và cũng không phát triển bằng công nghiệp nặng hay kỹ nghệ chế biến như Nam Hàn. Họ chọn đường khác, với một số ngành công nghệ tin học, thương mại và dịch vụ kể cả tài chính. Đa số dân Đài Loan vẫn theo đạo Phật nhưng kinh doanh rất giỏi chứ không vì Phật giáo mà quay lưng với phát triển. Yếu tố khác biệt giữa bốn nước ấy - là Nhật Bản, Nam Hàn, Bắc Hàn và Đài Loan - không phải là văn hoá Á Châu mà là sự chọn lựa về chế độ chính trị.
Việt Long: Và nói về chế độ chính trị, chúng ta không quên trường hợp Ấn Độ, một cường quốc đang lên mà đã có lần ông nhắc tới trong một chương trình về Trung Quốc vào tháng trước"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy, khi mình nói đến cách so sánh của giáo sư kinh tế Milton Friedman giữa chế độ tập thể chính trị và tự do kinh tế của Trung Quốc với chế độ tự do chính trị mà kinh tế tập thể của Ấn Độ. Năm 2006, ông Friedman dự báo là Trung Quốc sẽ có xung đột trong khi Ấn sẽ phát triển mạnh sau khi từ bỏ chế độ kinh tế tập thể từ gần hai chục năm trước.
- Về trường hợp Ấn Độ, ta chú ý tới một đặc điểm của họ là đa nguyên về văn hoá và tôn giáo nhờ tinh thần cởi mở và dân chủ về chính trị. Sau khi theo đuổi đường lối kinh tế nhuốm mùi bao cấp khá lâu thì từ năm 1991 trở về sau, đảng Quốc Đại thuộc cánh tả đã từ bỏ đường lối ấy để ngả theo kinh tế thị trường. Sau đó, đảng bảo thủ Bharatiya Janata tiếp tục tự do hoá kinh tế và năm 2005, liên minh cánh tả trong đó có cả đảng Cộng sản lên cầm quyền vẫn theo đuổi con đường cải cách kinh tế cho thông thoáng hơn. Dư luận quá chú ý tới Trung Quốc mà chưa nhìn thấy sự lớn mạnh đáng kể của Ấn Độ. Thành thử, yếu tố quyết định cho công cuộc phát triển không tùy thuộc vào văn hoá Khổng Mạnh, Ấn Độ giáo, Hồi giáo hay Phật giáo mà có lẽ phải tìm thấy ở nơi khác.
Việt Long: Chúng ta đi tới kết luận và câu hỏi cuối của chúng tôi ở đây là nếu không là văn hoá thì động lực nào mới quyết định về tiến trình phát triển trong lâu dài"
Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi thiển nghĩ rằng động lực chính cho công cuộc phát triển một quốc gia đi theo kinh tế thị trường là "khả năng định chế hóa tinh thần cởi mở để hệ thống chính trị lấy được những quyết định đúng đắn về kinh tế và xã hội". Tôi xin giải thích từng yếu tố trong này.
Thứ nhất, "tinh thần cởi mở" có nghĩa là không ai trong xã hội lại có độc quyền chân lý, tức là phán rằng chỉ tư tưởng của mình mới duy nhất có lý. Chủ quan như vậy thì dễ quyết định sai về kinh tế khi mà thị trường hoạt động ngày càng phức tạp và mở ra toàn cầu mà thời gian quyết định để ứng phó lại thu hẹp, trễ một ngày hay một giờ là bị lỗ bạc tỷ. Thứ hai, "định chế hóa tinh thần cởi mở" ấy có nghĩa là phải cho xã hội có những quyền hiến định về tự do thông tin và trao đổi tư tưởng hầu ai ai cũng có thể hiểu rõ sự vận hành của thị trường nội địa và quốc tế mà tìm ra giải pháp có lợi và có quyền phê phán những quyết định sai để còn kịp sửa. Thứ ba, hệ thống chính trị phải phân quyền để thiểu số lãnh đạo không có độc quyền quyết định về kinh tế vì lẽ tất yếu là nếu có toàn quyền thì sẽ lấy loại quyết định có lợi cho thiểu số ở trên mà hy sinh quyền lợi của đa số còn lại, thí dụ như về đầu tư, thuế khóa, tín dụng, lương bổng. Làm như vậy là cản trở phát triển và thu hẹp khả năng ứng phó cấp thời với các chu kỳ suy trầm kinh tế. Tổng kết lại thì không phải văn hoá mà là chính trị và chính sách vĩ mô mới có ảnh hưởng mạnh nhất tới sinh hoạt kinh tế và công cuộc phát triển trong trường kỳ. Xứ nào cũng có thể bị suy trầm hay suy thoái kinh tế, nhưng xã hội càng tự do thì càng sớm tìm ra giải pháp thích đáng cho đa số.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
...gia nhập WTO, Việt Nam bắt đầu giong buồm đi ra biển lớn thì có thể vớt được cá lớn nhưng cũng có thể bị giông bão nặng nề hơn...Hội nghị các Bộ trưởng Tài chính kỳ thứ 13 của Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Á châu Thái bình dương sẽ được triệu tập tuần này tại Hà Nội. Trong nghị trình thảo luận của Diễn đàn APEC có hồ sơ chấn chỉnh
Tiếp tục loạt bài về những chuẩn bị của Việt Nam cho viễn ảnh gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, Diễn đàn Kinh tế kỳ này của đài RFA sẽ trao đổi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa về một đề tài khá chuyên môn mà quan trọng cho lãnh vực nông nghiệp Việt Nam là Thị trường Thương phẩm. Tiết mục chuyên đề này sẽ do Việt Long
Trong thời gian trước và sau Đại hội Đảng X (4/2006), bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tung ra phong trào viết bài chống lại những cuộc vận động Dân chủ ở trong nước và phản bác
Hoa Kỳ chưa biết sẽ xử trí ra sao với Iran… Ngày xưa, phu mỏ thường đem theo chim hoàng yến xuống hầm như một phương cách an toàn: thấy chim chết trong lồng vì khí độc thì còn kịp ứng phó… Từ đấy thành ngữ "hoàng yến dưới hầm" có nghĩa là một biến cố nhỏ, nhưng có thể báo hiệu tai họa rất lớn. Tuần qua, giữa những vận động
Tháng hai năm 2000, nhà cầm quyền Hà Nội đã tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng Cộng Sản Đông Dương (ĐCSĐD). Trong dịp này họ viện dẫn những thành quả mà họ đã đạt được trong nửa thế kỷ vừa qua và tự ban cho mình tư cách và tính chính thống để độc quyền lãnh đạo quốc gia từ trước tới nay và từ nay về sau
Khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ bị cạnh tranh và hiệu năng kém lẫn tham nhũng cao của khu vực nhà nước khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa, nhân viên bị sa thải... Việt Nam đang nuôi cả hy vọng lẫn mối lo trong viễn ảnh gia nhập tổ chức WTO. Diễn đàn Kinh tế đài RFA sẽ đề cập tới những vấn đề trên qua phần trao đổi với
Vào ngày 12 tháng 7 năm 2006 vừa qua, Ban chỉ đạo quốc gia khắc phục hậu quả chất độc hóa học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, thường được gọi là Ban chỉ đạo 33, thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, đã tổ chức một cuộc tọa đàm tại Hà Nội để bàn về phương hướng và giải pháp khắc phục hậu quả mà chánh phủ
Mục tiêu chính của phái đoàn thương mại Hoa kỳ ngồi thương thuyết với phái đoàn cộng sản Việt nam là làm sao đạt được những đòi hỏi có lợi cho tư bản Hoa kỳ với những đặc quyền, đặc lợi ở thị trường Việt Nam. Đó là cái gía mà cộng sản Việt Nam phải trả để
Nghệ thuật mượn sức đôi khi là nghệ thuật mệt sức. Trong mọi cuộc thương thảo, người ta chỉ đạt kết quả khi đôi bên cùng nhượng bộ… một phần. Khi cần nhượng bộ, nhà thương thuyết phải nói với đối phương: "đây là cố gắng tột cùng của chúng tôi, chúng tôi mà lùi thêm một bước nữa thì… chúng ta cùng chết." Sau đấy, khi trở về trình bày với đồng chí,
Thế giới đang e ngại nguy cơ suy trầm kinh tế thì đúng một tuần sau khi Bắc Hàn phóng hỏa tiễn tại Đông Bắc Á, quân khủng bố lại đánh bom tại Mumbai của Ấn Độ; thế rồi xung đột vừa bùng nổ tại Trung Đông và có thể suy đồi thành chiến tranh lan rộng. Diễn đàn Kinh tế Đài RFA sẽ tìm hiểu về hậu quả của cuộc chiến đối với kinh tế
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.