Hôm nay,  

Gautier Và Những Cuộc Tản Bộ Buồn Istanbul

7/21/200800:00:00(View: 7865)
Gautier, nhà văn, ký giả, nhà thơ, nhà dịch thuật, và tiểu thuyết gia, là bạn trung học của Nerval. Hai người trải qua thời trai trẻ cùng với nhau, cả hai đều mê chủ nghĩa lãng mạn của Victor Hugo, và có một dạo, họ ở rất cận kề với nhau, ở Paris, và chẳng bao giờ có chuyện sứt mẻ. Một vài ngày trước khi tự tử, Nerval đi thăm bạn, và khi Nerval tự treo mình lên một cái cột đèn đường, Gautier viết một bài tưởng niệm cảm động, theo dòng “đi tìm một linh hồn”, về người bạn đã mất của mình.

Hai năm trước, năm 1852, (chín năm sau chuyến đi và đúng một trăm năm trước khi tôi ra đời), những biến động -  sau này khiến Nga xô đối nghịch với Anh, đem nước Pháp đến gần với Đế quốc Ottoman, và mở ra Cuộc Chiến Crimean - lại một lần nữa khiến cho những cuộc du hành về phương Đông trở nên thích thú đối với những độc giả Pháp. Khi Nerval mơ tưởng một chuyến đi thứ nhì về phiá Đông, thì chính là Gautier đã tới Istanbul. Nhờ tầu thuyền chạy bằng máy hơi nước ở Địa Trung Hải khiến chuyến đi của ông xuất phát từ Paris chỉ còn mười một ngày.

Gautier ở Istanbul bẩy mươi ngày. Ông viết về chuyến đi, lúc đầu, là cho nhật báo, ông là tay chuyên viết fơi ơ tông, [viết từng kỳ, liên tiếp cho một nhật báo], và sau đó, cho in thành sách mà ông đặt tên là Constantinople. Cuốn sách quá phổ thông và được dịch ra nhiều ngôn ngữ, và được coi là chuẩn mức cho những cuốn sách viết về Istanbul vào thế kỷ 19 (cùng với cuốn Constantinopoli, của  Edmondo de Amici, được xuất bản tị Milan, ba chục năm sau).

So với Nerval, Gautier tay nghề cao, sắp xếp bảnh, và thông thoáng hơn. Chẳng có gì là lạ: Là một nhà chuyên môn viết fơi ơ tông, một nhà phê bình, và một ký giả chuyên về nghệ thuật, ông còn viết loại tiểu thuyết từng kỳ cho nhật báo (có lần ông ví mình như nàng Scheherezade bắt buộc mỗi đêm phải bịa ra một chuyện). Do phải viết hàng ngày như thế, Gautier tạo cho mình được tốc độ, và sự sống động, (và đây là điều Flaubert chê ông). Nhưng nếu chúng ta bỏ qua những điều đã trở thành bản kẽm, được lập đi lập lại đến trơ ra, về những ông vua Hồi giáo, những hậu cung của họ, những nghĩa địa, cuốn sách của ông thật tuyệt về mặt phóng sự. Nếu cuốn sách lúc nào cũng ngân nga ở trong đầu Yahya Kemal và Tanpinar, giúp họ tạo ra đuợc một hình ảnh của thành phố, ấy là vì Gautier, ngoài tài năng là một ký giả nhà nghề, còn là một người biết nghe lời khuyên của Nerval, để tâm tới đều mà bạn ông gọi là “những cánh gà”, lặn lội vào những khu phố tối tăm, nghèo khổ, thám hiểm, khai phá những điêu tàn đổ nát, những tối tăm, dơ dáy, để chỉ cho những độc giả Tây phương hiểu ra rằng, những khu vục nghèo khổ đó quan trọng chẳng thua gì những khung cảnh nguy nga, hoành tráng.

Khi đi qua đảo Cythera, Gautier nhớ Nerval nói với ông về một xác chết ông ta nhìn thấy, được bọc trong bộ quần áo dính dầu, treo lủng lẳng trên một cây cột (hình ảnh này, cả hai đều yêu thích, và một trong hai người sau đó đã bắt chước làm theo, và sau này, còn được Baudelaire ứng tác, đưa vô một bài thơ của ông nhan đề “Cuộc hành trình tới Cythera”).

Khi tới Istanbul, Gautier, giống như Nerval, vận chiếc “áo dài Hồi giáo”, và tàn tàn tản bộ một cách thật thoải mái. Như Nerval, ông tới Istanbul vào mùa lễ Ramadan, và theo như bạn mình, thả mình vào đêm hội của nó. Ông cũng mò tới Uskudar ngắm những ông thầy tu Rufai cử hành những nghi lễ bí ẩn, dạo chơi nghĩa địa, nhìn những đứa trẻ chơi đùa bên những bia mộ, đi coi hát bóng Karagoz, viếng những cửa hàng, lặn lội trong những khu chợ đông đúc của thành phố, chăm chú theo dõi những khách bộ hành qua lại. Vẫn bắt chước Nerval, ông cố gắng diện kiến từ xa, ít ra một lần, nhà vua Sultan Abdulmecit, trên đường đi cầu nguyện vào những ngày Thứ Sáu. Như hầu hết những nhà du lịch Tây phương, ông cũng đưa ra những công thức của mình về đàn bà Hồi giáo - cuộc sống khép kín, nỗi khốn khó, không làm sao lân la, tới gần được, và sự bí ẩn của họ (ông khuyên độc giả của mình: chớ, chớ bao giờ hỏi thăm sức khoẻ của bà xã của bất cứ một ông đàn ông Hồi giáo nào!). Nhưng ông thành thực bảo chúng ta, phố xá thì đầy đàn bà, ngay cả đàn bà đi một mình. Ông bàn dài dài về Cung điện Tokapi Palace, những thánh đường, Nhà Ca Múa Hát, và tất cả những nơi chốn mà Nerval gọi là những cái bẫy dành cho khách du lịch. Tuy nhiên, những nơi chốn, phong cảnh, và đề tài như vậy, là đều dành cho khách du lịch Tây Phương, họ đến Istanbul là để tham quan những nơi chốn đó, cho nên, chúng ta cũng đừng nên quá coi trọng nhận xét của Nerval. Mặc dù đôi khi tỏ ra thô lỗ, nhưng nói chung, Gautier, do say mê khái quát hoá sự kiện, quan tâm đến chi tiết quái dị, khác thường, thật thích thú khi đọc ông, đấy là chưa kể con mắt hội họa của ông, khi nhìn ngắm, mô tả sự vật.

Cho đến khi ông đọc những bài thơ in trong Đông phương của Hugo, vào lúc mười chin tuổi, Theophile Gautier vẫn mơ uớc mình sẽ là một họa sĩ. Ông rất được thời của ông ngưỡng mộ, như một nhà phê bình nghệ thuật. Để miêu tả những cái nhìn và những phong cảnh Istanbul, ông dựa vào một cuốn tự vựng phê bình hội họa, chưa từng được ai áp dụng cho Istanbul.  Miêu tả bóng dáng của Istanbul, và Mũi Vàng, nhìn từ ngọn đồi, nơi có tu viện Galata Mevlevi Lodge (cũng từ chỗ này, Nerval đã từng mô tả thành phố, trước đó chín năm, đây cũng là trạm cuối của đường xe điện Macka-Tunel, mà khi còn là một đứa bé tôi được mẹ dẫn đi tới Beyoglu mua sắm đồ, và bây giờ là Quảng trường Tunel): “Cảnh đẹp đến nỗi có cảm giác cảnh không thực”, và rồi ông tiếp tục mô tả những ngọn tháp, những vòm cung ở Hagia Sophia, Beyazit, Suleymaniye, Sultanahmet, những đám mây, những đợt nước của Mũi Vàng, những vườn bách ở Sarayburnu, và, đằng sau chúng, là một nền trời “xanh nhạt, dịu dàng đến nỗi không thể nào chịu đựng được”, và những trò chơi của ánh sáng giữa chúng – ông miêu tả tất cả những nét đó bằng niềm hân hoan thích thú của một nghệ sĩ ngắm nghía nét tinh sảo của bức tranh do chính mình tạo ra, và bằng sự tự tin của một nhà văn kinh nghiệm đầy mình. Ngay cả độc giả chưa bao giờ nhìn thấy cảnh này cũng cảm thấy thích thú. Panpinar, nhà văn Istanbul, cực kỳ mẫn cảm trước phong cảnh Istanbul, được coi như là một “màn trình diễn rộng lớn của ánh sáng”, người đã tạo ra cho mình cả một bộ tự vựng, một con mắt chuyên về chi tiết, được vậy, là nhờ đọc Gautier. Trong một bài viết, trong thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến, Tanpinar chỉ trích những tiểu thuyết gia khác cùng đàn đúm với ông, về điều, họ không thèm để ý đến “nhìn” và “mô tả” sự vật chung quanh và, trong khi vinh danh những nhà văn viết bằng con mắt của một họa sĩ như Stendhal, Balzac, và Zola, ông nói thêm, Gautier, chính ông ta, cũng là một họa sĩ.

Gautier hiểu làm thế nào chuyển những cái nhìn của ông thành những chữ, làm thế nào chuyên chở những cảm nghĩ, được khơi dậy bởi những đường nét, chi tiết thật đắt, và trò chơi ánh sáng, ở đỉnh cao của quyền năng nghệ thuật của mình, khi kể lại những chuyến đi của ông vào những “cánh gà”, của nhà hát Istanbul. Trước khi khởi sự những chuyến đi dọc theo những bờ tường của thành phố để ra vùng ngoại vi của nó, Gautier, dựa vào những nhà văn đi trước ông, đưa ra nhận xét, những cái nhìn hoành tráng, tuyệt vời, về thành phố cần ánh sáng và một khung cảnh nhìn thật rõ ràng, bởi vì, cũng giống như những dàn dựng trên sàn hát, chúng sẽ mất sự quyền rũ, nếu nhìn thật gần: Khoảng cách đem đến cho phong cảnh sự hoành tráng, vẻ tuyệt vời, đồng thời làm nhạt nhòa đi, vẻ tiều tụy, u ám, chật hẹp, quá quắt, dơ dáy của những con phố, và những mớ nhà cửa, cây cối hỗn độn, khiến chúng trở thành lung linh mầu sắc, nhờ tấm“bảng mầu của mặt trời”.

Nhưng con mắt họa sĩ của Gautier còn tìm ra vẻ đẹp buồn bã, giữa dơ dáy và hỗn độn. Ông chia sẻ sự hân hoan, niềm khích động của văn chương lãng mạn trước những điêu tàn của những lâu đài thành quách Hy Lạp và La Mã, những cái còn lại của những nền văn minh đã biến mất, cho dù ông khinh bỉ sự rạp mình kính sợ. Khi còn trẻ, mơ ước trở thành một họa sĩ, ông nhận ra những căn nhà trống rỗng của khu Doyenne cul-de-sac, và Saint-Thomas-du-Louvre Church (gần điện Louvre, kế bên nơi Nerval từng cư ngụ) thật quyến rũ dưới ánh trăng.

Rời khách sạn (ở Beyoglu bây giờ), và đi bộ xuống Galata, tới những bãi biển Mũi Vàng, rồi vượt cây cầu Galata Bridge (được tái xây cất vào năm 1853, một “cây cầu của những con thuyền”, như ông viết), Gautier và nguời Pháp dẫn đường mò mẫm tới Unkapani, khu Tây Bắc, chẳng mấy chốc, họ “lặn vào một mê cung của những con đường nhỏ Thổ nhĩ kỳ”. Càng đi xa, họ càng cảm thấy bị cô lập, đàn chó đi theo họ mỗi lúc một thêm đông, sủa gâu gâu, nhe hàm răng nhơn nhởn của chúng ra. Mỗi lần tôi đọc về những căn nhà gỗ sập xệ, không sơn sửa, tối thui, những vòi máy nước công cộng bị phá bể, những ngôi mộ không chăm sóc, mái đổ nát, và tất cả những gì họ quan sát được, trong khi đi tản bộ như thế, là tôi lại cảm thấy hoang mang, ngỡ ngàng, bởi vì những nơi chốn mà tôi nhìn thấy, trong những lần ngồi trên xe hơi với cha tôi, một trăm năm sau, y chang như vậy, chẳng có gì thay đổi cả, ngoại trừ những hè đường. Ấy là vì Gautier, cũng như tôi, đều cho rằng chẳng nghĩa địa nào đẹp, nếu thiếu chúng, chúng ở đây, là những căn nhà gỗ ám đen, điêu tàn, hoang phế, những bức tường đá, những con phố rỗng tuếch, những hàng tùng, bách… Khi tôi bắt đầu nghi lễ của chính tôi, nghĩa là, bắt đầu thực hành những chuyến tản bộ thành phố buồn như vậy, vòng vòng cũng như khu phố hoang tàn chưa Tây phương hóa như vậy (buồn thay, lửa và xi măng, gạch, vữa chẳng bao lâu sau đó sẽ xóa sạch], tôi nhận ra cảnh vật làm mệt nhoài người nhìn, như Gautier, tuy nhiên cũng như ông, tôi vẫn cảm thấy sự hối thúc, “từ đường này tới lối kia, từ xóm này qua xóm nọ”. Lời kêu gọi cầu nguyện có vẻ đối với ông cũng như đối với tôi sau đó, là nhắm vào những “căn nhà câm điếc, mù lòa, nằm trong im lặng và cô đơn”. Ông chắc sẽ nghĩ đến dòng thời gian trôi chảy, khi ngắm nhìn một vài khách bộ hành, một vài sinh vật thoáng qua: một bà già, một con thằn lằn biến mất giữa đám gạch đá, hai hay ba đứa trẻ ném sỏi xuống một bồn nước bể nát (cảnh này làm ông nhớ tới một bức tranh mầu nước của Maxime du Camp, viếng thăm thành phố hai năm trước với Flaubert). Khi cảm thấy đói, ông nhận ra khu này vắng hoe những tiệm ăn, những nhà hàng, và đành ngắt mấy trái dâu tằm từ những hàng cây hai bên đường, chúng đem mầu sắc, hương vị đời sống đến cho những con phố ở đây, làm dịu đi vẻ lầm lì của những khối bê tông, ngay từ thời thơ ấu của tôi, hay là năm mươi năm sau đó, khi tôi đang viết những dòng này, thì cũng vậy. Ông làm quen với không khí làng xã của khu vực lối xóm Hy Lạp Samatya và Do Thái Balat, nơi được gọi là Ghetto Istanbul. Mặt trước của những căn nhà ở Balat thì đầy những vết nứt nẻ, lở lói, những con phố dơ dáy, bùn bụi, tuy nhiên, khu phố Hy Lạp Fener được chăm sóc trông đỡ hơn. Nhưng bất cứ khi nào ông nhìn thấy một mảnh tường còn lại của thời kỳ Byzantine, hay một khúc cống lớn, điều mà ông ngộ ra, là gỗ, tưởng phù du, tưởng dễ tiêu trầm theo với thời gian, hoá ra là bền bỉ hơn nhiều, so với gạch đá.

Những khoảnh khắc cảm động nhất trong cuộc tản bộ dài, mệt mỏi, bất thình xẩy ra, khi Gautier bắt gặp những điêu tàn, cái còn lại của một thời kỳ Byzantine, chạy dài thấu suốt một cõi phố xa xa:  Ôi điêu tàn ư, đâu chỉ có điêu tàn!

Gautier chuyển tải một cách thật là mãnh liệt, cái sự dầy, cái sự chịu đựng dai dẳng với thời gian, của mấy bức tường có từ thời văn minh Byzantine: ôi chúng mới cao ngạo làm sao, ôi thời gian sói mòn chúng mới ghê gớm thế nào! Những vết nứt chạy dài trọn chiều dài của một cái tháp (khi còn là một đứa bé, nhìn, là tôi thấy khiếp sợ, làm sao không"), những mẩu vụn nằm lả tả, rải rác ở dưới đáy những bức tường, trên mặt đất (giữa thời kỳ Gautier và của chúng ta, trận động đất lớn vào năm 1894 đã gây tổn hại nặng nề cho những bức tường của thành phố). Ông mô tả đám cỏ, ở trong những vết nứt, và những cây vả: những chiếc lá xanh, lớn, của chúng làm dịu đi những đỉnh tháp, [làm dịu đi] nỗi u sầu đần độn của những khu phố đìu hiu tiếp giáp với những bức tuờng, sự im lặng của những lối xóm và những căn nhà xiêu vẹo của họ. “Thật khó mà tin rằng, có một thành phố đang còn sống ở đằng sau những ngổn ngang thành quách như thế này”, Gautier viết. “Tôi nghĩ, chẳng có một nơi nào trên thế gian, sỏi đá khô cằng, buồn đến cháy da cháy thịt, như là con lộ này, nó chạy dài hơn ba dậm, giữa điêu tàn, ở một bên, và nghĩa địa, ở bên kia”.

Hạnh phúc nào tôi lấy ra được, từ những xác quyết như thế về huzun Istanbul" Tại sao tôi hì hà hì hục, cố làm sao chuyển tải tới độc giả nỗi buồn mà tôi cảm thấy ở trong thành phố mà tôi trải qua trọn cuộc đời của tôi"

Vào những năm cuối của cõi 150 năm (1850-2000), tôi không còn hoài nghi, không phải chỉ về chuyện huzun đã ngự trị Istanbul, mà nó còn trải dài ra những khu vực chung quanh. Điều mà tôi cố gắng giải thích, là, những gốc rễ nỗi buồn Istanbul, là từ Âu Châu: Ý niệm này, thoạt đầu được khai phá, diễn tả, và thi hóa ở Pháp (bởi Gautier, dưới ảnh hưởng của bạn của ông, là Nerval).

Và nếu như thế, tại sao tôi loay hoay bận bịu quá nhiều với nó"

Tại sao bốn nhà văn của tôi lại ‘care’ nhiều như thế về nó" Về cái điều mà Gautier và những nhà văn Tây phương khác nói, về Istanbul"

Nguyễn Quốc Trụ (tanvien.net)

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.