Hôm nay,  

Kusho: Vị Tăng Vn Tại Aán Độ, Kể Về Học Trình Phật Pháp

21/02/200900:00:00(Xem: 11240)

Kusho: Vị tăng VN Tại Aán Độ, Kể Về Học Trình Phật Pháp
Cư sĩ Nguyên Giác PTH
Hình ảnh Thầy Kusho.

Tấm ảnh Thầy Kusho ngồi giữa ba (phải) và mẹ (trái) trong khi ngồi trên ghế phía sau là bạn thân của Thầy là Thầy Zong, và trên tường là tấm ảnh của Zong Rinpoche (kiếp trứơc của Thầy Zong, theo các Thầy Tây Tạng cho biết). Hình vị sư già đã viên tịch Zong Rinpoche trên vách trông giống y hệt cậu thiếu niên Thầy Zong ở kiếp này.


Nét mặt thơ trẻ nhưng trầm lắng, bước đi dịu dàng nhưng vững vàng, và lúc nào cũng mỉm cười. Thầy Kusho trong bộ trang phục tăng sĩ Tây Tạng đã bước đi giữa Quận Cam trong tăng tướng trang nghiêm như thế mấy tuần qua, và hôm Thứ Ba  17-2-2009 đã giành cho Việt Báo một cuộc phỏng vấn đặc biệt.

Thầy Kusho là một vị sư trẻ, sinh năm 1986, nghĩa là năm nay mới 23 tuổi, nhưng đã nổi tiếng trong cộng đồng Mỹ gốc Việt và được truyền thông Hoa Kỳ - đặc biệt là báo Orange County Register và Los Angeles Times - phỏng vấn với nhiều bài viết. Riêng báo OC Register năm 2002 đã gửi một toán phóng viên sang tận Dharamsala, Aán Độ, ở nhiều ngày để viết một loạt bài đặc biệt về Kusho.
Lúc đó, Kusho là một thiếu niên nhưng gây chú ý đặc biệt, không chỉ vì là nhà sư trẻ nhất, lúc đó mới 16 tuổi, tại tu viện đặc biệt của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng cũng là người Việt Nam đầu tiên, chính xác là một người Mỹ gốc Việt đầu tiên, vào tu viện Gedan Shartse Monastery và rồi vào Institute of Buddhist Dialectics, những nơi tuyển sinh rất khó khăn và là nơi các tu sĩ sẽ học trung bình 25 năm mới hoàn tất học trình Geshe - một học trình có thể dịch là Tiến Sĩ Triết Học, nói theo ngôn ngữ học đường Hoa Kỳ.
Thầy Kusho sinh tại Hoa Kỳ năm 1986, theo lời thầy kể bằng tiếng Việt. Đây cũng là điều bất ngờ, vì Thầy Kusho nói tiếng Việt lưu loát cỡ 90%, với giọng Bắc Sài Gòn. Gặp những chữ khó, Thầy Kusho sử dụng tiếng Mỹ. Trả lời phóng viên, Thầy nói là Thầy "đọc được tiếng Việt sơ sơ."


Do một cơ duyên, mẹ của Thầy Kusho năm 1990 đọc báo thấy bản tin về ngài Lati Rinpoche tới giảng pháp ở Los Angeles. Hôm sau, chị Huyền (tên thường gọi của mẹ của Thầy Kusho) tới chùa thăm vị sư Tây Tạng Lati Rinpoche, và tuy là lần đầu gặp nhưng sau này chị kể rằng chị có cảm giác đã gặp Thầy Lati từ xa xưa rồi, và khi nghe chuyện về Lhasa và Hy Mã Lạp Sơn chị thấy đó là những nơi như là quê cũ của chị. Hôm sau, chị Huyền chở 3 con tới học với Thầy Lati Rinpoche. Thầy Lati rời California hai tuần sau, nhưng gia đình Kusho từ đó tới chùa này, có tên là Thubten Dhargye Ling Buddhist Center, hàng tuần, có khi ba lần mỗi tuần để dự các khóa học.
Đó là cơ duyên để Kusho trở thành học trò của Thầy Geshe Tsultim Gyeltsen, viện chủ chùa này.
Cũng cần nhắc rằng, Thầy Geshe là vị sư được Đức Đạt Lai Lạt Ma ủy thác công việc hoằng pháp ở Anh và rồi Hoa Kỳ, và rồi ở nhiều nứớc Tây Phương. Thầy Geshe, còn được gọi thân mật là Geshe-la, là bạn của cố Hòa Thượng Thích Thiên Aân, vị Tăng Sĩ Việt Nam đầu tiên dạy ở các đại học vùng Los Angeles, từ thời thế kỷ trước. Thầy Geshe đã đón nhận cậu bé Don Phạm và rồi cậu thiếu niên này mang tên gọi là Kusho, và nhiều năm sau đã đưa vị tu sĩ thiếu niên Kusho sang cho các tu viện của ngài Đạt Lai Lạt Ma ở Ấn Độ hướng dẫn. Bây giờ, năm 2009, vị tu sĩ thiếu niên Việt Nam đó đã trở thành Đạị Đức Konchok Woser, 23 tuổi, hiện đang tu học ở Institute of Buddhist Dialectics ở Dharamsala.
Tuy vậy, những người chung quanh vẫn gọi Đại Đức Konchok Woser là Thầy Kusho, một cái tên quen thuộc không chỉ trong cộng đồng Phật Giáo vùng Nam Cali, mà còn là tên gọi thân mật dùng trong cả các Phật Tử ở chùa Thubten Dhargye Ling Buddhist Center, nơi đang thọ đại tang tuần này: Thầy Geshe Tsultim Gyeltsen vừa viên tịch.


Trả lời các câu hỏi của phóng viên, Thầy Kusho nói bằng tiếng Việt, cho biết từ cơ duyên tới chùa từ thời thơ ấu, năm 1990, Thầy đã sang Dharamsala tu học năm 2002, được một năm rưỡi ở tu viện Gaden Shartse Monastery rồi vào thẳng Institute of Buddhist Dialectics (IBD).
Năm 2004, Thầy Kusho thọ Sa Di (10 giới). Và năm 2008, Thầy Kusho thọ đại giới Tỳ Kheo, trở thành vị sư của dòng Gelug, mà người cao cấp nhất là Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Trung bình mỗi 2 năm, Thầy Kusho về Quận Cam để làm lại giấy tờ chiếu khán, lần này về cũng là lý do như thế, và cũng trùng hợp lúc Thầy Geshe-la sắp viên tịch.
Cũng cần nhắc rằng nhiều năm qua có tin đồn rằng Thầy Kusho là kiếp sau của một vị sư nổi tiếng của Việt Nam. Phóng viên Việt Báo hôm Thứ Ba đã hỏi, "Thầy Kusho có nhớ được kiếp trước của Thầy là ai không""
Thầy Kusho mỉm cười và đáp, "I wish I remember…" (Ước gì tôi nhớ được…)
Được hỏi, bao giờ sẽ hoàn tất học trình ở IBD, Thầy Kusho nói dự kiến gần 25 năm nữa.
Được hỏi, Thầy có dự tính sau này về Việt Nam hoằng pháp không, Thầy Kusho cũng cười và nói, "Chưa biết, up to the circumstances" (Chưa biết, để tùy duyên thôi).
Thầy Kusho nói, trong học viện IBD hiện có khoảng 100 vị tăng, ngoại trừ vài vị tăng là gốc Mỹ, Anh, và vài quốc tịch khác, còn hầu hết là gốc Tây Tạng trong đó phân nửa sinh ở Tây Tạng và vượt biên được, và phân nửa là ra đời trong các nơi gia đình họ lưu vong, chủ yếu là ở Aán Độ. Hiện thời, vị sư cùng phòng với Thầy Kusho là một vị tăng có quốc tịch Israel (Do Thái).


Buổi sáng 5 giờ, cả học viện thức dậy, sửa soạn, tơi 6 giờ ra chính điện tụng kinh cầu nguyện chung. Buổi lễ sáng kéo dài thường là tới 7:30AM. Sau khi tụng kinh, là ăn sáng ngay trong chính điện. Và sau đó là chia các lớp để học. Thầy Kusho đang học 5 lớp toàn thời gian. Tới khoảng 11:30PM thì hoàn tất các lớp, về lại nhà ngủ.
Tất cả các tăng sinh đều ở trong khuôn viên IBD. Việc tu học là 6 ngày trong tuần, chỉ nghỉ vào chủ nhật. Hoàn toàn không cho xem truyền hình. Máy TV duy nhất để ở chính điện, chỉ mở cho xem vào chủ nhật trong các chương trình tin tức thế giới, và tin về Tây Tạng. Ngày chủ nhật, các tăng sinh được ra phố; lúc đó Thầy Kusho mới vào tiệm để sử dụng Internet, liên lạc với gia đình.
Thầy Kusho cho biết, chương trình học tổng quát là 5 phần. Thầy nói bằng tiếng Anh về các lớp này, và phóng viên chú thích sang tiếng Việt:
- Prajna Paramita (junior) class, Bát Nhã Ba La Mật Đa, sơ cấp.
- Prajna Paramita (senior) class, Bát Nhã Ba La Mật Đa, cao cấp.
- Madhiyamita class (Trung Quán Luận)
- AbhiDharma class (A Tỳ Đạt Ma Luận)
- Expanded sects study/Tantra class (Các Bộ Phái Khác/ Lớp Mật Tông).
Phương pháp học Thầy Kusho được dạy là, "listening, thinking, practicing." Tiếng Việt sử dụng trong các chùa Việt Nam dịch là "văn, tư, tu" (lắng nghe, suy nghĩ, và thực hành).
Trong mỗi chương trình học, lại có các phần khác nhau. Có khi mở một vài lớp đặc biệt cho một số trường hợp. Lúc đó, các lớp  ngắn hạn này có thể nhận cư sĩ và ni sư vào cho các lớp đặc biệt. Đã từng có nhiều lớp đặc biệt này, mà người tham dự, theo lời Thầy Kusho kể, có 2 phụ nữ Triều Tiên, 3 ni cô Đài Loan.
Cũng cần nhắc rằng, trường hợp Kusho đi tu cũng là cơ duyên đặc biệt. Đích thân ngài Lati Rinpoche phải thực hiện một nghi lễ huyền bí để hỏi ý Chư Phật, xem có nên thu nhận cậu Don Phạm vào tu hay không. Kết quả đưa ra những dấu hiệu rõ ràng: cho cậu Don vào tu. Và cậu đã trở thành nhà sư trẻ gốc Việt đầu tiên ở Dharamsala. 
Nhưng, ngài Lati Rinpoche là ai" Ngài là phụ tá tinh thần của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Trong khi dân tộc Tây Tạng xem Đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Phật Quan Âm (vị Phật của lòng Đại từ đại bi), thì họ xem Lati Rinpoche là một trong các cao tăng chói sáng nhất của thời đại này. Lati Rinpoche là vị sư được công nhận là hậu thân của một thánh tăng Phật Giáo nổi tiếng, bản thân thầy là một vị thánh và là một học giả, cũng là tác giả cuốn sách đã đưa chị Huyền tới Phật Giáo Tây Tạng. Hiện thời, Lati Rinpoche giữ nhiệm vụ dạy kèm riêng cho hậu thân của các vị lạt ma (sư) cao cấp -- và trong nhóm ít người này có cả Thầy Kusho, khi Thầy Kusho mới sang Dharamsala.
Nhưng vị Thầy đã chăm chút cho cậu bé Don Phạm từ khi cậu mới 5 hay 6 tuổi lại là Geshe-la, vị Thầy vừa viên tịch tuần qua.  Ngài Geshe-la đã vào tu viện cổ Gaden Sharte gần Lhasa khi mới 8 tuổi, và Thầy ở đó luôn 30 năm. Cho tới khi sau buổi kinh chiều ngày 14-3-1959, thì biết tin là quân đội Trung Cộng đang tràn vaò thủ đô Lhasa. Geshela biết tin rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đã cùng một toán cận vệ băng rừng núi Hy Mã Lạp Sơn để qua Ấn Độ sau khi chỉ thị cho chư tăng tu viện Gaden Sharte vượt núi.
Lúc đó gần nửa đêm. Geshela chụp lấy vài cuốn kinh, nhét vài mẩu lương thực, và đi bộ về hướng Ấn Độ. Con đường xuyên Hy Mã Lạp Sơn ngập đầy tuyết. Nhiều người Tây Tạng chết giữa đường, hoặc vì bị lính Trung Cộng giết, hoặc vì kiệt sức, trong khi nhiều người khác bị thương tật, mất tay, chân, ngón tay hay ngón chân vì băng giá. Sau 35 ngày vượt núi Hy Mã Lạp Sơn, Geshela tới 1 trại tị nạn Ấn Độ, thì biết tin từ quê nhà là tu viện Gaden đã bị quân Trung Cộng phá hủy; nhiều vị sư bị bắt giam, tra tấn, và có vị bị giết.
Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma gửi Geshela qua Phương Tây để rao giảng Phật Pháp tại Anh và Mỹ. Trung Quốc đã chiếm được Tây Tạng, đã phá hủy vô số tu viện và xóa sạch ngôn ngữ Tây Tạng ở quê hương Geshela, nhưng giáo pháp của Phật đã theo chân  Geshela đi khắp Tây Phương. Vị trí của Geshela lớn tới nổi, toán phóng viên Register đã mệnh danh Geshela là "Trí Tuệ của Tây Tạng" (Wisdom of Tibet).
Được hỏi, Thầy Kusho có muốn gửi lời nhắn gì tới các bạn trẻ gốc Việt hay không, Thầy Kusho nói, rằng các bạn trẻ nên tập nói, tập viết tiếng Việt, vì nếu không làm thế, sẽ làm mất dần nét đẹp của nền văn hóa Việt, và đặc biệt là, tới đây Thầy Kusho nói bằng tiếng Mỹ, và được dịch như sau, "Hãy sống tử tế hơn, yêu thương hơn, từ bi hơn đối với tất cả mọi người chung quanh bạn, để làm thế giới này hòa bình hơn. Hãy nhìn vào trong tâm mình nhiều hơn, chứ không phải cứ nhìn ra ngoài, để thấy rằng bằng cách làm cho tâm mình hòa bình hơn, hạnh phúc hơn thì thế giới quanh mình sẽ hòa bình hơn, hạnh phúc hơn. Và hãy giữ gìn nền văn hóa…"
(Phỏng vấn ngày Thứ Ba 16-2, bài viết hoàn tất vào Thứ Sáu 20-2-2009, có dùng một số thông tin từ bài cũ ở VB.)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Chủ quyền tại Biển Đông là một vấn đề tranh chấp lâu đời và phức tạp nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc. Đây sẽ còn là một thách thức trọng yếu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong nhiều thập niên tới. Hiện nay, dù tình hình Biển Đông vẫn âm ỉ căng thẳng nhưng chưa bùng phát thành xung đột nghiêm trọng, song tình trạng cạnh tranh chiến lược giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc trong khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương đang ngày càng gia tăng...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Trump tắt CNN lúc ba giờ sáng. Không phải vì tức giận, mà vì ông vừa nảy ra ý tưởng điên rồ nhất đời mình. “Alexa, triệu tập Washington.” Câu lệnh vang lên trong bóng tối Phòng Bầu Dục như tiếng thần chú của một pháp sư già gọi linh hồn của quá khứ về để chứng minh rằng mình vẫn còn đúng. Thanksgiving năm nay, ông sẽ không ăn gà tây thật. Ông sẽ ăn ký ức. Phòng Bầu Dục rực ánh xanh lam – thứ ánh sáng lạnh của công nghệ và tự mãn. Trên bàn, con gà tây hologram vàng óng, chín hoàn hảo, không mùi, không khói, không có thịt thật. Một con gà tây ảo cho thời đại ai cũng sợ máu thật. Mọi thứ được lập trình để hoàn hảo: bàn tiệc dài, ly rượu đầy, bốn vị lập quốc hiện ra – George Washington, Benjamin Franklin, Thomas Jefferson, James Madison – được tái tạo bằng toàn bộ diễn văn, thư từ, và những câu họ chưa bao giờ nói. Bốn AI hoàn hảo.
Hội nghị khí hậu Liên Hiệp Quốc lần thứ ba mươi COP30 ở Belém, diễn ra trong bầu khí quyển nặng trĩu: trái đất nóng dần, còn các cường quốc vẫn cãi nhau về “mục tiêu” và “cam kết”. Biểu mức phát thải, phần trăm, hạn kỳ — tất cả lặp lại như những mùa họp cũ. Nhưng đằng sau lớp từ ngữ ấy, trật tự năng lượng của thế giới đã chuyển hướng. Cái trục quyền lực của thời đại đã dời khỏi phương Tây. Từ Tô Châu đến Quảng Đông, những nhà máy nối dài đã âm thầm định giá tương lai của mặt trời và gió. Trung Quốc không nói nhiều. Họ làm. Đến cuối năm 2024, Bắc Kinh vượt sớm mục tiêu 2030, đạt hơn một ngàn bốn trăm gigawatt gió và mặt trời — gấp bốn lần toàn Liên hiệp Âu châu. Tám phần mười chuỗi cung ứng quang điện nằm trong lãnh thổ của họ. Pin và xa điện xuất khẩu hàng chục tỉ Mỹ kim, kéo giá năng lượng sạch xuống một mức không còn cần trợ cấp.
Việc đình trệ gọi thầu dầu hỏa hai năm từ 1971 phải chờ qua 1973 rút cục đã giết chết chương trình tìm dầu của Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và theo đó đã đốt cháy một cơ may lớn lao có nhiều triển vọng cứu vãn, duy trì và phát triển miền Nam. VNCH đã tìm được dầu hỏa ở Mỏ Bạch Hổ trong tháng Hai năm 1975. Thật nhiều dầu mà lại thật quá trễ.
“Tôi từ chức để có thể lên tiếng, ủng hộ các vụ kiện tụng và hợp tác với các cá nhân và tổ chức khác tận tâm bảo vệ pháp quyền và nền dân chủ Mỹ. Tôi cũng dự định sẽ bảo vệ những thẩm phán không thể công khai lên tiếng bảo vệ chính mình. Tôi không thể chắc chắn rằng mình sẽ tạo ra sự khác biệt. Tuy nhiên, tôi nhớ lại những gì Thượng nghị sĩ Robert F. Kennedy đã nói vào năm 1966 về việc chấm dứt chế độ phân biệt chủng tộc ở Nam Phi: “Mỗi khi một người đứng lên vì một lý tưởng, hoặc hành động để cải thiện cuộc sống của người khác, hoặc chống lại sự bất công, người đó sẽ tạo ra một đợt sóng hy vọng nhỏ bé.” Khi những đợt sóng nhỏ bé này hội tụ đủ, lúc đó có thể trở thành một cơn sóng thần.
Khi lịch sử bị xem nhẹ, nó không ngủ yên mà trở lại, nghiêm khắc hơn. Và mỗi khi nước Mỹ bước vào thời kỳ chia rẽ sâu sắc, tiếng vọng ấy lại dội về – nhắc rằng ta từng đi qua những năm tháng hỗn loạn, và vẫn tìm được lối ra. Robert A. Strong, học giả tại Đại học Virginia, cho rằng để hiểu nước Mỹ hiện nay, ta nên nhìn lại giai đoạn giữa hai đời tổng thống Ulysses S. Grant và William McKinley – từ năm 1876 đến 1896. Hai mươi năm ấy là một bài học sống động về cách một nền dân chủ có thể trượt dài trong chia rẽ, rồi chậm chạp tự điều chỉnh để tồn tại.
Khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương (Indo-Pacific) đang nổi lên như trung tâm chiến lược của thế kỷ XXI, nơi giao thoa lợi ích của các cường quốc hàng đầu thế giới. Với 60% dân số toàn cầu, hơn một nửa GDP thế giới, và các tuyến hàng hải trọng yếu nhất hành tinh, khu vực này giữ vai trò quyết định trong ổn định an ninh, thương mại và năng lượng quốc tế...
Washington vừa bật sáng lại sau bốn mươi ngày tê liệt. Nhưng cái cảm giác “ổn rồi” chỉ là ảo giác. Đằng sau cái khoảnh khắc “chính phủ mở cửa trở lại” là câu chuyện nhiều tính toán, mà trung tâm của cuộc mặc cả chính là Obamacare – chương trình từng giúp hàng chục triệu người có bảo hiểm y tế – nay trở thành bệnh nhân bị đặt lên bàn mổ của chính quyền Trump, với con dao ngân sách trong tay Quốc hội.
Đã là người Việt Nam, nếu không trải qua, thì ít nhất cũng đã từng nghe hai chữ “nạn đói.” Cùng với lịch sử chiến tranh triền miên của dân tộc, hai chữ “nạn đói” như cơn ác mộng trong ký ức những người đã sống qua hai chế độ. Sử sách vẫn còn lưu truyền “Nạn đói năm Ất Dậu” với hình ảnh đau thương và những câu chuyện sống động. Có nhiều người cho rằng cũng vì những thăng trầm chính trị, kinh tế, mà người Việt tỵ nạn là một trong những dân tộc chịu thương chịu khó nhất để sinh tồn và vươn lên. Thế giới nhìn chung cho đến nay cũng chẳng phải là vẹn toàn. Dù các quốc gia bước sang thế kỷ 21 đã sản xuất đủ lương thực để nuôi sống tất cả mọi người, nạn đói vẫn tồn tại, bởi nhiều nguyên nhân. Có thể kể như chiến tranh, biến đổi khí hậu, thiên tai, bất bình đẳng, bất ổn kinh tế, và hệ thống lãnh đạo yếu kém.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.