Hôm nay,  

Ngược Dòng Sông Mã

2/14/200800:00:00(View: 9593)

- Tùy bút của Xuân Đỗ

Đất Thanh Hóa gần quê tôi, từ nhỏ tôi đã nghe và biết về vùng đất này. Bố tôi và các anh lớn con ông Bác đã đi “bè” chở nứa từ Thanh hóa về cho mẹ tôi và các chị lớn trong họ  làm nghề đan cót, một làng nghề cha truyền con nối mà năm mươi năm sau tôi trở lại quê  vẫn thấy các bà các cô cặm cụi ngồi đan.

Nghề đan cót không biết du nhập làng tôi từ hồi nào, nhưng một khi lúa gặt về cần quây che, thóc thu hoạch về cần chỗ chứa thì các tấm cót quê tôi vẫn là sản phẩm không thể thiếu trong các làng mạc vùng châu thổ sông Hồng. Tuy sồ cung ổn định, giá cả phaỉ chăng, nhưng sức lao động bỏ ra so với giá trị sản phẩm thu về thì quả là không tương xứng.

Bao thân phận từ các cô gái của lứa tuổi mươì hai mười ba đến các bà mẹ quê tuôi" cổ lai hy thất thập vừa qua vụ mùa laị cặm cụi đêm ngày, âm thầm mắt ngó xuống, chân tay đan làm các thao tác xem như không mỏi, nhưng nỗi mệt đã ăn sâu trong tâm thức, trong da thịt, trong lục phủ ngũ tạng, trong máu huyết để cả một đời không rời xa caí làng nhỏ bé từ đơì này sang đời kia chỉ an phận chốn quê.

Các bà các cô thì ngồi một chỗ, tầm nhìn không xa quá cái cổng làng.Cơm ăn quanh năm thì cứ quả cà vơí muối, thêm bát canh cua mồng tơi pha chút mướp hương. Năm thì mươì họa có chút thịt heo kho cùng vaì nắm tôm tép lưới được ven sông. Lâu lắm các cô gaí ở tuổi bẻ gãy sừng trâu mơí được cùng cánh trai làng lưc lưỡng khiêng gánh các tấm cót lên chợ phiên để giao hàng hoặc trao đôi" bán buôn.

Lúc này họ mơí có dịp gặp nhau, cùng xà vào ăn bát bún riêu, quanh hàng bánh đúc, uống bát chè xanh để rồi thầm gưi" trao nhau vaì câu tình tứ, dạn dĩ hơn thì ít lời chọc ghẹo kiểu quê. Để rôì hết phiên chợ, tạm chia tay, gái thì quay về đan cót, trai thì sửa soạn cho chuyến đi xa vượt truông nhà Hồ xuôi thuyền về Thanh hóa. Từ môí liên hệ ngành nghề, Thanh hóa chẳng phải ngẫu nhiên mà trở thành vùng đất gần gũi vơí tôi từ tuổi ấu thơ.

*

Bẵng đi hàng chục năm, kể từ ngày di cư vào nam, Thanh hóa mờ nhạt trong tôi. Có một lần gợi nhớ khi nghe bản tin tường thuật các máy bay Mỹ đánh bom cầu Hàm Rồng, tuy  không gây tổn thất nhiều về nhân mạng, nhưng làm tê liệt tuyến đường chiến lược Bắc Nam. Chuyện bom đạn thì hồi đó chiến tranh chẳng chừa ai, trong nam ngoài bắc đều chung số phận. Nhưng Thanh hóa còn chịu đói kém thường xuyên do lũ lụt từ thượng nguồn các sông đổ về nhằm mùa bão lụt tháng chín tháng mười hàng năm.

Tới khi tàn cuộc chiến, anh em tù cải tạo từ miền nam ra lại được dồn về các trại nằm dọc thượng nguồn sông Mã. Thanh hóa bỗng chốc trở thành một địa danh hãi hùng khi nơi đây các người tù vốn không quen với lối lao động “chặt nứa thả bè” nhiều người đã phải bỏ mạng theo dòng nước lũ. Chẳng thế mà từ đầu thập niên 80 đã có những vần thơ được sinh viên Việt nam đọc từ hải ngoại, ngay giữa lòng khuôn viên đại học Berkley, đại để:

Mưa đông rét ào ào gió lộng

Đứng ngâm mình vớt nứa giữa dòng sông

Bạn tưởng tôi da sắt bọc xương đồng

Không! Tôi đang sống trong trại giam...Việt cộng

Khi gặp lại những người còn sống sót về nam, tôi mới thấy thương cho các anh họ và bố tôi đã một thời rong ruổi trên sông nước kéo những bè nứa vượt sóng đem nguồn nguyên liệu về đổi lấy chén cơm, quả cà cho mấy chị em tôi.

Ôi! một thời sao laị có cái cảnh kiếm miếng cơm manh áo khốn khổ như vậy. Có điều bố tôi và các cháu ông không bao giờ than thân trách phận về lối sống vừa như giang hồ trên sông nước vừa nhiều hiểm nguy chực chờ mỗi chuyến xuôi bè. Âu cũng là cái nghiệp, không có nứa thì không có nghề đan, không đan thì treo niêu treo bát. Thân phận nơi chốn quê đất chật người đông chỉ còn cách tìm đường xa xứ, xa quê theo sự vẫy gọi của đám cai mộ phu cho các đồn điền cao su Long thành, Dầu tiếng phương nam.

*

Quả số tôi không có duyên vơí sông nước, chứ không thì cũng lại sung vào đội ngũ xuôi bè. Đưa đẩy thế nào tôi theo ông chú họ phiêu bạt ra tận Hà nội, được chút học hành thân lập thân, ít năm sau vào quân đội.

Vì sẵn có máu giang hồ lại chịu tình nguyện nơi hòn tên mũi đạn, vừa có số may được các xếp thương, đời tôi cũng le lói một thời trong đời binh nghiệp. Nhưng càng le lói lắm càng...tù lâu năm. Khi cuộc chiến ngã ngũ, tôi cũng như bao thân phận thanh niên thời chiến laị sa vào cái “bẫy” học tập cải tạo. Vì được hứa người một tháng kẻ hai tuần, moị người chui đầu vào rọ.  Chính sách tự thân đã là một sự xấu hổ, nhưng cá nhân tôi laị xấu hổ hơn vì tác giả của cái chính sách lừa lọc này lại là kẻ đồng hương quê tôi, một thời đứng đầu ngành công an tại thành phố mang tên Bác.Tất nhiên trách kẻ viết mơí chỉ là một vế, cái vế đáng phỉ nhổ thì ai nấy cũng hiểu.

Trở lại chuyện đi tù, người ra Thanh hóa thì đi chặt nứa, tụi tôi lên Yên bái thì đi chặt bương (cùng họ vơí nứa nhưng thân to gấp ba). Hai cánh rừng có chung một đặc điểm là có một loài vắt xanh, một loại giống đỉa, thân như con sâu nhỏ nhưng hút máu thì dai hơn cả đỉa. Loại này luôn tìm chỗ kín nhất của thân thể, nằm im chui sâu (giống như điệp viên Phạm xuân Ẩn), rồi mơí ra tay hút máu, để rồi khi khổ chủ phát hiện thì cũng là lúc chúng đã say máu nằm vật ra như một anh nghiền thuốc cuối cơn vật vã. Nhiều đêm tối trời, lao động về mệt mỏi, anh nào để nguyên đồ lao động đi ngủ thì đêm ấy địa bàn hoạt động của lũ vắt coi như bỏ ngỏ, thân xác khổ chủ mặc tình cho nó vầy vò chẳng khác thân thôn nữ lạc vào tay một sở khanh con địa chủ!

*

Dần dà được chuyển về miền Trung du, trụ lại đất Vĩnh Phú. Đang viết về Thanh Hóa, tự nhiên đổi sang đất này (thì tùy bút mà).Vĩnh Phú vốn là đất của những đồi sim, đồi trà. Hai loại cây, mỗi loài một vẻ. Một loài cây hoang, một thứ cây trồng, một thứ để ăn, một dùng để uống. Hoa sim được nhắc nhớ trong tình yêu lứa đôi ở tuổi học trò, cánh trà thêm nguồn ngẫu hứng cho các buổi mạn đàm tọa ẩm. Một loài được e ấp vì cánh hoa, một được ấp ủ vì lá búp. Sim mang màu tím rượi buồn, trà đậm màu xanh đáy mắt. Một loài gợi nhớ hình ảnh nên thơ mơ mộng, một đượm nét đài các kiêu sa.. Một như nơi hẹn hò của các cặp tình nhân thơ ngây vụng trộm, một như chốn hội ngộ của các mặc khách tao nhân. Hai loài thực vật mang sắc thái khác nhau, nhưng lại là nguồn cảm hứng ít thấy được trân trọng qua các loài hoa lá khác.

Trà thì tôi không hiểu nhiều, lại không biết thưởng thức, vì đó là những thứ của ông tôi, bố tôi, nhưng đồi sim hơa sim thì đã ám ảnh tôi từ thủơ học trò. Trước chỉ được biết sim qua nét vẽ, qua tứ thơ, nhưng nay tận mắt thấy sim chỉ là những bụi sim thấp vừa tầm, mọc hoang rải rác trên những đồi thoải, bìa rừng, không phải là những cây sim lớn phải “vin cành” giống cây bưởi cây cam như vài nhà văn nhà thơ mô tả.

Ở tuổi học trò hầu như chúng tôi đều thuộc bài thơ Màu tím hoa sim” của Hữu Loan. Vừa được học qua mônVăn, vừa được ngâm diễn qua các buổi văn nghệ ở trường. Về sau nhờ Phạm Duy phổ nhạc thì baì thơ đã đi vào huyền thoại. Đến thời mặc aó lính, hình ảnh của các cuộc hành quân dù ở thung lũng A Sao hay chiến trường Tây bắc  khi qua các đồi sim, bài thơ nghe như “tiệp”với tâm tư  những người lính của cả hai miền. Cho đến khi vào tù, mỗi khi nhớ nhà hát lén “nhạc vàng”, thì bài hát vì có chữ “bộ đội” nên không những không bị kiểm điểm mà còn đươc các cai tù ngầm khuyến khích hát... thêm! Thế mới biết âm nhạc đôi khi trở thành thứ ngôn ngữ chung phi ý thức hệ.

Nhớ lại hồi mơí biết bài thơ, tôi không hiểu lắm về câu, “tím cả chiều hoang biền biệt”, cho đến một hôm nhân lúc lao động về, khi vác cuốc xuống đồi chè thì trời đã xế chiều. Tuy mệt mỏi, nhưng ngoại cảnh làm tôi bất giác nhớ tới bài thơ. Cảnh chiều tà, mặt trời khuất bóng, những áng mây lơ lửng, cảnh vắng, đồi thưa, vài vạt sim tím, lại xa nhà, nhớ vợ, tủi thân cho số phận; cảnh vật tâm tư lúc đó như đan quyện vào nhau, từ ấy tôi hiểu được ý thơ. Sau này khi đi tù về, biết tác giả Hữu Loan là người Thanh hóa thì tôi lại càng nhớ nhiều về vùng đất quê ông.

*

Ra tù, lúc này tình hình có phần cởi mở, vì bắt đầu thời kỳ mở cửa. Tình cờ tôi được đọc một bài ký sự đăng trên tuần báo Văn nghệ, mang tựa đề, “Caí đêm hôm ấy đêm gì”, ký cái tên Phùng gia Lộc. Tôi thì vẫn phục cái tính bất khuất của nhà thơ Phùng Quán (hình như ông cũng sanh ở miền Trung), đang liên hệ xem hai ông này có họ hàng gì không. Nhưng ông Lộc lại sanh tại Thanh hóa, viết baì ký sự tả huỵch toẹt về caí đói thê thảm của người dân xã ông, mà bi kịch nằm ngay trong gia đình ông với cái lối thu lúa bất nhân của đám cán bộ xã, bất kể ít chục cân thóc đã dấu trong caí aó quan dành sẵn từ lâu để làm ma cho bà mẹ chờ chết.

Nhờ đang dịp “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, bài báo được in lại trên báo Tuổi Trẻ gây xúc động mạnh trong cả nước. Tiếng tăm cũng làm ông xất bất xang bang, khiến ông phải “sơ tán” ra Hà nội để tránh sự hằn học của đám lãnh đạo địa phương. Ông chỉ viết có một bài và một bài làm ông trở thành một nhà báo có hạng.

Nhà thơ Hữu Loan, nhà báo Phùng gia Lộc, hai người hai thế hệ cầm bút nhưng cùng một tâm huyết, cùng sanh ra và thiết tha với vùng sông Mã. Một đã chết sớm ở tuổi 50 phần do lao tâm lao lực, một đang thọ ở tuổi 90, nhưng quá nửa đời người lận đận lao đao. Dù vậy, cả hai sẽ còn được nhắc nhớ trong lòng những người yêu thơ, yêu công lý các thế hệ mai sau.

Bất giác tôi nảy sinh một ước mơ, có một ngày nào đó tư nhiên có một mạnh thường quân hỗ trợ cho sáng kiến lập một giải hàng năm vinh danh các nhà thơ mang tên Hữu Loan, một giải vinh danh các nhà báo mang tên Phùng gia Lộc thì quả là món quà vô giá cho những người con yêu của vùng đất thượng nguồn sông Mã, miền đất chịu quá nhiều nghiệt ngã của cả “con người” lẫn thiên nhiên. 

XUÂN ĐỖ

Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đang đánh một đòn nguy hiểm: huy động các văn phòng công tố đi điều tra mạng lưới từ thiện Open Society Foundations của gia đình Soros, một quỹ từ thiện quốc tế, nổi tiếng với việc tài trợ cho các dự án dân chủ, giáo dục và nhân quyền trên khắp thế giới. Danh sách cáo buộc nghe cứ như “vật lạ”: từ đốt phá đến tài trợ khủng bố. Open Society Foundations lập tức phản đối, khẳng định mình hoạt động hợp pháp, và nhắc lại điều mà bất cứ người tỉnh táo nào cũng hiểu: khi chính quyền có thể tùy tiện lấy một nhóm dân sự làm vật tế, thì quyền của mọi nhóm khác cũng chẳng còn gì bảo đảm.
Trong nhiều thập niên qua, giải pháp hai nhà nước luôn được xem là phương án khả thi nhằm mang lại hòa bình cho khu vực Trung Đông. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn chưa đạt được kết quả cụ thể. Gần đây, cuộc tranh luận về việc công nhận nhà nước Palestine đang có những chuyển biến mới khi Pháp và Ả Rập Xê Út tổ chức một hội nghị quốc tế tại New York, ngay trước thềm Đại hội thường niên của Liên Hiệp Quốc.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.