Hôm nay,  

Đạo Đức Và Chuyên Chính

11/09/200700:00:00(Xem: 8385)

Vị hoàng đế Napoleon Bonapac từng nói: “Có hai phương tiện để làm nhân tâm xao động, đó là mối lợi và sự sợ hãi”. Hồ Chí Minh lại đưa ra một quan điểm trái ngược: “Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.” Hai nhà lãnh đạo này đã có những quan điểm trái ngược nhau, việc ai đúng ai sai chưa thể vội vàng kết luận, chỉ biết rằng không ai bác bỏ quan điểm trên của Napoleong Bonapac về “Nhân tâm”.

Mối lợi và sự sợ hãi không chỉ là phương tiện để làm Nhân tâm xao động, đó còn là nguồn động lực tinh thần của mọi công việc xã hội, thiếu nó mọi công việc sẽ bị đình trệ. Không ai có thể đứng ngoài sự “kích thích” của mối lợi và sự sợ hãi, kể cả những người được coi là có đạo đức như Hồ Chí Minh. Những vấn đề sau đây là sự thật: Khi người ta suy tôn Hồ Chí Minh là lãnh tụ, nghĩa là ông đạt được tham vọng quyền lực, khi người ta tôn vinh Hồ Chí Minh là người vĩ đại, nghĩa là ông đạt được danh vọng, và khi người ta hết lời ca ngợi đạo đức và lối sống giản dị của Hồ Chí Minh, đồng nghĩa với việc ông đã thành công trong nghệ thuật lấy lòng người, tất cả đều là mối lợi. Nguồn động lực nào khiến ông có đủ ý chí vượt qua mọi khó khăn gian khổ, trước tiên đó là mối lợi của bản thân, ông đã từng viết: “Muốn lên sự nghiệp lớn. Tinh thần càng phải cao.” Mối lợi về tinh thần đó chính là “Chủ nghĩa cá nhân”, nó là động lực thúc đẩy ý chí phấn đấu của con người, nếu phủ nhận việc này là phủ nhận các quy luật tự nhiên, là tự huyễn hoặc chính mình. Vậy mà Hồ Chí Minh lại tự mâu thuẫn với chính mình khi yêu cầu “Phải quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, đây là quan niệm không tưởng về xã hội, là nguồn gốc của mọi sai lầm.

Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng.” Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa cá nhân là trái với đạo đức cách mạng, đấy là một kẻ địch nguy hiểm của CNXH. Vậy là ông hoàn toàn phủ nhận vai trò của “kích thích” lợi ích cá nhân trong sự phát triển của xã hội, ông không thể hiểu được đó là nguồn động lực tinh thần để chủ nghĩa Tư bản tạo ra những bước tiến vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Bản thân Hồ Chí Minh được hưởng những vinh quang tột cùng của danh và lợi, vậy mà ông lại muốn mọi người phải hi sinh tất cả, phải từ bỏ mọi tham vọng cá nhân, phải không sợ chết, sợ đau đớn, phải hiến dâng và cống hiến không điều kiện, tóm lại là trở thành nô lệ của xã hội sau khi đã từ bỏ chủ nghĩa cá nhân. Người ta gắn lên tên tuổi các lãnh tụ Cộng sản vòng hào quang chói lọi nhằm tôn vinh sự vĩ đại, nhưng mấy ai hiểu rằng vinh quang đó là sự hi sinh của biết bao con người cùng khổ, mà họ là nạn nhân của chiến dịch tuyên truyền, kích động tinh thần được ngụy trang khéo léo dưới lá cờ Cộng sản, máu họ tô hồng cho chiến công của các vị lãnh tụ. Lương tâm loài người đã kịch liệt lên án tội ác và thủ đoạn lừa dối của những nhà độc tài Cộng sản, họ là những vết nhơ trong lịch sử nhân loại khi đã dùng quyền uy để chà đạp lên lợi ích của quần chúng.

Hồ Chí Minh là một nhà tiên tri khi ông nhìn thấy trước tương lai của Đảng, ông viết: “Mỗi Đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, thì ngày hôm nay đã đánh mất sự yêu mến và ca ngợi của mọi người. Lòng dạ họ không còn trong sáng nữa, họ ngại khó khăn gian khổ, sa vào tham ô hủ hoá, lãng phí xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành. Họ tự cao tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền. Họ xa rời quần chúng, xa thực thực tiễn, mắc bệnh quan liêu, mệnh lệnh.” Những lời tiên đoán trên đã thành hiện thực, hoàn toàn đúng với thực tế các “ông quan cách mạng” ngày nay, nhưng không phải họ thoái hóa biến chất mà là thể chế chính trị đã tạo nên họ, tư tưởng Hồ Chí Minh đã “giáo dục” nên họ, và họ chính là những kẻ cơ hội đội lốt Cộng sản.

 Trao cho một người quyền lãnh đạo là cho họ lợi ích cá nhân, thực tế chứng minh người có chức có quyền thì sẽ có nhiều lợi ích cá nhân nhất, đồng nghĩa với việc họ phải bảo vệ lợi ích của mình. Nếu phủ nhận vai trò của việc “kích thích” lợi ích cá nhân, thì sẽ không thể hiểu và lý giải được các quy luật phát triển xã hội. Hồ Chí Minh là một nhà cách mạng thì đúng, nhưng ông không phải là một học trò trung thành của Mác, thậm chí là một học trò tồi. Ông tầm thường hóa chủ nghĩa Mác, biến học thuyết khoa học quốc tế của Mác thành một thứ chủ nghĩa nhân đạo không tưởng, tính chất không tưởng càng ngày càng thể hiện rõ, bộc lộ nhiều sai lầm nghiêm trọng. Nhờ đó mà những kẻ cơ hội đã chen chân vào Đảng, biến Đảng Cộng sản thành một tập đoàn lợi ích cũng như biến hình tượng Hồ Chí Minh thành tấm lá chắn hữu hiệu để bảo vệ nền chuyên chính. Những kẻ phản bội đang phát động một chiến dịch “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, đây là một chiến dịch mị dân hoành tráng, tốn kém, và lừa đảo.

Các bạn vẫn còn hoài nghi và nghĩ rằng Hồ Chí Minh là một vị Thánh cách mạng “Cả đời thanh bạch chẳng vàng son”, bởi vì các bạn đã bị u mê, các bạn trở thành nạn nhân của bộ máy tuyên truyền Cộng sản, biến thành các tín đồ cuồng nhiệt của tệ nạn sùng bái cá nhân, điều này không còn thấy ở các nước tiên tiến văn minh. Tư tưởng Hồ Chí Minh thực chất là chủ nghĩa cải lương, chủ nghĩa lãng mạn không tưởng. Các bạn nghĩ rằng tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh gắn liền với đức hạnh của ông, thực ra đó là quan niệm sai lầm. Thực tế tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh gắn liền với tư tưởng về một nền chuyên chính mà ông là người sáng lập nên, nói cách khác tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh là nhằm bảo vệ nền chuyên chính đó.

Chúng ta phải đứng trên quan điểm khoa học để phê phán tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, và chỉ dùng những lý luận khoa học để phê phán. Một trong những tư tưởng cơ bản nhất của chủ nghĩa Mác – Lênin là việc nhà nước vô sản thiết lập nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản ngay sau khi hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ (dành chính quyền). Đây cũng là nội dung chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, ông đã dạy những người Cộng sản rằng: “Học chủ nghĩa Mác – Lênin là để sống với nhau có nghĩa có tình, nếu sống với nhau không có nghĩa có tình thì làm sao coi là hiểu chủ nghĩa Mác – Lênin.” Học chủ nghĩa Mác – Lênin, thiết lập nền chuyên chính là việc làm có nghĩa có tình, thật là một quan điểm tai hại, phản khoa học, tầm thường hóa chủ nghĩa Mác. Chưa hết, ông còn dạy: “DDảng ta là một Đảng cầm quyền, mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.” Nghĩa là mỗi cán bộ đảng viên phải trở thành những ông quan cách mạng thật tốt, vì nước vì dân không tự tư tự lợi, nếu như vậy có thể duy trì mãi mãi nền chuyên chính mà mọi quyền lãnh đạo đều thuộc về các ông quan cách mạng đó. Chủ nghĩa Cộng sản trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã bị tầm thường hóa thành một xã hội nhân đạo, một Đảng đạo đức, một nhà nước lý tưởng và một nền chuyên chính mãi mãi. Bản chất tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh là như vậy đấy, không có gì khác ngoài chuyên chính, ông viết tiếp: “DDảng phải thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.” Đảng phải là người lãnh đạo trung thành của nhân dân, ngược lại nhân dân phải tuyệt đối trung thành với Đảng, nói cách khác, nhân dân chỉ được lựa chọn người “ddầy tớ” duy nhất là Đảng Cộng sản để phục tùng, tóm lại Dân phải trung với Đảng. Tất nhiên rồi, Đảng là Vua, là Thiên Tử, dân phải trung với vua là lẽ thường. Tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh đã thực sự trở nên phản động, trở lại tư tưởng trị nước thời phong kiến, mang ảnh hưởng sâu sắc của tư tưởng Nho học. Ông lẫn lộn giữa học thuyết khoa học Mác – Lênin và tư tưởng lạc hậu của Nho học, dẫn đến sự phản bội hoàn toàn của ông đối với chủ nghĩa Mác – Lênin.

Hồ Chí Minh coi mục tiêu cuối cùng của cách mạng là một nền chuyên chính, tư tưởng này của ông được thể hiện khéo léo dưới tư tưởng đạo đức: “DDảng ta là đạo đức, là văn minh”. Đảng là đạo đức cho nên nếu ai chống lại nền chuyên chính do Đảng lãnh đạo là việc làm trái đạo đức. Đảng là văn minh cho nên việc phục tùng Quyền uy của Đảng là lựa chọn tối ưu của Nhân dân. Trong khi Mác – Lênin coi “DDảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại”, thì Hồ Chí Minh lại coi Đảng Cộng sản là đạo đức, và gắn liền với đạo đức là sự thống trị của Quyền uy. Về bản chất, tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh là sản phẩm của xã hội phong kiến, được khoác lên mình chiếc áo Cộng sản. Nhưng ông rất khéo léo và tinh vi khi trang điểm cho tư tưởng của mình bằng những lời lẽ hoa mĩ, ông viết: “DDạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong.” Tuân theo đạo đức Hồ Chí Minh, phục tùng Quyền uy của Đảng, là chúng ta đang tự mài giũa và tôi luyện để trở thành viên ngọc sáng và thỏi vàng có giá trị, điều này đồng nghĩa với việc nền chuyên chính do Đảng lãnh đạo là một thế giới của vàng ngọc, là thiên đường của loài người, là mục tiêu cuối cùng và cao nhất của chủ nghĩa Cộng sản.

Nền chuyên chính là một sản phẩm lạc hậu trong xã hội hiện đại, nó được xem như một sản phẩm được chấp nhận tạm thời khi xã hội không còn cách nào để giải quyết tốt hơn, là giai đoạn quá độ trên con đường xóa bỏ quyền lực Nhà nước. Ăng-ghen đã viết trong cuốn “Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của Nhà nước” về việc thủ tiêu nền chuyên chính như sau: “Giai cấp mất đi thì Nhà nước cũng không khỏi mất theo. Xã hội sẽ tổ chức lại nền sản xuất trên cơ sở liên hợp tự do và bình đẳng giữa những người sản xuất, không còn Quyền uy con người cũng không phải lệ thuộc một cách nô lệ vào việc phân công và quản lý, sẽ đem toàn thể bộ máy Nhà nước xếp vào cái vị trí thật sự của nó lúc bấy giờ; tức là vào viện bảo tàng đồ cổ, bên cạnh cái xa kéo sợi và chiếc rìu bằng đồng.”

Toàn bộ tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh chỉ nhằm mục đích bảo vệ nền chuyên chính. Như vậy các bạn sẽ học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Hồ Chí Minh để rồi trở thành nô lệ của nền chuyên chính thối nát, hay phải đứng lên vất bỏ nền chuyên chính đó. Bởi vì chúng ta quỳ gối nên cảm thấy lãnh tụ Hồ Chí Minh là vĩ đại, vì vậy hãy đứng lên mà đi; hãy vất bỏ nền chuyên chính, tiến tới nền Cộng hòa thứ 3.

Hà Nội, ngày 10-9-2007

Đảng DCND - http://ddcnd.org/main/

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.