Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
EagleBrand-Vietbao-1230x152-12042022-viet

Tin Mới Y Học Trong Tuần

28/10/200600:00:00(Xem: 5038)

Tin Mới Y Học Trong Tuần

Não Bộ Hoạt Động Giống Như Máy Vi Tính"

Giáo sư Randall O'Reilly thuộc Đại Học Colorado cho biết nhiều khoa học gia trên thế giới hiện nghiên cứu vài vùng trong não bộ hoạt động giống như máy vi tính (computer). Thực vậy, máy vi tính hoạt động thay đổi điện tín hai chiều, lúc tắt lúc mở, bằng những bộ phận tắt mở. Nguyên tắc cũng giống như vài vùng trong não bộ. Chẳng hạn, những tế bào thần kinh trong vùng não thùy trán cũng có thể tắt mở, 2 chiều. Hạch đáy (basal ganglia) là cơ quan bật tắt lớn nhất trong não bộ chỉ huy 2 chiều dẫn truyền tế bào thần kinh não vùng trán.

Não bộ hoạt động tương tự như mạng vi tính dùng tế bào thần kinh thông tin lúc học hỏi hay trí nhớ. Và não thùy trán được coi như là một trung tâm điều khiển não giúp nhận thức, quyết định hay giải quyết vấn đề. Thùy trán là bộ phận giúp khả năng thông minh của con người cao nhất. Đặt trọng tâm nghiên cứu tổng hợp não thùy trán và não bộ sẽ là cách hay nhất tìm hiểu mức độ thông minh của con người. (Tham khảo:Journal Science, October 6, 2006).

Trong một nghiên cứu khác cho biết thùy trán chứa những tế bào não nhậy cảm kích thích tố dopamine. Hệ thống dopamine liên hệ cảm giác sung sướng, giúp con người nhớ lâu, soạn thảo đuợc những chương trình hành động, và chỉ huy. Nhiệm vụ chỉ huy thùy trán còn giúp con người nhận thức được những hành động phải trái. Trong não có một loại gen (gene) có thể hạ thấp dopamine trong thùy trán, giảm những khả năng nhận thức kể trên, và đôi khi còn làm tăng nguy cơ bệnh tâm thần phân liệt (schizophrenia).

Một Mô Hình Điều Trị Sinh Học Bệnh Đau Cùi Chỏ Khi Chơi Quần Vợt Tennis

Bs Allan Misdra và các đồng nghiệp tại Đại Học Y Khoa Stanford nghiên cứu một phương pháp sinh học chích tiểu cầu (platelets) vào khớp xương cùi bệnh nhân bị đau vì chơi quần vợt. Viêm gân (tendonitis) và viêm mẩu xương của xương trụ (ulna). Các bác sĩ nghiên cứu 140 nhân bị đau cùi chỏ vì chơi quần vợt. Trong số này, 20 bệnh bị nặng nhất, có thể phải giải phẫu. Tất cả mọi bệnh đều được điều trị bằng vật lý trị liệu, uống thuốc chống viêm giảm đau.

Thử nghiệm 15 bệnh nhân trong số này được chích tiểu cầu vào cùi chỏ bị đau. Tiểu cầu lấy từ máu bệnh nhân bị đau cùi chỏ ít ra là 15 tuần lễ. Tuổi trung bình bệnh nhân là 48. Khoảng 24 giờ sau khi chích bạch đản thì bắt đầu chương trình làm co giãn cùi chỏ trong 2 tuần và 4 tuần sau thì bệnh nhân được chơi banh trở lại. Theo dõi bệnh nhân trong 4 tuần, 8 tuần và 6 tháng. Rồi theo dõi 2 năm thì thấy 93% bệnh nhân có kết quả khả quan, 7% bệnh nhân thuyên giảm một phần nào. Khi chích huyết tương chứa tiểu cầu tức là chứa nhiều yếu tố tăng trưởng, nhờ đó làm thương tích cùi chỏ chóng lành bệnh. Điểm quan trọng là yếu tố tăng trưởng (growth factors) thu hút thêm tế bào từ xa tiến tới vết thương giúp mau chóng lành bệnh.

Nhiều thử nghiệm trước đây cho thấy điều trị tiểu cầu có hiệu quả sau khi giải phẫu xương mặt và quai hàm, giúp vết thương chóng lành, sửa chữa những vết nứt xương gẫy, và điều trị viêm mô liên kết (connective tissue) gan bàn chân. (American Journal of Sports Medicine, November 2006). (Chú thích: Trong một nghiên cứu khác, tiểu cầu đông đặc trong huyết tương chứa nhiều yếu tố tăng trưởng gấp 4-6 lần bình thường. Nhờ đó thu hút tế bào sợi (fibrocyte) và sản xuất mạch máu. Trong một thử nghiệp khác trong chó cho thấy khi chích tế bào sợi (fibrocytes) vào sụn meniscus của chó, kết quả cũng như khi giải phẫu cắt bỏ sụn meniscus. Một thử nghiệm khác nữa chích tiểu cầu vào xương cùi chỏ, điều trị bệnh đau khi chơi quần vợt, thuyên giảm 79%. Khi chích thêm mũi thứ 2 tiểu cầu thì bệnh thuyên giảm tăng lên 89%. Tiểu cầu ảnh hưởng hoạt hóa tăng trưởng tế bào xương osteoblasts).

Tham khảo:

1) Med Sci Sports Exerc, 34: 70, 2002.

2) JBJS, 70A: 1209, 1988.

3) J Hand Surgery, 28A: 272, 2003.

4) Oral Surgery, Oral Medicine, Oral Pathology, 85: 643, 1998.

Thuốc Mới Phòng Chống Cúm, Kể Cả Cúm Gà

Bs Stacey Schulzt-Cherrey, giáo sư Đại Học Y Khoa Wisconsin-Medison nghiên cứu một loại bạch đản "peptide" tác dụng trong tế bào cấy chuột, chống nhiễm trùng và bảo vệ chuột khi mới bị chớm bị nhiễm trùng. Chuột không được chích ngừa thuốc kể trên bị tử vong trong vòng một tuần lễ. Ngược lại, tất cả mọi chuột, khi bị chớm nhiễm trùng, chích thuốc peptide, thoát khỏi tử vong 100%.

Thuốc có thể chống được nhiều loại siêu vi trùng khác nhau, kể cả cúm gà H5N1. Thuốc mới ngăn chặn siêu vi trùng không cho xâm nhập qua màng tế bào, không cho siêu vi trùng lọt vào bên trong tế bào. Thuốc ngăn chặn phân tử căn bản bên ngơài màng tế bào. Thường thì siêu vi trùng lọt được vào bên trong tế bào là nhờ phân tử căn bản kể trên. Nếu siêu vi trùng không thể được lọt vào bên trong tế bào thì không thể sinh sản được, không thể gây nhiễm trùng được. Nghiên cứu đang đi sâu vào việc tìm kiếm liều lượng thuốc thích hợp, khả năng và hiệu nghiệm, cũng như sự an toàn của thuốc, trước khi áp dụng cho người.

Trong khi thuốc mới tìm cách ngăn chặn siêu vi trùng không thể lọt qua màng tế bào, không thể sinh sản, thì những thuốc ngừa siêu vi trùng hiện thời ngăn ngừa siêu vi trùng sinh sản bên trong tế bào hay phòng chống siêu vi trùng không thể lọt ra ngoài tế bào. Nói cách khác, thuốc mới tác dụng vào phần khác của chu kỳ đời sống siêu vi trùng. Các khoa học gia còn hy vọng thuốc có thể dùng trong một hỗn hợp ngừa cúm giống như nguyên tắc tổng hợp "cocktail" dùng trong việc điều trị HIV.(Tham Khảo: Journal of Virology, October 4, 2006).

Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P.; Điện thoại: (714) 547-3915; E-mail: nmtran@hotmail.com.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Theo nghiên cứu “The neurons that restore walking after paralysis” (Tế bào thần kinh phục hồi khả năng đi lại sau khi bị liệt) được công bố trên tạp chí Nature trong tháng 11 năm 2022, chín người bị liệt do chấn thương tủy sống nghiêm trọng đã lấy lại được khả năng đi lại nhờ sự kết hợp của kích thích điện từ cột sống dưới và vật lý trị liệu.
Cặp song sinh một trai một gái, tên là Lydia và Timothy Ridgeway, có thể đã phá vỡ kỷ lục phôi thai đông lạnh lâu nhất từng sinh ra. Người giữ kỷ lục trước đó là Molly Everette Gibson, sinh ra từ một phôi thai đã được đông lạnh trong khoảng 27 năm. Mẹ của cô, Tina Gibson, người cấy phôi thai vào cơ thể mình và sinh ra cô mới được 1 tuổi khi phôi thai đó được đông lạnh.
Vì Vi-rút Hợp Bào Đường Hô Hấp (RSV), bệnh cúm, và COVID-19 tiếp tục ảnh hưởng đến người dân California sớm hơn thường lệ trong năm nay, nên Nhà Dịch Tễ Học của tiểu bang, cũng chính là bác sĩ Erica Pan, kêu gọi mọi người trên toàn tiểu bang bảo vệ bản thân và gia đình của họ trước nhiều loại vi-rút đang hoành hoành.
Cơ Quan Kiểm Soát Thực Dược Phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã chuẩn thuận loại thuốc điều trị đầu tiên có khả năng trì hoãn – có thể trong nhiều năm – sự khởi phát của bệnh tiểu đường Loại 1, một căn bệnh thường xuất hiện ở thanh thiếu niên.
Nước Mỹ có vấn đề về uống rượu. Theo nghiên cứu mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng Ngừa Dịch Bệnh (CDC), việc tiêu thụ rượu quá mức đã góp phần gây ra ước tính một phần tám số ca tử vong, hay12.9 phần trăm trên tổng số người Mỹ từ 20 đến 64 tuổi. Uống quá nhiều rượu cũng là nguyên nhân gây ra 1/5 số ca tử vong - 20,3% - ở người Mỹ từ 20 đến 49 tuổi, theo nghiên cứu được công bố vào tuần trước trên tạp chí JAMA Network Open.
Vắn tắt, người càng lớn tuổi, số lượng tế bào thần kinh giảm và khả năng về tâm trí sẽ giảm đi. Một số triệu chứng nhẹ như hay quên, hay lẫn lộn có thể chấp nhận như là sự lão hoá bình thường. Khi các triệu chứng này gia tăng, tiến triển đến mức ảnh hưởng đến cuộc sống thường nhật, lúc đó người ta dùng từ "dementia" hay "mất trí" theo nghĩa đen, hay bịnh lẫn. Có nhiều nguyên nhân cho dementia. Bịnh Alzheimer là nguyên nhân của phần lớn người mắc dementia. Một số nguyên nhân dementia chữa được, chưa có thuốc thay đổi được bịnh Alzheimer (disease-modifying drugs), chỉ có những thuốc giúp giảm triệu chứng thôi (symptomatic treatment).
Các Telomere* đóng một vai trò thiết yếu trong việc xác định số lần một tế bào có thể phân chia. Telomere là 1 đoạn DNA có trình tự (TTAGGG) lặp lại nhiều lần ở đầu mỗi nhiễm sắc thể, có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ phân tử DNA khỏi các tác động gây hại và sự mất ổn định của hệ genome. Trong chu trình của một tế bào bình thường, quá trình phân bào sẽ khiến cho một phần của telomere bị mất đi. Khi độ dài của telomere đạt tới mức giới hạn thì tế bào sẽ tự chết theo chương trình (apotosis**). Do vậy, độ dài của telomere có thể coi như chiếc đồng hồ sinh học để xác định “tuổi thọ” của tế bào và các cơ quan.
Mùa đông đang đến rất nhanh và thời tiết lạnh hơn, điều quan trọng hơn bao giờ hết là quý vị phải tiêm vắc-xin và liều tăng cường chống lại COVID-19 cho bản thân và gia đình. Đối với những người từ 65 tuổi trở lên, việc tiêm liều tăng cường COVID-19 loại cập nhật là cực kỳ quan trọng vì nguy cơ mắc bệnh nặng do COVID-19 tăng lên theo tuổi tác.
Việc các bác sĩ có thể nhìn xuyên thấu bên trong cơ thể bệnh nhân mà không cần phải rạch một đường nào từng là một khái niệm thần kỳ. Cho đến nay, hình ảnh y tế (medical imaging) trong khoa quang tuyến đã trải qua một chặng đường dài, và các kỹ thuật mới nhất dựa vào trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ còn tiến xa hơn nữa: chúng khai thác khả năng tính toán khổng lồ của AI và khả năng học hỏi vô giới hạn để tận dụng triệt để các phương pháp dò chụp trên cơ thể, tìm ra những điều khác thường mà mắt người có thể bỏ sót.
Hội đồng Nobel tại Viện Karolinska ngày 3/10/22 đã quyết định trao Giải Nobel Sinh lý học hoặc Y học năm 2022 cho Svante Pääbo vì những khám phá của ông liên quan đến bộ gen của những hominin (cũng thuộc giống người, tương tự như “người khôn” [homo sapiens] chúng ta hiện nay) đã tuyệt chủng và sự tiến hóa của loài người. Svante Pääbo sinh ngày 20 tháng 4 năm 1955 tại Stockholm, Thụy Điển. Mẹ của ông là nhà hóa học người Estonia Karin Pääbo (1925–2013), từng trốn thoát khỏi Estonia bị Liên Xô xâm lược vào năm 1944 và đến Thụy Điển tị nạn trong Thế chiến thứ hai. Ông là con ngoại hôn của nhà hóa sinh người Thụy Điển Sune Bergström (1916-2004), và cha ông cũng từng được giải Nobel về Sinh lý học hoặc Y học (năm 1982).
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.