Hôm nay,  

Năm Năm Đầu Tiên….

11/09/200600:00:00(Xem: 7233)
Hoa Kỳ mới chỉ tham chiến được năm năm - và còn phải thay đổi
Ngay giữa cuộc chiến, và suốt mười ngày qua, chính quyền của Tổng thống Bush đã tung ra nhiều chiêu pháp ngoạn mục liên hệ đến hồ sơ khủng bố.
Để kỷ niệm năm năm ngày Hoa Kỳ bị khủng bố tấn công - vụ 9-11 - ông Bush và các vị cộng sự đã mở chiến dịch tranh cử cho đảng Cộng hoà, với rất nhiều đề nghị và lập luận nhằm giành lại thế thượng phong cho một chính quyền bị thất thế vì hồ sơ Iraq. Từ việc truy tố các đặc công của al-Qaeda tới nhà tù Guantanamo và yêu cầu Quốc hội phê chuẩn những luật lệ phù hợp với đòi hỏi của cuộc chiến - hầu tránh cho chính quyền bị lâm vào hoàn cảnh không vi hiến thì cũng phạm luật, ông Bush cố giành lại thế chủ động và đẩy phe đối lập vào hoàn cảnh bất lợi: chống lại đề nghị của đảng Cộng hoà khi dân Mỹ xúc động tưởng niệm biến cố 9-11 là đảng Dân chủ bị mang tiếng là thiếu dứt khoát với vấn đề khủng bố.
Những ai nghĩ rằng ông Bushy thô thiển và thiếu thủ đoạn chính trị có thể đã đánh giá lầm nhân vật này.
Tuy nhiên, sau 60 ngày chạy đua để giành thế đa số tại Quốc hội, các chính khách Mỹ vẫn phải đối đầu với một thực tế: Hoa Kỳ chưa thực sự có một quan niệm toàn diện và thích hợp với hình thái chiến tranh mới và trong năm năm qua, các lực lượng Hồi giáo cực đoan đã học bài và xoay chuyển chiến pháp của họ. Trong hai năm còn lại, nếu chính quyền Bush và cả Quốc hội Mỹ không nhìn ra và thuyết phục được người dân về những đòi hỏi của cuộc chiến. Hoa Kỳ coi như thất trận và sẽ triệt thoái, để lại những mầm loạn cho cả thế giới - mà chưa chắc đã ngăn ngừa được những vụ khủng bố khác ngay trong lãnh thổ.
Vì sao chúng ta lại có một kết luận bi quan như vậy" Vì Hoa Kỳ chưa có một quan niệm - đừng nói đến tổ chức - về cuộc chiến mang tính chất toàn diện và phi quy ước của quân khủng bố.
Hoa Kỳ là một đệ nhất siêu cường hiện chiếm vị trí độc bá trên toàn cầu. Trong lịch sử ngắn ngủi của mình, quốc gia này đã đánh bại mọi đối thủ trong các cuộc chiến quy ước, giữa các đơn vị chính quy và hậu cứ kinh tế của một quốc gia với một quốc gia. Hoa Kỳ có khả năng chiến tranh vượt trội so với mọi quốc gia đối nghịch nhờ một số đặc tính của xã hội và văn hoá Mỹ. Các đại cường như Đức, Ý hay Nhật đều bị đánh bại và khi quân ngũ tan rã, chính quyền phải đầu hàng để dành lại cơ hội xây dựng lại một quốc gia khác, với chính quyền mới, trên những đổ vỡ của chiến tranh do chính Hoa Kỳ viện trợ để tái thiết.
Nhưng siêu cường này không mấy thành công với loại hình thái chiến tranh phi quy ước, loại chiến tranh toàn diện, kết hợp khủng bố, phá hoại, du kích và đấu tranh chính trị. Một trường hợp nổi bật nhất chính là Việt Nam khiến một siêu cường quân sự đã thảm bại vì lý do chính trị, để lại cho các sử gia học giả hay chính khách tả hữu việc diễn giải vì sao đã thua.
Sau đó, không thiếu gì trường hợp thất bại khác, dù không lớn lao bằng, như tại Lebanon, Somalia, và ngày nay, tại Afghanistan và Iraq.
Một nhận thức sai lạc của chính người dân Mỹ lên tới lãnh đạo chính trị và học thuật tư tưởng rằng Hoa Kỳ là vô địch không có đối thủ đã khiến dư luận Mỹ coi thường kẻ thù. Việc Liên xô sụp đổ càng củng cố niềm tin ấy. Sự thật thì Liên xô sụp đổ không vì một trận thư hùng quân sự với Hoa Kỳ, mà vì những nhược điểm nội tại của chế độ cộng sản.
Nhiều người thực ra có rút tỉa bài học Việt Nam và nêu ra một số nguyên tắc chỉ đạo việcv chiến hoà, có nên tham chiến hay không. Nguyên (và là Cố) Tổng trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger cùng người cộng sự là Tướng Colin Powell - sau này là Ngoại trưởng - đã đề ra những nguyên tắc ấy, gọi là chủ thuyết Weinberger hay Powell: "Hoa Kỳ chỉ tham chiến trong một số điều kiện nhất định, và một cách bất đắc dĩ khi chẳng còn giải pháp nào khác".
Nhưng, chủ thuyết ấy vẫn phản ảnh một cái nhìn thiên về quân sự hơn chính trị và không đề ra những chỉ dẫn cần thiết cho một hình thái chiến tranh khác. Đến thời (đương kim) Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, giới chức quân sự Mỹ đã kết hợp những yếu tố địa dư chính trị và kỹ thuật chiến tranh để nói đến việc chuyển hoá bộ máy quân sự cho hình thái chiến tranh mới. Gọn, nhẹ, với tầm tác xạ cao và chính xác hơn. Ông Rumsfeld đang chuẩn bĩ cải tổ bộ máy chiến tranh theo hướng ấy thì vụ khủng bố xảy ra.

Hai chiến dịch Afghanistan và Iraq, trong tháng 11 năm 2001 và tháng Ba năm 2003, đã chứng tỏ ưu thế quân sự của Mỹ: tiêu diệt bộ máy chiến tranh của đối phương và kiểm soát lãnh thổ địch. Nhưng, bộ máy chiến tranh ấy vẫn không làm chủ được tình hình, ở cả hai nơi.
Lý do là đối phương không còn là chế độ Đức quốc xã hay Phát xít Nhật, khi thua thì đầu hàng và trao lại lãnh thổ cho một chính quyền mới. Đối phương là một hệ thống chính trị và quân sự không coi việc trị dân là trọng, quốc kê dân sinh là chính. Họ là một tập thể không sợ chết và sẵn sàng gieo rắc cái chết cho chính đồng bào đồng đạo để Hoa Kỳ phải nản chí rút lui vì không bình định được lãnh thổ đang chiếm đóng. Trong những thủ đoạn chống trả ấy, khủng bố chỉ là một trong nhiều phương pháp…. Cuộc chiến gọi là chống khủng bố hay chống chủ nghĩa khủng bố đã bị gọi sai và bộ máy chiến tranh lân cả xã hội Mỹ không được chuển bị cho hình thái chiến tranh này.
Trong khi ấy, từ al-Qaeda tới chế độ Taliban tại Afghanistan, từ Hezbollah tới chế độ Tehran tại Iran đều đã biến chiêu. Họ trở thành tinh tế hơn trong thủ đoạn khủng bố, tinh vi hơn về chiến tranh tâm lý và sáng tạo không thua gì Hoa Kỳ về kỹ thuật chiến tranh.
Xưa kia, các chế độ Hồi giáo chống Mỹ (hay chống Israel) đã học theo bài bản Xô viết để xây dựng bộ máy chiến tranh theo lối quy ước, với võ khí và kỹ thuật Liên xô để bị đánh bại thê thảm (Egypt, Syria hay Iraq). Bây giờ, trong cuộc chiến bất cân xứng giữa một sieêu cường quân sự có nền kinh tế thịnh vượng làm hậu cứ với các chế độ chống Mỹ có kỹ thuật lạc hậu và kinh tế nghèo nàn (hơn), các chế độ hay lực lượng Hồi giáo đã lâm trận theo lối nhà nghèo, cải tiến võ khí rẻ tiền - mua của nhau hay cua Liên bang Nga, Trung Quốc, Bắc Hàn - thành những dụng cụ giết người rất hữu hiệu - vì bất cần tới độ chuẩn xác - và phá hủy những chiến cụ bạc triệu của Mỹ.
Lối chiến tranh chân đất với hỏa tiễn cầm tay hay mìn "nội hoá", ráp chế thô thiển, đã khiến dân Hồi giáo mất mạng, lính Mỹ tử thương và Hoa Kỳ xuất huyết. Mà càng trả đòn dữ dội thì càng mang tiếng sát hại thường dân - Israel đã mắc tội ấy trước dư luận thế giới - vì trong cuộc chiến này, dân với quân sinh hoạt ở cùng nơi và dân là bia đỡ đạn cho quân!
Sự yếu kém của Hoa Kỳ về mặt tổ chức và tuyên truyền làm nốt phần vụ còn lại.
Về tổ chức thì các đơn vị thiện chiến - huấn luyện một chiến binh là tốn bạc triệu - phải đi làm sen đầm canh chợ và mục tiêu bắn sẻ mà bom khôn hay kỹ thuật điện tử tân kỳ không bảo vệ nổi. Nổ súng trả đòn mà lỡ trúng vào thường dân thì có khi ra tòa, thoát thì cũng bị bùa rìu của báo chí và dư luận. Hoa Kỳ không có loại cán bộ quân chính để lo việc bình định và đang căng mỏng lực lượng Vệ binh Quốc gia để xây dựng dân chủ cho quốc gia khác.
Về tuyên truyền, Hoa Kỳ không giải thích nổi với chính người dân chủ mình về nhu cầu tự vệ bằng cách viễn chinh và các chính trị gia đối lập không lỡ cơ hội đả kích chính quyền về chuyện ấy. Họ không hiểu được bản chất của cuộc chiến và những đòi hỏi nơi người dân. Đối nội đã vậy, về đối ngoại hệ thống thông tin tuyên truyền của Hoa Kỳ lại còn thô thiển hơn nữa và không tranh thủ được quần chúng Hồi giáo ôn hoà. Chiến cuộc càng gay gắt thì thành phần ôn hoà hiếm hoi ấy càng có cảm tình với quân khủng bố!
Từ 500 năm nay, các nước Tây phương đã áp đảo thế giới nhờ sức mạnh kinh tế đã thổi lên một hỏa lực hùng hậu. Bước sang thế kỷ 21, cái thế giới lạc hậu, nghèo túng và cực đoan nhất đang trả lời lại Tây phương, bằng cách thách đố siêu cường số một là Hoa Kỳ, bằng một hình thái chiến tranh không cần đời sống.
Hoa Kỳ thường lâm chiến và coi như chiến thắng quân sự là kết thúc chiến tranh, việc tái thiết hay tranh thủ trong hoà bình là chuyện chính trị. Vì vậy mà chuốc oán với nhiều nước. Bây giờ, khi bị thách đố bởi hình thái chiến tranh kết hợp quân sự - nôm na là giết người - với chính trị - nôm na là khai thác tinh thần chống Mỹ - với phần thưởng cho kẻ chiến thắng ở đâu đó trên… thiên đường, Hoa Kỳ bị bó tay.
Chính quyền Bush không chịu bó tay và kịch liệt chống trả. Nhưng nếu không nhìn lại vấn đề cho rõ và quan niệm lại chiến lược cho tinh - và nhất là không giải thích tường tận cho quần chúng - chính quyền sẽ bị đối lập bó tay.
Và Hoa Kỳ sẽ bại trận.
Sau vụ Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ mất thế lực trên trường quốc tế trong gần 10 năm chứ đặc công Bắc Việt không đòi vào đánh bom tự sát trên lãnh thổ Mỹ. Nếu bại trận lần này, nước Mỹ sẽ khó yên vì kẻ thù nhắm vào mục tiêu khác.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.