Hôm nay,  

Sơ Lược Y Khoa Việt Nam: Các Năm 1902-1975

24/01/200400:00:00(Xem: 5673)
Trường Y Khoa Đại Học Hà Nội được ra đời từ một thế kỷ trước đây do Toàn Quyền Paul Doumer ký nghị định vào ngày 8 tháng giêng năm 1902. Khởi thủy trường Y Khoa có tên là Ecole de Medecine de l’Indochine, tức là trường Y Khoa đầu tiên của thuộc địa Việt Mên Lào. Vì chủ đích của chế độ bảo hộ Pháp lúc đó là ngoài việc cai trị Đông Dương họ muốn cho dân thuộc điạ có sức khỏe tốt để làm việc cho mẫu quốc và sản xuất kinh tế tốt. Bởi vậy, lập trường đào tạo Y Khoa không có nghĩa là nhà nước bảo hộ thương gì dân tộc thuộc địa, nhưng người Pháp muốn dân bản xứ tự săn sóc sức khỏe cho mình hơn là gửi chuyên viên y tế Pháp sang điều trị bệnh tật cho dân bảo hộ. Tất nhiên, đào tạo nhân viên y tế thuộc địa hồi đó phải là một trong những sách lược hàng đầu.
Khoa Trưởng trường Y khoa bảo hộ là một chuyên gia về vi trùng học, khá nổi tiếng của Pháp, tức là giáo sư y khoa Alexandria Yersin. Nhờ môi trường y tế xứ bảo hộ với những bệnh cực kỳ nguy hiểm thời bấy giờ như dịch hach đã giúp Gs Yersin nổi tiếng về những công trình khảo cứu của ông trong y trường quốc tế.
Khi bắt đầu chương trình thi tuyển sinh viên y khoa đầu tiên cho trường Y Khoa Bảo Hộ thì có 29 người trúng tuyển trong số 105 thí sinh. Chương trình học bấy giờ chỉ đào tạo Medecins Auxilliaires tức là Y sĩ Phụ Tá, sau 4 năm huấn luyện.
Hơn 10 năm sau, tức là vào năm 1914, trường bảo hộ y khoa bắt đầu thêm Dược Khoa và được đổi tên là Ecole de Plein Exercice de Medecine et de Pharmacie dịch là Trường Cao Ðẳng Chuyên Nghiệp Y Dựợc Khoa. Kể từ đây, môn học Dược được chính thức công nhận lần đầu tiên cho dân Việt, Mên, Lào. Phẩm chất y khoa cũng được tăng cao hơn, nghĩa là chương trình y khoa tăng thêm môt năm thành 5 năm.
Một thập niên sau nữa, tức là vào năm 1923, tiêu chuẩn vào trường y khoa cũng được nâng cao hơn nữa tức là bây giờ muốn được dự thi vào y khoa phải có bằng tú tài Pháp. Tổ chức thi cử tú tài thời đó không dựa theo tiêu chuẩn khảo sát tài năng của sinh viên mà chính phủ bảo hộ chỉ muốn đặt ra một nguyên tắc để lấy số chuyên viên vừa đủ vào 2 ngành độc nhất là tuyển chọn huyện lại qua bộ môn luật và tuyển chọn chuyên viên y tế vào trường y dược khoa. Bởi vậy, đậu được mảnh bằng tú tài hết sức khó khăn trong thời bấy giờ. Nếu có bằng Tú Tài Pháp thì khi tốt nghiệp y khoa sẽ được cấp bằng y khoa Pháp. Còn nếu chỉ đậu Tú Tài Bản Xứ thì khi ra cùng một trường y khoa chỉ được danh hiệu cấp bằng Medecin Indochinois tức là Y Sĩ Ðông Dương. Các y sĩ tốt nghiệp y khoa hồi đó mặc nhiên là các quan lớn.
Trường Y Khoa lúc đầu toạ lạc tại Ấp Thái Hòa thuộc ngoại ô thành phố Hà Nội. Sinh viên y khoa thực tập tại hai nhà thương Phủ Doãn và Bạch Mai. Khoảng cuối thập niên 20, trường y khoa được dọn về đường Lê Thánh Tôn ở Hà Nội, trước có tên là đường Bobillot.
Tới năm 1936 thì trường Y Khoa được đổi tên là Faculté de Medecine, tức là Đại Học Y Khoa.
Năm 1947, trường Y Khoa Hà Nội đặt thêm một chi nhánh ở Sài gòn, mục đích là để đào tạo y sĩ cho miền nam Việt Nam. Trước kia, các sinh viên y khoa Nam Kỳ phải ra Bắc để tiếp tục học y khoa.

Tới năm 1954, khi đất nước chia đôi, phần lớn phân bộ y khoa đã di cư vào Nam và đặt Trụ Sở tại 28 Đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn. Đây cũng là nơi tụ tập giảng đường và thư viện của trường. Còn nơi học về bệnh lý hay lâm sàng, các sinh viên được thực tập tại những bệnh viện như Chợ Rẫy, Bình Dân, Nhi Đồng, Từ Dũ, Hồng Bàng, Chợ Quán, Đô Thành Sài Gòn và Nguyễn Văn Học. Những nơi thực tập khoa học căn bản thì đóng đô ở Cơ Thể Học Viện, Bệnh Viện Sài Gòn, Viện Pasteur, Phòng Sinh Lý Học, Cơ Thể Bệnh Lý và Mô Học, v..v..
Khởi thủy, ban giáo huấn gồm những giáo sư Viêt và Pháp, nhưng sau đó phần lớn các giáo sư Pháp rút về Pháp. Ảnh hưởng y khoa Pháp giảm dần ở miền Nam và một thể chế y khoa Mỹ dần dần xuất hiện. Bởi vậy, sau năm 1962, văn bằng Y Khoa Sài Gòn không còn được công nhận tương đương với văn bằng Y Khoa Pháp. Tuy nhiên cũng trong thời điểm này, có thể coi như đã chấm dứt thể chế y khoa thuộc địa Pháp. Mặc dầu vậy, ảnh hưởng y khoa Pháp vẫn còn ảnh hưởng xâu đậm, nhất là tiếng Pháp vẫn còn là ngôn ngữ chính được dùng trong chương trình y khoa của người Viêt. Tưởng cũng nên lưu ý là trong thời gian này, học sinh trung học tốt nghiệp chương trình Pháp được nhiều lợi điểm khi vào học y khoa. Vô tình hay hữu ý, dùng tiếng Pháp trong y khoa đã cản trở bước tiến của rất nhiều sinh viên người Việt thời bấy giờ.
Sau này, chương trình y khoa Sài Gòn bao gồm 7 năm: một năm về tiền y khoa gồm 3 môn Vật Lý, Hóa Học và Sinh Vật Học (Physique, Chimie et Biologie) học tại Đại Học Khoa Học Sài Gòn, và 6 năm chuyên về y khoa tại trường Y Khoa Sài Gòn. Sau đó sinh viên phải trình luận án để lấy văn bằng y khoa bác sĩ. Đây là một chương trình dập khuôn của y khoa Pháp.
Kể từ năm 1966, Trung Tâm Giáo Dục Y Khoa dời về Ðại Lộ Hồng Bàng do Mỹ đài thọ. Chương trình y khoa biến dạng với nhiều bộ môn khoa học mới, theo lối Mỹ, yểm trợ bở Hội Y Sĩ Hoa Kỳ (American Medical Association). Từ đây chế độ học từ chương được thay thế bằng lối học để hiểu. Phải công bằng mà nói thì lối học mới đã giúp ích một số y sĩ Việt Nam tốt nghiệp cứng cáp hơn về bộ môn khoa học căn bản và đã giúp họ hội nhập vào y khoa hải ngoại dễ dàng hơn các đàn anh.
Trong tình trạng đổi mới thời bấy giờ đã giúp thay đổi chức vị trong Hội Đồng Khoa không giống như thể chế y khoa Pháp theo chế độ ông thày cho mỗi bộ môn y khoa, là bất khả xâm phạm và độc tôn. Loại bỏ kỳ thi nội trú cũng giúp các sinh viên y khoa thực tập đồng đều tiến bộ như thường thấy trong khác y khoa tấn tiến ngày nay tại Hoa Kỳ hay Anh quốc.
Tóm tắt, theo nhiều tham khảo, đặc biệt tài liệu của Gs Đào Hữu Anh thì Y Khoa Hà Nội trong thời Pháp thuộc đã đào tạo khoảng 648 người bao gồm Y Sĩ Phụ Tá, Y Sĩ Đông Dương và Y Khoa Bác Sĩ.
Kể từ năm 1947 tới 1975, tổng số luận án y khoa bác sĩ do trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn cấp phát 2380 người, tức là cả thẩy 2380 y sĩ ra trường liên tiếp trong 3 chương trình y khoa Pháp, y khoa Việt Pháp và y khoa Viêt Pháp Mỹ.
Tài liệu:
1) Giáo sư Đào Hữu Anh: Vài dòng tóm lược lịch sử Y Khoa Đại Học Hà Nội, (1902-1954), Y Khoa Đại Học Sài Gòn (1947-1975) Trong Đặc San Đại Hội Quốc Tế Y Nha Dược Sĩ tại Anaheim, August 10-12, 2002.
2) Bác sĩ Tôn Thất Cần: Vài nhận xét về tổ chức Y Khoa Đại Học tại Việt Nam, cho đến năm 1975 trong đặc San Đại Hội Y Nha Dược Sĩ tại Anaheim, 2002.
3) Bác sĩ Nguyễn Đức Tuệ: Giáo sư Đào Hữu Hoành không còn nữa, trong Đặc San Đại Hội Y Nha Dược Sĩ, Anaheim 2002.
Trần Mạnh Ngô, M.D., Ph.D., F.A.A.F.P.; Điện Thoại: (714) 547-3915; E-mail: Tran.Ngo@verizon.net; Diễn Đàn Y Khoa: http://groups.yahoo.com/group/DienDanYKhoa/

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Dave Lovos là một nhạc sĩ và nghệ nhân làm đàn guitar, và đã quá quen với những âm thanh ồn ào. Trong năm nay, có một đêm Lovos bất ngờ nghe thấy tiếng nổ mạnh trong đầu khi đang lơ mơ chìm vào giấc ngủ. Tiếng nổ bất ngờ khiến ông tỉnh ngủ hẳn. Lovos kể lại: “Tôi nghe thấy một âm thanh rất lớn trong đầu, gần vùng đỉnh hộp sọ,” và cùng với tiếng nổ chói tai, hình ảnh một vụ tông xe vụt qua trong não. “Cả hai thứ xảy ra gần như là đồng thời.”
Mổ cườm mắt (Cataract, bệnh đục thủy tinh thể, hay còn gọi là Đục nhãn mắt, Cườm mắt) là một trong những loại phẫu thuật phổ biến và được thực hiện nhiều nhất trên thế giới. Đa số bệnh nhân sau khi mổ đều có kết quả tích cực và ít bị biến chứng. Ở Hoa Kỳ, hơn một nửa số người cao niên dưới 80 tuổi bị cườm mắt, và có gần 4 triệu ca phẫu thuật được thực hiện mỗi năm.
Vào những năm 1990, sau khi tốt nghiệp trung học ở Bồ Đào Nha, công việc đầu tiên của Ricardo Da Costa là vận động viên ba môn phối hợp (triathlete) chuyên nghiệp – bao gồm bơi lội, đạp xe, và điền kinh. Trong quá trình tham gia các cuộc thi, một trong những vấn đề lớn nhất mà anh và các vận động viên khác phải đối mặt là các vấn đề về tiêu hóa, nhưng không có ai để tâm hoặc tìm cách giải quyết vấn đề này.
Aspirin nổi tiếng với khả năng giảm đau từ các cơn đau cơ và đau đầu; giúp giảm sốt; và liều lượng thấp có thể làm loãng máu, giảm nguy cơ đông máu gây đột quỵ và đau tim. Tuy nhiên, một nghiên cứu mới phát hiện ra rằng Aspirin cũng có thể giúp ngăn chặn sự phát triển của ung thư ruột kết
Tháng 4 năm 2024, một phụ nữ ở Sacramento, California, Mỹ bị ngộ độc chì nghiêm trọng và tử vong sau khi sử dụng thuốc mỡ trị trĩ của Việt Nam có tên “Cao Bôi Trĩ Cây Thầu Dầu”. Thử nghiệm thuốc mỡ bôi trĩ này cho thấy nó chứa 4% chì (cứ 100 gram thuốc thì có 4 gram chì), đây là lượng rất nguy hiểm. Chì là một chất kim loại nặng độc hại cho cơ thể. Tiếp xúc với bất kỳ lượng chì nào cũng có thể gây hại cho sức khỏe.
Rụng tóc (alopecia) thường xảy ra trên da đầu, nhưng cũng có thể xảy ra ở bất kỳ nơi nào trên cơ thể. Rụng tóc là một tình trạng phổ biến và không phải là vấn đề đáng lo ngại. Ở Úc, khoảng một nửa đàn ông ở độ tuổi 50 thường có dấu hiệu hói đầu, và hơn 1/4 phụ nữ trong cùng độ tuổi cho biết tóc họ bị thưa đi. Thường thì vấn đề này là do di truyền. Nếu thấy mình đang bị rụng tóc và đang lo lắng về điều đó, quý vị nên đi khám hoặc hỏi ý kiến bác sĩ để được chẩn đoán trước khi thử bất kỳ phương pháp điều trị nào. Rất nhiều sản phẩm được quảng cáo là có khả năng đảo ngược tình trạng rụng tóc, nhưng lại có rất ít sản phẩm đã được kiểm nghiệm khoa học về hiệu quả.
Hàm răng của bệnh nhân có vẻ như được chăm sóc khá tốt, nhưng nha sĩ James Mancini, giám đốc lâm sàng của Trung Tâm Nha Khoa Meadville ở Pennsylvania, cảm thấy phần nướu có vấn đề. Tình cờ, Mancini có quen biết với bác sĩ của bệnh nhân đó nên đã liên lạc để chia sẻ sự lo ngại – và rồi họ ‘lần’ ra bệnh thật! Mancini cho biết: “Thực ra, Bob mắc bệnh ung thư bạch cầu (leukemia). Dù ông ấy không thấy mệt mỏi hay có các triệu chứng khác, nhưng vấn đề xuất hiện ở phần răng miệng. Khi bác sĩ của Bob biết được tình trạng, Bob đã được điều trị ngay lập tức.”
Thời nay, nhiều người thường bị đau cổ vai gáy, lại còn kèm theo cả đau đầu. Nỗi đau này có thể gây ra thêm nỗi đau khác, không chỉ về mặt vật lý mà còn về mặt tâm sinh lý. Xét về mặt sinh lý, ngày càng có nhiều nghiên cứu chứng minh rằng những cơn đau ở cổ thường khiến cho người ta bị thêm chứng đau đầu. Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí The Journal of Headache and Pain là nghiên cứu đầu tiên cung cấp những dấu hiệu khách quan về sự liên quan của cơ bắp với tình trạng đau nhức đầu.
Một nghiên cứu mới cho thấy thiếu ngủ không chỉ ảnh hưởng đến tâm trạng và hiệu suất làm việc trong ngày, mà còn có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường loại 2. Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí JAMA Network Open, so với những người ngủ từ 7 đến 8 tiếng mỗi ngày, những người ngủ ít hơn 6 tiếng/ngày có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường type 2 cao hơn khi về già.
Khi nói đến việc giữ cho xương khỏe mạnh, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến vitamin D, chất dinh dưỡng giúp cơ thể hấp thụ lượng canxi cần thiết để giúp cho bộ xương chắc khỏe. Nhưng dù rằng vitamin D đúng là một chất dinh dưỡng thiết yếu, trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu đã nhận thấy tầm quan trọng của các loại vitamin khác trong việc chống gãy xương (fractures) và bệnh loãng xương, hay bệnh xương xốp (osteoporosis).
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.