Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bát Nhã Tâm Kinh Lược Giải

05/08/200400:00:00(Xem: 5128)
LTS. Bài giảng về Bát Nhã Tâm Kinh này là của Thầy Thích Trí Châu, người đã được ấn khả Thiền Tông từ Thiền Sư Phật Nguyên, Trung Quốc, để làm pháp tự dòng Vân Môn sau nhiều năm tu học. Hiện nay, Thầy Thích Trí Châu đang hoằng pháp Thiền Tông tại Quận Cam. VB trân trọng cảm ơn nhã ý của Thầy cho sử dụng bài giảng này, và trân trọng giới thiệu cùng độc giả. Bài giảng như sau.
*
Hôm nay tôi xin chia sẻ về phần thứ nhất của loạt bài diễn giải Tâm Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa, nói về nguyên do của kinh này.
Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là bài kinh bát nhã cô đọng nhất được tất cả các hệ phái Phật giáo đều công nhận là bài kinh cốt lõi nhất cho việc tu hành giải thoát, là bài kinh được trì tụng trong tất cả các thời khóa tại tất cả các tự viện Phật giáo Đại Thừa. Tâm Kinh Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa ghi lại lời giải đáp của Quán Thế Âm Bồ Tát cho Xá Lợi Phất trong đại hội Linh Sơn trên đỉnh núi Linh Thứu, phía đông bắc thành Vương Xá (Rajagaha) thuộc xứ Ma Kiệt Đà (Magadha), bây giờ là Rajgir thuộc Bihar ở Ấn Độ.
Đại chúng tham dự đều là hàng đại tỳ kheo bậc A la hán, đã diệt trừ hết các lậu hoặc, không còn phiền não, được tự tại giải thoát ngoại trừ A nan còn ở bậc hữu học mới được quả dự lưu tu đà hoàn tức là ở quả vị mới dự được vào dòng thánh và vẫn còn phải học hỏi. Có vô lượng các bồ tát và đại bồ tát từ các cõi Phật khác tới tham dự. Đức Phật khi ấy ngồi kiết già, thân thể ngay ngắn, an trụ trong chánh niệm rồi nhập vào cái định gọi là Biểu Hiện Thâm Diệu, siêu việt và bao trùm mọi thiền định khác.
Khi ấy bồ tát Quán Thế Âm cũng đang quán chiếu thâm sâu vào cái thiền định gọi là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa, là cái thiền định đã giúp ngài chiếu sâu vào cái Không Tánh của tất cả mọi hiện tượng mà đạt được cái trí huệ siêu việt giải thoát. Trong kinh này thì bồ tát Quán Thế Âm được gọi là bồ tát Quán Tự Tại vì muốn nói đến cái quả vị giải thoát của pháp môn này, cái quả vị mà hành giả được tự tại, thoát khỏi mọi phiền não khổ đau và đến được bờ giác.
Tôn giả Xá Lợi Phất thừa oai lực của Phật tới gần bồ tát Quán Thế Âm mà hỏi rằng, làm thế nào tu tập được cái trí huệ viên mãn, tự tại, thậm thâm vi diệu đó.
Đó là nguyên do của bài tụng Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh mà chúng ta sẽ đem ra nghiên cứu và học hỏi. Kinh này được gọi là tâm kinh vì là kinh cốt yếu mà mỗi hành giả phải nằm lòng, lấy đó làm chỉ nam để tu trì. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa dịch theo Hán là Đại Trí Độ. Câu đầu của bài kinh này được viết như sau:
Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
Dịch nghĩa như sau:
Bồ tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu Bát Nhã Ba La Mật Đa, thấu rõ năm uẩn đều không, vượt khỏi tất cả mọi khổ ách.
Bồ tát Quán Tự Tại ở đây là bồ tát Quán Thế Âm. Gọi là Quán Tự Tại là vì khi thực hành thâm sâu pháp quán này thì đạt được giải thoát, tâm được tự tại, trong sạch, không còn bị nhiễm ô và ràng buộc vào các phiền não dù là thô hay tế nào cả.
Khi nói đến pháp môn tu trì thì trong kinh thường nói đến pháp môn của Quán Thế Âm Bồ Tát vì muốn nói đến hạnh từ bi của ngài. Quán Thế Âm Bồ Tát lúc nào cũng có lòng từ bi, lân mẫn thương sót cho chúng sanh, ngài có thể nghe được tiếng cầu xin của mọi loài chúng sanh mà thị hiện đến giúp đỡ với nguyện ước cứu khổ ban vui cho mọi loài. Cũng là một cách nhắc nhở cho hành giả trong khi tu hành pháp môn thiền định phải trải rộng lòng từ bi, thương sót đến mọi loài, phải luôn nghĩ đến mục đích của sự tu hành là có được trí huệ nhờ đó mà có được phương tiện thiện xảo để tìm cách hướng dẫn và giúp đỡ những chúng sanh khác, làm cho họ hiểu rõ, tin tưởng vào giáo lý của đức Phật mà phát tâm tu hành đến được bờ giải thoát. Phải luôn giữ trong tâm lời nguyện quan trọng nhất là "Thượng cầu Phật đạo, Hạ hóa độ chúng sanh", trước cầu quả Phật, sau cứu giúp người khác. Sự tu hành mà không có mục đích cứu giúp người khác mà chỉ nghĩ đến sự giải thoát cho riêng mình và những người thân yêu thôi thì quá vị kỷ và hạn hẹp nên sẽ không thể đưa ta đến đạo quả vô thượng được.
Bồ tát Quán Thế Âm được sự tôn kính của tất cả mọi người không phân biệt là theo tôn giáo nào nên ngài được nhân gian, nhất là những người ít hiểu biết về đạo Phật, gọi ngài là Phật Bà hay Phật Mẫu. Trong những chùa có thờ hình tượng Tam Thánh thì ngài là vị bồ tát đứng bên trái của đức Phật A Di Đà, bên phải là bồ tát Đại Thế Chí tượng trưng cho trí huệ chiếu khắp nơi khiến chúng sanh có được lực vô thượng, lìa ba đuờng ác.
Bát Nhã Ba La Mật Đa là dịch âm của chữ Phạn Prajna Paramita. Prajna có nghĩa là Trí Huệ Siêu Việt vượt đến bờ bên kia tức là vượt khỏi bờ khổ đau đến được bờ giải thoát. Trong kinh thường nói đến trí huệ bát nhã là muốn nói đến cái trí huệ siêu việt này, trí huệ đáo bỉ ngạn. Paramita được dịch ra nghĩa chữ Hán là đáo bỉ ngạn có nghĩa là đến được bờ bên kia tức là bờ giải thoát, bờ giác ngộ. Bờ bên này là bờ của vô minh, khổ đau, phiền não và trói buộc; bờ bên kia là bờ của giải thoát, trí tuệ, an lạc và tự tại.

Trí Huệ có hai loại, một là Trí Huệ Quán Chiếu (wisdom of contemplation), còn gọi đơn độc là Huệ, là sự hiểu biết có được do sự thực hành thường xuyên các pháp thiền, là sự hiểu biết có được do quán chiếu trên hành trình tu tập, khi chưa đạt đến cảnh giới giác ngộ viên mãn. Loại thứ hai là Trí Huệ Giải Thoát (wisdom of liberation/ wisdom of enlightenment), còn gọi là Trí, là sự hiểu biết siêu việt có được khi đã giác ngộ, được gọi là Chân Tâm, Phật Tánh, Giải Thoát, Giác Ngộ hoặc là Đại Viên Cảnh Trí như Duy Thức Học đặt tên.
Hành thâm có nghĩa là thực hành thật sâu vào pháp môn thiền định, quán chiếu sâu vào tâm thức.
Quán Tự Tại bồ tát khi quán chiếu thâm sâu về cái sắc thân, tâm thức và thế giới cùng vũ trụ xung quanh thì thấy không có cái gì có cái bản chất cố định thường còn, không có cái gì là vốn có, là có sẵn cái đặc tánh riêng biệt, cố định, thường còn và bất biến.
Thân xác của ta đây là do sự giao duyên giữa các tinh trùng của người cha và noãn sào cùng máu huyết trong bào thai nơi người mẹ. Tất cả cứ chuyển biến liên tục, từ một tinh huyết, từ từ chuyển hiện những lục phủ, ngũ tạng, nam căn hoặc nữ căn rồi đến các cơ quan để tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Có căn thân là có thần thức gá vào. Thần thức của loài người được gọi là sanh hữu, bản hữu, tử hữu và trung hữu tùy theo từng giai đoạn của sự hiện hữu.
Sanh hữu của một đời người là giây phút khi mà sự tiếp xúc sinh lý giữa đôi nam nữ hoặc là khi có những phản ứng sinh lý như trong tiến trình tạo sinh vô tính (cloning) hội được đầy đủ các điều kiện để hình thành một sắc thân con người. Khi ấy thần thức của một chúng sanh nào đó cõi khác bị nghiệp lực lôi cuốn đến mà gá nương vào sắc thân này.
Bản hữu là thời gian từ sanh hữu cho đến tử hữu, là thời gian từ lúc được sanh ra cho đến khi chết.
Tử hữu là giây phút cuối cùng của một kiếp sống, là giây phút chấm dứt một dòng nghiệp lực.
Trung hữu là khoảng thời gian từ lúc xả bỏ báo thân của kiếp này cho đến khi có một mạng căn mới để nương vào. Thí dụ như khi hết kiếp làm người mà nghiệp báo mới là một nghiệp dữ khiến phải làm thân trâu ngựa thì khi thần thức trung hữu đang vất vưởng mà ở đâu đó có hai con trâu hoặc hai con ngựa đực và cái đang giao cấu thì thần thức này bị cuốn hút tới để bắt đầu thọ nhận một mạng căn mới, một sanh hữu mới, một sanh hữu trong thân xác một con trâu hay một con ngựa.
Vị bồ tát quán cái thân xác con người thấy tất cả đều vô thường và chuyển biến, không có gì có một ngã thể riêng biệt cố định, từ một cái tinh trùng nơi một người nam hòa hợp với một cái noãn sào nơi thai tạng người nữ mà chuyển biến thành bào thai. Bào thai này cũng chuyển biến liên tục, khi có đầy đủ nhân duyên thì tăng trưởng thành đầy đủ các lục phủ, ngũ tạng như bàng quang (bọng đái), vị (dạ dầy), mật, ruột già, ruột non, tam tiêu và tim, gan, thận, phổi, tỳ (lá lách/ tụy tạng). Đến khi chín mùi, có đầy đủ nam căn hoặc nữ căn cùng các mắt, tai, mũi, lưỡi, thân căn, gồm da thịt xương xẩu, gân cốt, mạch máu, dây thần kinh, bộ óc v.v...thì chuyển động ra khỏi bụng người nữ thành một hài nhi. Từ đó con người trưởng thành, từ thời thiếu niên đến thời trung niên rồi suy thoái đến thời lão niên, theo tiến trình Sanh Lão Bệnh Tử.
Con người được chuyển biến và hình thành do nhiều nhân duyên phức tạp như vậy nhưng đại thể thì gồm hai phần là Thân và Tâm.
Phần thân là phần vật chất, là thân thể mà ta có thể nhìn thấy bằng mắt và có thể tiếp xúc được cũng như tất cả hiện tướng vật chất trong vũ trụ mà trong kinh thường gọi là sắc.
Tâm gồm những cảm nhận nơi tâm thức, được chia ra làm bốn phần thọ, tưởng, hành và thức. Thọ là những cảm giác, Tưởng là những nhớ tưởng, Hành là những vận hành và suy nghĩ, Thức là tất cả những nhận biết, phân biệt của Tâm.
Ngũ Uẩn ở đây là muốn nói đến năm cái phần chính tạo nên thân và tâm của con người. Năm phần đó là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức.
Quán Thế Âm bồ tát quán thấy con người nói riêng và tất cả những gì hiện hữu trong vũ trụ này dù là sắc tướng hay là tâm tưởng đều không có cái bản chất chân thật, cố định, riêng rẽ, thường còn, bất biến. Cái bản chất không chân thật và không thường còn này được gọi là Tánh Không hay là Không Tánh. Trong Bát Nhã Tâm Kinh thì gọi là Không. Vì nhận rõ ra cái Không Tánh của vạn hữu mà ngài không còn chấp chặt, dính mắc hoặc bám víu vào bất cứ sự việc gì trên thế gian, nhờ đó mà ngài vượt khỏi tất cả mọi khổ đau, xa rời bờ mê, đến được bến giác.
Đó là ý nghĩa của câu Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, Độ nhất thiết khổ ách (Thấu rõ năm uẩn đều không, Vượt khỏi tất cả mọi khổ ách).
Khi tôn giả Xá Lợi Phất thừa oai lực của Phật đến hỏi, bồ tát Quán Âm mới từ từ giải thích từ thấp lên cao.
Trong bài kế tiếp tôi sẽ diễn giải các câu:
Xá Lợi Tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc. Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
Kính chúc chư Phật tử được Pháp lạc và tinh tấn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Tỳ Kheo Thích Trí Châu
KHÓA THIỀN VÀ THƯ GIÃN
Thầy Thích Trí Châu hướng dẫn khóa thiền và thư giãn tại 12441 B Magnolia, Garden Grove, CA92841 (góc Magnolia và Lampson) vào những ngày giờ sau:
-Mỗi chiều thứ tư và thứ sáu từ 7:00PM đến 9:30PM
-Mỗi sáng thứ bẩy từ 10:00AM đến 12:30PM
-Mỗi chiều chủ nhật từ 6:30PM đến 9:00PM (kể từ tháng 9, 2004)
Buổi thiền tập gồm có thuyết pháp, thư giãn, tọa thiền và pháp đàm.
Hiện đang giảng Bát Nhã Tâm Kinh.
Vì số chỗ có giới hạn, xin gọi điện thoại số (714) 839-2579, nhắn lại tên họ và số điện thoại. Xin nhắn ngắn gọn và rõ ràng mớùi có thể trả lời và thông báo sự tham dự.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
(Tin VOA) - Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vào ngày 13/9 ra thông cáo lên án Việt Nam tiếp tục lạm dụng hệ thống tư pháp để áp đặt những án tù nặng nề với mục tiêu loại trừ mọi tiếng nói chỉ trích của giới ký giả. Trường hợp nhà báo tự do mới nhất bị kết án là ông Lê Anh Hùng với bản án năm năm tù. RSF bày tỏ nỗi kinh sợ về bản án đưa ra trong một phiên tòa thầm lặng xét xử ông Lê Anh Hùng hồi ngày 30 tháng 8 vừa qua. Ông này bị kết án với cáo buộc ‘lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước’ theo Điều 331 Bộ Luật Hình sự Việt Nam
Từ đầu tuần đến nay, cuộc tấn công thần tốc của Ukraine ở phía đông bắc đã khiến quân Nga phải rút lui trong hỗn loạn và mở rộng chiến trường thêm hàng trăm dặm, lấy lại một phần lãnh thổ khu vực đông bắc Kharkiv, quân đội Ukraine giờ đây đã có được vị thế để thực hiện tấn công vào Donbas, lãnh phổ phía đông gồm các vùng công nghiệp mà tổng thống Nga Putin coi là trọng tâm trong cuộc chiến của mình.
Tuần qua, Nước Mỹ chính thức đưa giới tính thứ ba vào thẻ thông hành. Công dân Hoa Kỳ giờ đây có thể chọn đánh dấu giới tính trên sổ thông hành là M (nam), F (nữ) hay X (giới tính khác).
Sau hành động phản đối quả cảm của cô trên truyền hình Nga, nữ phóng viên (nhà báo) Marina Ovsyannikova đã kêu gọi đồng hương của cô hãy đứng lên chống lại cuộc xâm lược Ukraine. Ovsyannikova cho biết trong một cuộc phỏng vấn với "kênh truyền hình Mỹ ABC" hôm Chủ nhật: “Đây là những thời điểm rất đen tối và rất khó khăn và bất kỳ ai có lập trường công dân và muốn lập trường đó được lắng nghe cần phải nói lên tiếng nói của họ”.
Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam cử hành Ngày Quốc tế Nhân Quyền Lần Thứ 73 và Lễ Trao Giải Nhân Quyền Việt Nam lần thứ 20.
Sau hơn 30 năm Liên bang Xô Viết sụp đổ, nhân dân Nga và khối các nước Đông Âu đã được hưởng những chế độ dân chủ, tự do. Ngược lại, bằng chính sách cai trị độc tài và độc đảng, Đảng CSVN đã dùng bạo lực và súng đạn của Quân đội và Công an để bao vây dân chủ và đàn áp tự do ở Việt Nam. Trích dẫn chính những phát biểu của giới lãnh đạo Việt Nam, tác giả Phạm Trần đưa ra những nhận định rất bi quan về tương lai đất nước, mà hiểm họa lớn nhất có lẽ là càng ngày càng nằm gọn trong tay Trung quốc. Việt Báo trân trọng giới thiệu.
Tác giả Bảo Giang ghi nhận: “Giai đoạn trước di cư. Nơi nào có dăm ba cái Cờ Đỏ phất phơ là y như có sự chết rình rập." Tại sao vậy? Để có câu trả lời, mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của nhà văn Tưởng Năng Tiến.
Người cộng sản là những “kịch sĩ” rất “tài”, nhưng những “tài năng kịch nghệ” đó lại vô phúc nhận những “vai kịch” vụng về từ những “đạo diễn chính trị” yếu kém. – Nguyễn Ngọc Già (RFA).. Mời bạn đọc vào đọc bài viết dưới đây của phó thường dân/ nhà văn Tưởng Năng Tiến để nhìn thấy thêm chân diện của người cộng sản.
Hoan hỷ chào nhau cầu xưa quá bước Dặm đường im kẽ tóc với chân tơ Tan hợp cười òa. Kia vòm mây trắng Và bắt đầu. Và chấm hết. Sau xưa… . 4.2021 (Gửi hương linh bạn hiền Nguyễn Lương Vỵ, lễ 49 ngày)
Trong mọi hoàn cảnh Anh vẫn không ngừng hoạt động, Anh vẫn cứ đứng ở ngoài nắng - chữ của Mai Thảo. Với tôi, Nhật Tiến - Én Nhanh Nhẹn RS, vẫn cứ mãi là một Tráng Sinh Lên Đường
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.