Hôm nay,  

Say Cùng Tháng Tư

24/04/202516:00:00(Xem: 2195)
Nơi gac vang
Tranh minh họa: Huỳnh Lê Nhật Tấn

  

 

Dễ cũng vài mươi năm nay, cứ vào tháng Tư bất kể ngày nào, miễn là ngày đó bạn bè có thể thu xếp được là phải hẹn gặp nhau. Buổi họp mặt Tháng Tư lặng lẽ hơn so với những buổi họp mặt khác. Vẫn tay bắt mặt mừng bạn cũ lâu ngày, đâu đó nếu nghe tiếng cười, có chăng là gượng gạo.

 

Trong bữa cơm chiều hôm đó cùng nhóm bạn thân, khoảng dăm cặp vợ chồng, trong số đó có một anh thuộc Quân chủng Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Anh Không Quân nhắc về một ngày tháng Tư 1975 khi anh đang điều khiển chiếc trực thăng trên vùng trời miền Trung, nghe tin vị Tổng Thống cuối cùng của miền Nam đầu hàng, anh bèn bay ra biển Đông tìm đường thoát thân.

 

Trong nhóm bạn bè có người hỏi:

 

“Lúc đó vợ con anh ở đâu?”

 

“Tôi chưa có người yêu nói chi đến vợ.”

 

 “Rồi anh cùng trực thăng bay đi đâu?” 

 

“Tôi bay ra biển, trực thăng báo hiệu hết xăng. May quá tôi gặp một con tàu, tôi báo tín hiệu xin đáp xuống và họ đồng ý. Khi trực thăng của tôi vừa đáp xuống, viên chỉ huy tàu ra lệnh cho các thủy thủ đem sơn xịt trắng hết chiếc trực thăng của tôi. Tôi bậm môi ứa nước mắt vì biết rằng thế là mất tất cả.”

 

“Anh có nghĩ về gia đình của mình lúc đó?”

 

“Tía Má và anh em tôi ở bên bờ kênh Cái Sắn, tỉnh Cà Mau. Tôi biết gia đình mình ở gần bà con ruột thịt nên tôi an tâm. Nhưng về phần gia đình của tôi thì trái lại, họ lo lắng chờ mong tin tôi sau nhiều năm bặt tin.”

 

Anh kể tiếp:

 

“Tía Má tôi tìm đến một ông thầy bói hàng xóm xem quẻ hy vọng tôi vẫn còn sống sót đâu đó mà trở về. Nhưng hy vọng đã tan vào mây mờ và khói nhang che phủ căn nhà của Tía Má vì ông thầy bói phán một câu chắc nịch: “Chết rồi!” Má tôi khóc nhiều nhất sau khi xem bói về. Kể từ đó, Tía Má tôi cho phóng to tấm hình chân dung của tôi để đặt lên bàn thờ, chọn ngày giỗ của tôi là ngày ba mươi tháng Tư hàng năm.”

 

“Nhưng rồi câu chuyện đến lúc nào mới có hồi kết?”

 

“Sau 12 năm, một khoảng thời gian đủ dài, chú Hai, thầy giáo làng và là hàng xóm kế bên nhà Tía Má tôi, từng có con trai theo anh em bạn vượt biển tìm tự do và bị mất tích, là người biết tôi còn sống. Ngày nào chú Hai cũng đạp xe ra bưu điện xã để lục lọi thùng rác bưu điện với mong mỏi biết đâu một ngày nào đó nhận được thư từ con trai của chú để biết rằng nó còn sống. (Bưu điện xã thực chất chỉ là cái chòi lá bỏ hoang của bà Tám. Cán bộ không ưa những nhà dân có liên hệ đến chế độ cũ nên các thư gửi về từ nước ngoài thường bị ngấm ngầm xé bỏ). Một hôm, tình cờ chú Hai lục thùng rác thấy một cái phong bì lớn màu hồng chưa bị xé rách. Tên người nhận là Tía Má tôi và tôi là người gửi cái thiệp đó. Nhìn tên tôi là chú Hai nhớ ngay ra đứa nhỏ hằng ngày được chú Hai chở quá giang trên chiếc xe đạp để đến trường.”

 

“Nhưng có gì trong thư đó?”

 

“Từ từ để tôi kể đầu đuôi. Chú Hai đạp chiếc xe cọc cạch về xóm, mừng vui hét to cho cả làng rằng tôi vẫn còn sống. Kéo dài sự háo hức của mọi người, chú Hai còn kể dài giòng: “Tui nhìn vô thùng rác thấy có một phong bì lớn màu hồng đẹp lắm, may mắn phong bì này còn nguyên không bị xé. Nhìn rõ ràng địa chỉ nhà hàng xóm ngay cạnh nhà của tui, tên người gửi là tên của thằng học trò của tui xa xưa nè. Ngày xưa Tía Má nó không cho nó đi học, lý do là Tía Má nó nói nhà cửa ruộng lúa của họ mênh mông ngút ngàn…ăn và sống cho đến đời con cháu của họ cũng chưa hết nên muốn thằng nhỏ ở nhà giúp làm ruộng rẫy. Tui thấy mặt mũi nó sáng sủa nên tình nguyện chở nó đi học mỗi ngày.” Chú Hai kể dứt lời thì chiếc phong bì được mở ra, trong đó có một thiệp cưới màu hồng báo tin tôi lập gia đình. Cả làng chuyền tay nhau xem thiệp và cười vui chúc mừng.”

 

Kể đến đây giọng anh bạn hơi nghèn nghẹn:

 

“Nhớ ngày còn nhỏ tôi được ngồi trên chiếc xe đạp của chú Hai. Cũng nhờ chú khích lệ việc học nên tôi còn ra đến tỉnh học thi Tú Tài và sau đó được tuyển vào Không Lực Việt Nam Cộng Hoà. Tôi biết ơn Chú Hai vì nhờ ông mà tôi được đi học để mở mang kiến thức mà cũng do ông nên gia đình biết tôi còn sống.”

 

“Vậy chớ anh có giận ông thầy bói không?”

 

“Cớ gì mà giận? Ngay lúc biết được tin tôi còn sống, có người la lớn: “Qua nhà ông thầy bói quở ổng bói sai rồi.” Rồi cả xóm ổn ào, người thì đòi ông thầy bói trả lại tiền xem bói, người thì nói thôi bỏ qua vì không ai chết là vui rồi. Thế rồi ngày hôm sau ông thầy bói qua nhà Tía Má tôi nói lời xin lỗi và giúp hạ tấm hình của tôi trên bàn thờ xuống, hứa sẽ giải nghệ không làm nghề thầy bói nữa. Nghe đâu sau này ổng bỏ xứ đi chỗ khác. Tôi tiếc là không gặp được ổng.”

 

“Trời, tiếc chi nữa anh?”

 

Anh bạn cười ha hả:

 

“Để bắt tay ông thầy bói rồi nói với ổng một câu là: “Nhờ Thầy mà cứ đến “Ngày Tui Chết” thì cả xóm của Tía Má tui được ăn Gà Khoả Thân”.

 

Bạn hữu sum họp cùng nhau để sống lại những kỷ niệm, chuyện cũ ôn đi ôn lại nói hoài mà vẫn tưởng là chuyện chưa kể trong khi chuyện mới thì hiếm được nghe. Năm nay, mọi người tề tựu tại nhà Anh. Chị thì thầm bên tai nhắc Anh uống chừng mực, Anh càng lầm lì rót thêm. Rượu vào mềm môi, tê đầu lưỡi, khiến Anh đang cảm giác mình ở nơi xa xăm lắm, giọng nói trở nên chơi vơi. Câu chuyện về cái bàn thờ của anh bạn Không Quân khiến Anh chạnh lòng nhìn lên bàn thờ có hình cha mẹ mình. Quên hẳn mình đang ngồi bên đám bạn hữu, Anh khề khà:

 

“Ba Má à, giờ con gần tám chục tuổi rồi…Con nhớ …ngày mới lớn …con mê chơi quá, lười học theo đám bạn lêu lổng phá làng, phá xóm … “cúp cua” không đi học, đàn đúm bạn bè vào rạp hát xem phim, không chịu vào trường học …Má gửi con lên Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng ở cùng gia đình anh chị Ba. Anh Ba là con rể của Má đó, Má nhớ không?”

 

Trên bàn thờ, tấm hình Má vẫn cười tươi nhìn thằng con “bất trị” ngày trước. Chuếnh choáng, Anh xưng Tui với Má:

 

“Má nhớ không, lúc đó anh Ba con rể của Má làm chức lớn gì đó trong tỉnh. Ảnh có một cái xe máy loại giành riêng cho cấp Tỉnh …Tui bèn “mượn tạm” xe đó chạy khắp nơi … Hôm sau anh Ba bị cấp trên khiển trách …Rồi Má lại phải xe đò lặn lội lên Bảo Lộc, Lâm Đồng rước tui về, vì Anh Chị Ba sợ trách nhiệm do Má giao không hoàn thành, vì tui trốn học hoài…Nghĩ lại tui thương Má quá, Má ơi! May quá, khi về Sài Gòn, tui thi đậu Đệ Thất (là lớp Sáu bây giờ), Má mừng quá chừng, tui lo học hành trong ngôi trường lớn nơi mà kỷ luật đâu vào đó. Rồi tui thi đậu Tú Tài khi chiến tranh tràn lan khắp nước. Tui khoái màu áo rằn ri nên xung phong đi lính luôn.”

 

Bạn bè yên lặng rót rượu mời nhau. Họ tôn trọng những phút giây Anh thì thầm độc thoại: “Ba Má à, Tháng Tư 1975 “bên thắng cuộc” không cùng chiến tuyến chiến tuyến với con đã buộc con cũng như các quân nhân của nhiều binh chủng khác vào nơi rừng thiêng nước độc để “tập trung cải tạo”. Con tơi tả xác thân. Sau tám năm tù đày, trong trại tù bắt đầu xôn xao nghe tin một số người “được thả”, được “tha về” nhưng tên con thì không được gọi. Con biết một số bạn tù được tập trung nơi cái chòi riêng, được ăn uống đầy đủ hơn một chút, được sự chuẩn bị tinh thần, thư từ nhắn gia đình đến đón về…Riêng con, vẫn hàng ngày vác cái cuốc xẻng, vẫn đói, vẫn xác xơ lao động. Rồi cái ngày lạ lùng đó đến khiến con nhớ mãi. Hôm ấy con chuẩn bị vào rừng sâu lao khổ, một tên cán bộ coi tù đến trước mặt:

 

“ Lên văn phòng gặp tôi.”

 

Con tự hỏi chúng lại tìm lý do nào đó để hành hạ mình nữa đây, chắc chúng lại nhốt con trong CONEX thôi.

 

“Ngồi xuống đi!”

 

Tên cán bộ hất hàm. Con ngồi bình tĩnh chờ việc gì sẽ xảy ra với mình. Hắn nhìn con chằm chằm vài giây  rồi nói cộc cằn:

 

“Được thả, lý do sơ sót tên. Anh về lán gom đồ đạc rồi ra đây gặp lại.”

 

Có phần ngỡ ngàng, con không tin vào điều vừa nghe. Quay bước về lán trại gần mà tưởng như xa tít tắp, con gom mớ vật dụng cá nhân ít ỏi của mình đem phân phát lại cho vài bạn tù thân thiết còn lại.

 

Miệng khô khát, Anh nhếch cười gằn giọng:

 

“Ba Má có biết không, gia tài duy nhất của con là Giấy Được Tha và tờ tiền một trăm đồng thời đó.”

 

Trí nhớ Anh dường như chứa cả một kho ký ức nhưng sao kể lại thì khó khăn quá. Chẳng phải vì Anh say. Chẳng phải vì Anh líu lưỡi do men cay. Có lẽ tâm tư về những năm tháng ấy trĩu nặng. Dù gì Anh cũng phải nói ra cho vơi buồn dẫu người nghe ở tận nghìn trùng hay cận kề. Anh chỉ biết mình cần nói cho hả, hay nói theo kiểu người bạn đời của Anh, nói cho tiêu sầu.

 

“Một mình con lếch thếch ra trại, cảm giác khó tả Ba Má ơi! Áo quần tơi tả, giữa ngã ba đường chờ xe đò lâu quá. Con đi bộ một đoạn đường dài lắm. May mắn, con gặp một bà cụ bán cơm tấm gần ga xe lửa. Bà thoáng nhìn con là nói ngay: “ Anh là người tù được thả, phải không? Ngồi đây ăn một dĩa cơm tấm thịt trứng. Nhớ là ăn chầm chậm. Bà không lấy tiền, con cất tiền mua vé, tiền ăn dọc đường nhen con.” Đến lúc con ăn xong thì bà gọi thằng cháu chở con ra trạm xe lửa bằng chiếc xe đạp cũ kỹ rồi dặn dò: “Con không thể mua vé được đâu, vé chợ đen mắc hơn số tiền trại tù đưa con thì còn tiền đâu nữa trong khi đường về nhà Sài Gòn còn xa lắm nên cứ nhảy đại lên toa gần cuối nơi có nhà bếp rồi từ từ năn nỉ họ nếu bị soát vé.” Đúng như bà cụ bán cơm tấm dự liệu, con bị người soát vé kiểm tra và đương nhiên con không có vé tàu. Nhưng có lẽ người soát vé nhìn con gầy quá nên không nỡ đuổi xuống tàu. Ông ta cho con đứng giữa những thanh sắt nối tiếp các toa tàu. Cũng may gió không hất con rơi rụng vì con quá ốm. Cám ơn gió. Cám ơn Trời.”

 

Một vài tiếng thở dài đâu đó nhưng vẫn không ai lên tiếng. Bất chợt Anh bật khóc rưng rức:

 

“Ba Má có biết không, con tiếc quá, sao lúc đó không cho thằng bé tiền, rồi sao không hỏi địa chỉ và tên tuổi để sau này ghé thăm và đền ơn hai bà cháu? Bao nhiêu câu hỏi dồn dập bây giờ thì cũng đã muộn rồi. Tình người để lại ấm trái tim con. Hôm nay con nhắc, con nhớ ơn bà bán cơm tấm và cháu trai bé nhỏ của bà. Con đã nợ ân tình của hai bà cháu mà kiếp này chưa trả được. Rồi con tự hỏi lúc đó sao thằng bé có thể chở được một người tù trên chiếc xe đạp ọp ẹp qua những đoạn đường khúc khuỷu? À, con nhớ ra rồi, thì ra số cân nặng của người tù lúc đó nhẹ hơn số cân của thằng bé.”

 

Tháng Tư chuếnh choáng. Say chẳng phải vì rượu dẫu chỉ nhấp môi hoặc thậm chí trong đám bạn có kẻ chẳng uống giọt nào. Nhưng họ vẫn say như thường. Những hồi ức tháng Tư lần lượt xuất hiện như một chất men nhưng không thể làm người ta quên mà chỉ là giây phút hiếm hoi nhắc nhớ để rồi quên. Quên tạm thời nỗi niềm chất chứa mà không làm sao quên hẳn. Phải say cùng tháng Tư thôi.

Châu Hà

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Đại Tá Hoàng Cơ Lân có tiếng là một cấp chỉ huy trong sạch, thanh liêm và ngay thẳng. Tại Trường Quân Y, Ông giúp cải tổ lại kỷ luật và quân phong của các sinh viên sĩ quan Quân Y hiện dịch, ra chỉ thị các sinh viên phải vào ngủ trong trại, ngoại trừ khi phải trực gác ở bệnh viện, phục hồi duyệt binh và chào cờ VNCH mỗi sáng thứ Hai tại Vũ Đình Trường, những sinh viên hiện dịch bị rớt 1 niên học YK bị cho ra khỏi trường Quân Y. Và có lẽ quan trọng nhất là không còn có chuyện những bác sĩ tốt nghiệp Hiện Dịch hay Trưng Tập thuộc thành phần COCC đã có nhiệm sở của mình trước khi danh sách các đơn vị do Cục Quân Y được phổ biến chính thức tại Trường Quân Y để toàn thể các Quân Y Nha Dược sĩ của toàn khóa chọn cùng một lúc.
Tôi cúp phone, thay vội bộ quần áo, chạy ra ngoài xe mà muốn kêu trời! Trong cái tiệm thuốc Shoppers Drug Mart này, ngoài nhóm nhân viên ở quầy bên ngoài bán Grocery và nhóm bán mỹ phẩm, thì trong quầy pharmacy, ngoài các dược sĩ là nhóm “assistant” (Dược tá) do tôi …cầm đầu vì tôi lớn tuổi nhất và kinh nghiệm làm việc lâu nhất, nên được đám Dược tá gọi là … “chị Đại” chớ thực ra tôi đâu có chức quyền gì, vì mỗi “ca” làm có một “boss” đó là người Dược Sĩ của ca làm đó . Vậy mà hễ có chuyện gì lớn, nhỏ, từ chuyện giải quyết khiếu nại của khách hàng, những khúc mắc giữa các groups trong tiệm, cho đến chuyện cá nhân lặt vặt, cứ không giải quyết được là chúng lại réo tên tôi.
Chỗ anh ngồi là gần cuối máy bay. Chung quanh anh là những người có vẻ mặt lạnh lùng, khép kín. Mắt họ nhắm nghiền, không ai muốn nhìn ai. Chỉ có anh là đang cố giương mắt nhìn khoảng không gian nhỏ xíu bên ngoài cửa sổ mà hai người ngồi bên cạnh đã án ngữ gần hết. Anh muốn nhìn một mảnh của quê hương lần cuối, như thể đó là hình ảnh của em, hình ảnh vừa tan biến cách đây mười mấy phút, khi anh quay lưng đi, lẫn vào dòng hành khách nối đuôi nhau bước vào khoang máy bay.
Cơn bão tuyết đã qua hơn tuần rồi mà hai bên đường và trong các vườn cây tuyết vẫn chưa tan vì còn lạnh quá, ngày nào cũng dưới zero độ. Nhưng nhờ vậy mà những bao rác tiếp tục chồng lên nhau trên các đống tuyết cao ngất ngưởng tới thắt lưng bên đường, chờ xe đến mang đi, không có mùi hôi. Đường sá đã khó đi quanh những công trình xây dựng không ngưng nghỉ nay lại có thêm những rào cản mới, cấm người bộ hành đến gần những toà cao ốc để tránh những mảng tuyết đã bắt đầu đóng thành băng đang rơi xuống
Em nhỏ hơn tôi đúng hai tuổi. Chúng tôi cùng chào đời vào tháng Ba, cách nhau hai ngày. Hồi nhỏ, chúng tôi trông sàn sàn nhau. Mạ chúng tôi thường may sắm cho hai đứa cùng lúc, từa tựa nhau. Tôi được bộ đồ có hình trái lê, em được hình trái táo. Nhưng em cũng có những ý thích riêng của mình. Mạ dẫn hai đứa ra hàng giày dép. Tôi chọn đôi dép màu ngà, không nổi, không chìm. Em chọn đôi dép quai màu hồng tươi chói chang, nổi bật trên bàn chân ham chạy nhảy, da dang nắng, đen thùi lui.
Tôi không biết bên kia với nó là gì. Không biết nó biết không. Có thể không có khái niệm bên kia trong người nó. Chỉ có mùi nước, mùi cỏ ướt, mùi của nơi da nó sẽ được thở đầy hơn. Cơ thể nó biết phải đi về hướng đó mà không cần hỏi tại sao, không cần biết có gì chờ, không cần tính xem đáng hay không đáng.
Có những tình cảm không cần nói thành lời mà vẫn hiện hữu rất rõ trong tim. Có những tình yêu lặng lẽ, rất âm thầm nhưng vô cùng mãnh liệt. Tôi yêu em như thế, yêu theo cách lặng lẽ nhất mà một người có thể yêu; có lẽ và sẽ chẳng bao giờ em biết được những gì tôi giữ trong lòng. Huy đến trong đời tôi như một làn gió mát giữa trưa hè, không ồn ào, không phô trương, nhưng khiến tôi xao động đến tận tâm đáy tâm hồn. Em có nụ cười dịu dàng, ánh mắt trong trẻo như mặt nước hồ thu, và giọng nói nhỏ nhẹ như tiếng chuông khẽ vang trong buổi chiều tĩnh lặng. Mỗi lần nhìn em lặng lẽ ngắm mưa ngoài cửa sổ, mái tóc nhẹ bay, lòng tôi lại dâng lên một cảm giác yêu thương ngập tràn.
Tôi có đôi lần nói một cách tự hào là chẳng bao giờ giữ các cảm xúc ‘mạnh’ trong lòng. Người sống với sự quá khích thường là người bị mất sự vui sống trước tiên. Không ưa, không thích, không hợp, không ‘chịu nổi’ thì không làm bạn, thế thôi. Nhưng những năm gần đây, các cảm xúc ‘mạnh’ lại tràn lan như quả cầu bồ công anh trong gió. Những sợi tơ trắng bám nơi nào, lúc nào không biết, nhưng chúng làm người ta ngứa ngáy vô cùng. Ngứa mắt, ngứa miệng. Không thể nào không dụi mắt, không thể nào không hé môi. Sự ngứa ngáy lại này rất ác ôn: nó thích xuất hiện bất ngờ. Khi ta đang ăn trưa với một người bạn, đang chuyện trò với người thân, chẳng hạn. Không lẽ bỏ bữa ăn? Không lẽ cúp điện thoại? Thế là phải dụi mắt, phải hé môi. Đã lỡ hé rồi, thì cho nó há ra luôn. Thế là người bạn, người thân cũng khoe cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!
Tết năm nay, năm 2026 là Tết Bính Ngọ, năm con Ngựa. Trong tâm thức người Việt, mùa Xuân luôn là khởi đầu của những hy vọng. Ngày xưa dân gian tin rằng năm Bính Ngọ là năm của ngựa lửa — chạy nhanh, tính nóng, khó ghìm cương. Vì thế ai sinh năm này thì lanh lợi, thẳng như ruột ngựa, làm gì cũng nhanh như gió, nói trước nghĩ sau.
Ông bà mình có câu “Thấy 30 chưa phải là Tết” với nghĩa bóng, rằng sự gì chưa nắm trong tay là chưa vội mừng, chưa chắc ăn. Nhưng với nghĩa đen, theo tôi, thì không hẳn thế, vì Ba Mươi mới chính là Tết, thậm chí còn…vui hơn Tết, nên mới có lời thơ “Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi” đấy thôi! Ngày Ba Mươi, sau một tuần bận rộn dọn dẹp kể từ ngày 23 Ông Táo, là ngày cuối cùng gấp rút cho mọi công việc để đón năm mới. Cứ khoảng 6-7 giờ tối, sau khi nhà cửa yên ổn sạch sẽ, chỉ còn dưới bếp bà chị Hai vẫn âm ỉ vài món ăn cho đêm Giao Thừa và sáng Mồng Một, các thành viên khác trong gia đình cũng bận bịu với những chuyện riêng của mình, thì tôi và nhỏ bạn thân có thói quen rủ nhau chạy xe lên chợ Xóm Mới mua bánh gai nóng hổi mới ra lò, mang về bày biện thêm cho mâm thức ăn ngày Tết.
Từ hồi tiền sử con người sống có lúc cũng yên lành, sau đó dần dần cũng tranh giành quyền lợi vật chất và ảnh hưởng quyền lợi hơn thua với nhau nên dần dần càng về sau, họ không ở yên bên nhau nữa… mà sanh ra chống chọi nhau, chống đối hơn thua để sống… mạnh được yếu thua. Ngoài việc chống đối với nhau, còn phải chống đối với thú dữ… với thiên nhiên, từ đó cuộc sống là một cuộc chiến không ngừng, mệt mỏi… mệt mỏi quá thì mơ tưởng và mong ước hòa bình.
Qua mùa Noël ít ngày là mùa xuân lại về. Mùa xuân về mang một sự thay đổi của đất trời và của cả lòng người… cây cối hoa lá đâm chồi nẩy lộc… và lòng người, với một chút bâng khuâng… chờ đón một cái gì đổi mới, chờ ở xa nơi quê hương và chờ cả ở nơi đây, chắc sẽ có một chút gì mới hơn, thay đổi bộ mặt của năm cũ, đầy xô đẩy, đầy dằng co của chiến tranh, của bão lũ thiên tai nhân tai dồn dập…
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.