Hôm nay,  

Các Cụ Tán Gái

28/03/202500:00:00(Xem: 1231)
*
 
Phải thanh minh thanh nga ngay cho các cụ, đây không phải chuyện trâu già gặm cỏ non mà là chuyện ngày xưa các cụ tán gái khi còn thanh xuân. Chuyện trâu già gặm cỏ non cũng có, khi cụ Nguyễn Trãi làm thơ tán cô bán chiếu Nguyễn Thị Lộ, nhưng tuy đây là một cuộc tán gái nổi tiếng nhưng không thuộc vào category này nên không nhắc tới tại đây.

Nguyen cong tru

Cụ Nguyễn Công Trứ.

Tôi muốn nói tới chuyện của cụ Nguyễn Công Trứ, cũng oai phong lẫm liệt cả văn lẫn võ không thua chi cụ Nguyễn Trãi. Cụ Nguyễn Công Trứ ngay từ nhỏ đã mê ca hát, nhất là hát phường vải và ca trù. Phường ca trù nổi tiếng nhất là của làng Cổ Đạm, nằm gần làng Uy Viễn của Nguyễn Công Trứ. Trong phường ca trù này có cô đào Hiệu Thư vừa đẹp vừa hát hay. Nhưng có lẽ vì tài sắc vẹn toàn nên tính tình rất kiêu kỳ, chỉ giao du với các bậc vương tôn công tử hoặc những người có danh phận. Khi đó cậu Trứ cũng nổi tiếng là người tài hoa: đàn hay, đánh trống chầu vào loại thượng thừa lại thêm văn hay chữ tốt khi ứng tác bài hát.  Vậy mà cậu không được người đẹp Hiệu Thư ngó ngàng chi tới. Lòng say mê người đẹp khiến cậu hạ mình xin làm người đệm đàn cho Hiệu Thư. Cậu được Hiệu Thư thu dụng. Từ đó cậu thân cận được người đẹp, nàng đi hát đâu cũng đem theo tay đệm đàn này. Nhưng cũng chỉ được gần Hiệu Thư những khi trình diễn, đông người chung quanh nên chưa có dịp thổ lộ tình cảm. Một bữa phường hát Cổ Đạm được mời qua hát ở Vĩnh Yên, đường đi khá xa. Nguyễn Công Trứ được theo Hiệu Thư để đệm đàn và đặt lời ca. Bất ngờ hai người chậm bước, không theo kịp đoàn. Nghĩ đây là dịp may để tỏ tình nhưng vướng chú tiểu đồng vẫn lẽo đẽo theo hầu bên cạnh. Cậu Trứ mánh mung, giả vờ hô toáng lên là quên dây đàn ở nhà. Hiệu Thư tưởng thật, sai chú tiểu đồng chạy về lấy. Khi hai người đi qua một cánh đồng vắng vẻ, Nguyễn Công Trứ buông lời tán tỉnh, Hiệu Thư chỉ “ứ hự” chứ không lên tiếng từ chối hay trách móc chi. Nhưng chàng trai họ Nguyễn này thuộc loại chết nhát nên duyên phận chẳng đi đến đâu.

Cậu học trò Nguyễn Công Trứ là người văn hay chữ tốt, rất giỏi kinh sử nhưng tính tình phóng khoáng nên lận đận đường khoa cử. Mãi tới năm 41 tuổi mới đậu Giải Nguyên và ra làm quan dưới triều Nguyễn. Năm 1832, ông được bổ giữ chức Tổng Đốc Hải Yên. Vẫn còn dòng máu mê hát ả đào, một lần kia ông tổ chức hát ngay tại tư dinh, mời những danh ca tới giúp vui. Trong số người được mời này có Hiệu Thư, người ông mê mệt năm xưa. Khi tới lượt trình diễn, Hiệu Thư nhận ngay ra quan Tổng Đốc đang ngồi chễm chệ nghe hát trên kia chính là cậu Trứ năm xưa. Nàng cất giọng: “Giang san một gánh giữa đồng / Thuyền quyên “ứ hự” anh hùng nhớ chăng?”. Nghe câu hát, quan Tổng Đốc giật mình nhớ lại chuyện xưa. Quan vội hỏi: “Phải nàng là Hiệu Thư đó chăng?”. Khi tàn cuộc hát, ông cho vời Hiệu Thư lại hàn huyên. Biết Hiệu Thư vẫn đơn chiếc, ông cưới nàng làm thiếp. Câu chuyện tình này đã được ông ký thác lại trong bài thơ: “Bỡn Cô Đào Già”:

Liếc trông đáng giá mấy mười mươi
Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười
Giăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết
Hoa tàn song lại nhụy còn tươi
Chia đôi duyên nợ, đà hơn một
Mà nét xuân kia vẹn cả mười
Vì chút tình duyên nên đằm thắm
Khéo làm cho bận khách làng chơi.

Trang Biu

Trạng Bịu Nguyễn Đăng Đạo.

Lưỡng quốc Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo, sanh năm 1651, mất năm 1719, quê làng Hoài Bão, tên tục là làng Bịu, ở Tiên Du, Bắc Ninh, cũng là một cao thủ trong chuyện tán gái. Thuở nhỏ, khi đang theo học tại kinh đô, nhân Tết Nguyên Tiêu ngày rằm tháng giêng, ông mặc áo nhà nho đạm bạc, cùng bạn bè đi dạo kinh thành. Họ tới thăm chùa Báo Thiên. Vừa tới cổng chùa, họ thấy một chiếc kiệu hoa, có lính theo hầu, có nữ tỳ vây quanh. Từ kiệu hoa bước xuống là một tiểu thư mặt hoa da phấn, sắc đẹp thuộc loại chim sa cá lặn. Cậu Đạo nhà ta sững người chết trân, quên cả ngắm cảnh. Giai nhân vào chùa hồi lâu mới ra, bước lên kiệu. Chàng thư sinh mê mẩn đứng trước kiệu, lính lệ quát tháo, giơ roi đánh dẹp đường nhưng Nguyễn Đăng Đạo vẫn tỉnh bơ. Bỗng từ trong kiệu, tiếng tiểu thư cất lên: “Hội vui cảnh đẹp, mọi người cùng du chơi thưởng ngoạn, các ngươi chớ nạt nộ người ta như thế!”. Rồi nàng lệnh cho quân khiêng kiệu tránh đường mà đi. Ông trạng tương lai cũng cất bước đi theo và chỉ đành đứng lại khi kiệu vào một dinh thự to lớn. Thấy có một quán nước bên đường, ông vào lân la hỏi bà bán quán và được biết đây là dinh quan Ngô Hiến hầu, coi về cấm binh, chỉ huy việc quân cả kinh thành. Thiếu nữ trên kiệu là con gái độc nhất của quan, vừa hay chữ vừa xinh đẹp nết na, tới tuổi cập kê nhưng mắt xanh chưa đoái tới ai. Nghe vậy, Nguyễn Đăng Đạo quyết tâm tìm cách tiếp cận nàng. Ông trở lại dinh quan, tìm cách làm bạn với một đứa hầu nhỏ trong dinh, mua kẹo bánh hối lộ để dò hỏi đường ra lối vào, vị trí các phòng trong dinh, ghi nhớ trong dạ. Ngay đêm hôm đó, ông mặc gọn ghẽ, trèo mấy lớp tường, lần tới phòng người đẹp, khoét tường chui vào trong phòng, lên giường nằm chung với cô gái, khẽ lay cô dậy. Tiểu thư đang say giấc nồng, giật mình tỉnh dậy thấy có người lạ trên giường nhưng không hoảng hốt, hỏi cớ sự. Nguyễn Đăng Đạo tình thật trình bày: “Từ bữa gặp nàng ở chùa, tôi trằn trọc thương nhớ khôn nguôi, định tìm mai mối, lại sợ làm nhơ đến quan tể tướng, chưa chắc được ngài đoái hoài tới. Nay cả gan ở đây, định ngỏ lới đính ước trăm năm với tiểu thư”. Người đẹp cả thẹn hỏi: “Quân canh bao nhiêu lớp, lầu các sâu thăm thẳm, ngươi làm sao vào lọt được nơi đây? Cha tôi tính nóng như lửa, chuyện này bị lộ, ngươi sẽ bị băm vằm thành bùn cho coi”. Nghe vậy, Đăng Đạo chỉ cười. Tiểu thư vội lấy hai tấm lụa trao cho ông, nói tiếp: “Ngươi chết cũng đáng tội. Nhưng nếu để người ta biết thì tiết hạnh của ta cũng mang vết. Ta cho ngươi cái này, nhân lúc bọn gia nhân chưa biết, mau tìm đường mà trốn đi”. Đăng Đạo cười nói: “Nàng đừng đem cái chết ra dọa ta. Nếu sợ chết, ta đã không lẻn vào đây. Nếu đại nhân có tới, ta cũng thành thật mà thưa, cớ sao mang cái chết ra dọa nhau?”. Giọng Đăng Đạo oang oang khiến bọn gia nhân thức giấc, ùa đến bắt ông. Kẻ đánh, người trói mà Đăng Đạo vẫn cứ  cười nói không thôi. Ngô Hiến hầu hay biết đùng đùng nổi giận nhưng thấy chàng thư sinh mặt mũi nho nhã, nói năng đàng hoàng thẳng thắn bèn đem lòng thương, không nỡ đánh đập. Lệnh cho giải tới pháp quan luận tội. Đúng lúc đó có quan đồng liêu họ Phạm làm ở Nội Viện đến thăm, thấy sự việc bèn nói với quan Ngô Hiến: “Kẻ làm việc phi thường ắt có tài khác thường. Tên này chắc có tài cán, hoài bão gì đây. Chi bằng xem nó có tài gì không. Nếu có thì nhân đó tác thành cho nó. Còn nếu là loại côn đồ thì đánh chết chưa muộn”. Nghe bạn nói hợp lý, quan cho gọi Đăng Đạo vào, bắt làm văn để thử tài. Nhận được đề, chẳng cần suy nghĩ, Đăng Đạo hạ bút viết liền một mạch xong ngay, lại còn tự tin bảo bọn người hầu: “Bay đi nói với tiểu thư sửa soạn cơm nước, nếu có chút khinh lờn là ta nhất định không làm khách quý nhà các người nữa”. Bọn người hầu bưng miệng cười chế nhạo cho là kẻ ngông cuồng. Bài thơ được trình lên, hai quan đọc xong hết lời ca ngợi. Quan họ Phạm nói riêng với quan họ Ngô: “Ngàn  vàng cũng chẳng tìm được đứa rể quý như thế này đâu!”. Thấy tên cả gan đục tường mò vào phòng tiểu thư giỏi văn chương thơ phú, Ngô Hiến hầu ra lệnh tha tội, hỏi quê quán họ tên, làm phòng riêng cho ở, cấp dầu đèn cho học. Năm sau, Nguyễn Đăng Đạo thi đỗ đầu kỳ thi Hương, được quan Ngô Hiếu tác thành nhân duyên phu phụ với con gái ông.


Trong nghệ thuật tán gái có 36 kế, không biết kế đục tường vào giường ngủ của người đẹp thuộc kế nào. Tôi rắp tâm nghiên cứu thấy chỉ có kế “ám độ trần sương” diễn nôm là “đi con đường mà không ai nghĩ đến” là có thể  có chút dây mơ rễ má với chuyện của ngài Lưỡng quốc Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo.  Kế này dạy khi tán gái phải có những hành động tỏ tình độc đáo làm kích thích trí tưởng tượng của phụ nữ. Kế này không có đường mòn, chàng trai phải phạt cỏ chặt cây tạo ra lối đi. Tiểu thư con quan đang yên giấc trong dinh được canh gác cẩn mật, mở mắt dậy thấy một tên lạ hoắc nằm trên giường thì quá bất ngờ và khác lạ, ú ớ nể phục là cái chắc. Dù sao thì cũng đã ngủ với trai, la lên thì xấu chàng hổ thiếp, thôi thì OK cho nó lành!

Kế sách “ám độ trần sương” là kế thứ 15 trong 36 kế tán gái các cụ đã nằm lòng. Chắc các công tử còn cu ky một mình ngày nay cũng muốn biết các kế khác có chi học hỏi được không. Giấy bút có hạn, tôi không thể diễn giải kỹ càng, chỉ bonus cho các chàng trai đang rắp ranh bắn sẻ tên của 36 kế của người xưa. Muốn ngâm cứu xin tìm trong Google. Kế thứ nhất là “dương đông kích tây” (đánh lạc hướng đối phương). Tiếp theo là: “Điệu hổ ly sơn” (dụ hổ ra khỏi rừng); “Nhất tiễn hạ song điểu” (một mũi tên hạ hai con chim); “Minh tri cố muội” (biết rõ mà làm như không biết); “Du long chuyển phượng” (biến rồng thành phượng); “Mỹ nhân kế” (kế dùng người đẹp); “Sấn hỏa đả kiếp” ( theo lửa mà hành động); “Vô trung sinh hữu” (không có mà làm thành có); “Tiên phát chế nhân” (ra tay trước để chế phục đối phương); “Đả thảo kinh xà” (đập cỏ cho rắn sợ); “Tá đao sát nhân” ( Mượn dao giết người); “Di thể giá họa” (dùng vật gì để vu khống người khác); “Khích tướng kế” (kế chọc giận tướng giặc); “Man thiên quá hải” (lợi dụng sương mủ để ẩn trốn); “Ám độ trần sương” (đi con đường không ai  nghĩ đến); “Phản khách vi chủ” (đổi vị khách thành vị chủ); “Kim thiền thoát xác” (ve sầu vàng lột xác); “Không thành kế” (bỏ trống cửa thành); “Sát kê hách hầu” (giết gà cho khỉ sợ); “Phản gián kế” (dùng kế của đối phương để quật lại): “Lý đại đào cương” (đưa cây lý chết thay cây đào); “Thuận thủ khiên dương” (thuận tay dắt dê về); “Dục cầm cố tu” (muốn bắt lại thả ra); “Khổ nhục kế” (hành hạ thân xác mình); “Phao bác dẫn ngọc” (ném hòn ngói thu về hòn ngọc); “Tá thi hoàn hồn” (mượn xác để hồn về). Kế cuối cùng chắc nhiều chàng đi ve gái đã thuộc lầu: “Tẩu kế” (chạy thoát thân). 

Chiến lược chiến thuật tán gái phức tạp như vậy, nghe thiệt rắc rối. Tôi khoái lối tán gái đơn sơ, tự nhiên của những chàng trai của ruộng đồng hơn. Những câu tán gái thơ mộng, ít lời nhiều ý đã nằm trong ca dao. “Hỡi cô vác cuốc thăm đồng / thăm lúa, thăm mạ hay lòng thăm ai”. Hoặc: “Thấy em thấp bé mà xinh / Anh thuận nhân tình, anh nắm cổ tay / Nắm rồi anh hỏi cổ tay / Ai nặn nên trắng, ai xây nên tròn?”.

Ca dao tán tỉnh nghe tình hết biết. Chỉ những người sống giản dị giữa thiên nhiên mới có được những ý tưởng ngộ nghĩnh. “Ước gì sông rộng một gang / Bắc cầu dải yếm cho nàng sang chơi”. Hoặc: “Cô kia cắt cỏ bên sông / Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”. Hay: “Gần nhà mà chẳng sang chơi / Để anh bắc ngọn mùng tơi làm cầu”.

Giữa cảnh đồng ruộng sông nước bao la, ánh trăng trên trời, người thương dưới đất, ca dao mượn đông nói tây, mượn quả nói lòng. “Trèo lên cây khế nửa ngày / Ai làm chua xót lòng này khế ơi!”. Hoặc: “Trăng dưới nước là trăng trên trời / Người trước mặt là người trong tim”.

Tài tình của ca dao là biết mượn hồn xác một hành động đơn giản bên ngoài để diễn tả tình cảm bên trong. “Rung cây rung cội rung cành / Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng”. Hoặc: “Bướm bay giữa bể bướm rơi / Anh thấy em ngó nhiều nơi anh buồn”.

Chơi chữ là một nghệ thuật trong văn chương. Ca dao không chủ ý làm văn chương nhưng cũng có những câu chơi chữ rất tới. “Đỗ tương thì ủ tương bần /  Đỗ chàng thì ủ tám lần tương tư”. Hoặc: “Chẳng cần nghiêng nước nghiêng thành ? Chỉ cần nghiêng đủ lòng anh là vừa”.

Đụng vào ca dao, tôi khó dứt ra. Số đếm là những con chữ lạnh tanh, khô không khốc, chẳng có chút tình tứ thơ mộng nào. Nhưng khi ca dao đếm, những con số như linh động, được khoác vào một tấm áo mượt mà chữ nghĩa. “Một chờ, hai đợi, ba trông / Bốn thương, năm nhớ, bảy tám chín mong, mười tìm”. Thêm một câu nữa: “Người sao một hẹn thì nên / Tôi sao chín hẹn mà quên cả mười”. Đó là những con số đã hoàn chỉnh nhưng ca dao còn bỡn cợt với con số chưa tròn trĩnh, nửa cho mình, nửa cho người. Vậy mới tình “Chăn kia nửa đắp nửa hờ / Gối kia nửa đợi, nửa chờ duyên em”.

Tán tỉnh mà đếm như không đếm, con số khô khốc đã ướt rượt, sao tình đến vậy ta?                                                                                                   
                                                                                                    
03/2025                                                                                  
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Kỹ thuật về điện thoại di động đã tạo điều kiện cho mọi người có thể lưu lại hình ảnh hoặc một sự kiện nào đó đang xảy ra của hiện tại. Những sự ghi lại này đã góp phần tốt trong việc tìm ra những sự việc sai trái của cá nhân hay của tổ chức nào đó hầu đưa ra ánh sáng của tòa án. Tuy nhiên có những trường hợp không nên dùng phương tiện điện thoại di động để thu lại hình ảnh và đưa lên mạng xã hội. Điều này ít ai để ý đến và có thể làm nguy hiểm đến một cá nhân nào đó. Hãy nhìn ở một góc nhìn rộng lớn để cùng nhau bàn thảo cho chủ đề này.
Bạn tôi, nhà thơ Triều Hoa Đại ấn hành tác phẩm Lên Rừng Đếm Lá. Nhân dịp nầy, người bạn vong niên từ thời ở Đà Nẵng - Lê Bảo Hoàng (nhà thơ Luân Hoán) - hai nhà thơ thực hiện cuộc trò chuyện với nhau. Theo Triều Hoa Đại thì khi rời bỏ đất nước ra đi, hình như một số anh, chị em trong đó có tôi đã bỏ “của” mà chạy lấy người nên đã không đem theo được một tác phẩm nào…
Chiếc British Airways khởi hành lúc 10 giờ đêm từ phi trường Trudeau, Montreal Canada, bay hai tiếng rưỡi đến Heathrow, London (LHR), nằm ở phía Tây London, cách trung tâm thành phố 23km, là một sân bay bận rộn nhất Châu Âu với hàng triệu lượt khách mỗi năm; chúng tôi chờ ở đây hai tiếng rưỡi, rồi bay tiếp thêm 7 tiếng rưỡi nữa để đến Madrid, thủ đô của Tây Ban Nha (Spain). Madrid đi trước Montreal 6 tiếng vào mùa đông và 5 tiếng vào mùa hè bắt đầu vào cuối tháng 3 đến cuối tháng 10.
Ngày thứ bảy 15/3/2025 vừa qua, các nhân viên làm việc cho các đài phát thanh Tiếng Nói Hoa Kỳ VOA và đài Á châu Tự Do RFA khi tới sở đã nhận được lệnh nghỉ hành chánh, phải ra về và nộp lại thẻ báo chí. Báo chí cho biết đây là khởi đầu cho tiến trình phẹc mê bu tích các đài phát thanh này. Giám đốc đài VOA Michael Abramowitz lập tức ra tuyên bố: “Tôi vô cùng đau lòng khi lần đầu tiên sau 83 năm, đài VOA lừng lẫy không được phép lên tiếng. Sáng nay tôi mới hay tin gần như toàn bộ nhân viên VOA, hơn 1.300 nhà báo, nhà sản xuất và nhân viên bị cho nghỉ hành chánh. Tôi cũng không phải ngoại lệ”. Ngoài đài VOA, đài Á Châu Tự Do RFA cũng cùng chung một số phận. Đài Á châu Tự Do là một đài phát thanh tư nhân phi lợi nhuận, được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ nhằm cung cấp thông tin, tin tức và bình luận trực tuyến cho thính giả tại Á châu. Đài hoạt động bằng 9 thứ tiếng trong đó có tiếng Việt. Đài bắt đầu hoạt động từ ngày 12/3/1996 với mục đích thúc đẩy và nâng đỡ tự do và dân chủ tới những ng
Sáng sớm hôm nay, khi mở hộp thư, nhận được tin, tôi liền điện thoại cho anh Phạm Văn Nhàn, người bạn thân với anh chị Thương – Quy. Hỏi, “Anh Nhàn ơi, anh hay tin gì chưa? Anh Lê Ký Thương đã ra đi lúc 9 giờ 50 phút sáng hôm nay 14/2/2025. Cả hai anh em đều buồn. Im lặng một lúc, anh kể mới gọi thăm anh LKT cách nay mấy tuần. Chị Quy nói chuyện rồi đưa phone qua cho anh Thương, nhưng khi đó miệng anh Thương đã cứng, không nói được gì...
Hồi trẻ tôi đi lính xa nhà có lần về phép được Mạ tôi nấu cho một bữa cơm ngon ngất ngư. Ăn lạ miệng tôi hỏi cơm chi Mạ nói cơm Âm Phủ. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi được ăn món cơm mang cái tên thật kỳ dị của xứ Huế, quê Mạ tôi. Khi tôi trở ra đơn vị ở Cheo Reo, Mạ không quên bới cơm Âm Phủ cho tôi mang theo. Biết đâu nhờ miếng "cơm ma" này mà tôi sống sót cho tới ngày tàn cuộc chiến.Ngày nay Mạ tôi đã gần trăm tuổi, tôi cũng chẳng còn trẻ trung chi. Hai mẹ con cùng tóc bạc da mồi, cùng lụm cụm ngồi ôn lại chuyện xa xưa ở quê nhà. Khi tôi nhắc tới cơm Âm Phủ thì Mạ tôi cười thật hiền, nụ cười "hăng rết hết răng" thiệt là dễ thương.
Mỗi năm, tôi đều nhận được điện thư hoặc thiệp chúc Tết từ một số bạn, trong đó có nó. Nó không gởi thư Merry Christmas, Happy New Year, chỉ duy nhất dịp Tết Âm lịch. Nó là dân miền Tây cần cù, hiếu hoc, là bạn thân của tôi...
Con người đến với nhau nhờ duyên và yêu nhau vì nợ. Ông cha ta đã nói là có duyên thì nghìn trùng xa cách cũng gặp mà khi không có duyên, nôm na gọi là vô duyên, thì có ngồi đối mặt cũng "bất tương phùng“ coi như người đối diện không có mặt, không hiện hữu: Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ Vô duyên đối diện bất tương phùng. Nên hữu duyên hay vô duyên có thể nói là do ông trời xếp đặt, vợ chồng không phải ngẫu nhiên mà đến với nhau được, đều do nhân duyên mà ra, mọi vật đều do nhiều yếu tố kết hợp mà thành. Mà đã do nhân duyên rồi, thì tránh trời cũng không khỏi nắng, coi như định mệnh đã an bài.
Thành ngữ ta có câu “Cái răng, cái tóc là góc con người” nhưng cái tóc thường ám chỉ với nữ giới vì “người đẹp nhờ tóc”. Về nhân tướng học, có nhiều khuôn mặt thích ứng cùng với mắt, mũi, miệng… và kèm theo đó với răng và tóc. Trong Hồi Ức Một Đời Người của Nguyễn Ngọc Chính có chương đề cập đến mái tóc, và tùy theo nhãn quan của mỗi người với phái nữ về tóc ngắn, tóc dài.
Tôn Ngộ Không (Sun Wukong) là một chú khỉ có những khả năng phi thường và trí tuệ giống như con người. Với cây gậy như ý và những phép thuật siêu phàm, Tôn Ngộ Không, hay còn gọi là Hầu Vương, là một nhân vật huyền thoại trong tiểu thuyết Tây Du Ký (Journey to the West) – một trong Tứ Đại Kỳ Thư (hay Tứ Đại Tài Tử Thư) của nền văn học cổ đại Trung Hoa – và vẫn luôn được nhiều thế hệ độc giả trên toàn thế giới ưa thích.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.