Hôm nay,  

Các Cụ Tán Gái

28/03/202500:00:00(Xem: 2538)
*
 
Phải thanh minh thanh nga ngay cho các cụ, đây không phải chuyện trâu già gặm cỏ non mà là chuyện ngày xưa các cụ tán gái khi còn thanh xuân. Chuyện trâu già gặm cỏ non cũng có, khi cụ Nguyễn Trãi làm thơ tán cô bán chiếu Nguyễn Thị Lộ, nhưng tuy đây là một cuộc tán gái nổi tiếng nhưng không thuộc vào category này nên không nhắc tới tại đây.

Nguyen cong tru

Cụ Nguyễn Công Trứ.

Tôi muốn nói tới chuyện của cụ Nguyễn Công Trứ, cũng oai phong lẫm liệt cả văn lẫn võ không thua chi cụ Nguyễn Trãi. Cụ Nguyễn Công Trứ ngay từ nhỏ đã mê ca hát, nhất là hát phường vải và ca trù. Phường ca trù nổi tiếng nhất là của làng Cổ Đạm, nằm gần làng Uy Viễn của Nguyễn Công Trứ. Trong phường ca trù này có cô đào Hiệu Thư vừa đẹp vừa hát hay. Nhưng có lẽ vì tài sắc vẹn toàn nên tính tình rất kiêu kỳ, chỉ giao du với các bậc vương tôn công tử hoặc những người có danh phận. Khi đó cậu Trứ cũng nổi tiếng là người tài hoa: đàn hay, đánh trống chầu vào loại thượng thừa lại thêm văn hay chữ tốt khi ứng tác bài hát.  Vậy mà cậu không được người đẹp Hiệu Thư ngó ngàng chi tới. Lòng say mê người đẹp khiến cậu hạ mình xin làm người đệm đàn cho Hiệu Thư. Cậu được Hiệu Thư thu dụng. Từ đó cậu thân cận được người đẹp, nàng đi hát đâu cũng đem theo tay đệm đàn này. Nhưng cũng chỉ được gần Hiệu Thư những khi trình diễn, đông người chung quanh nên chưa có dịp thổ lộ tình cảm. Một bữa phường hát Cổ Đạm được mời qua hát ở Vĩnh Yên, đường đi khá xa. Nguyễn Công Trứ được theo Hiệu Thư để đệm đàn và đặt lời ca. Bất ngờ hai người chậm bước, không theo kịp đoàn. Nghĩ đây là dịp may để tỏ tình nhưng vướng chú tiểu đồng vẫn lẽo đẽo theo hầu bên cạnh. Cậu Trứ mánh mung, giả vờ hô toáng lên là quên dây đàn ở nhà. Hiệu Thư tưởng thật, sai chú tiểu đồng chạy về lấy. Khi hai người đi qua một cánh đồng vắng vẻ, Nguyễn Công Trứ buông lời tán tỉnh, Hiệu Thư chỉ “ứ hự” chứ không lên tiếng từ chối hay trách móc chi. Nhưng chàng trai họ Nguyễn này thuộc loại chết nhát nên duyên phận chẳng đi đến đâu.

Cậu học trò Nguyễn Công Trứ là người văn hay chữ tốt, rất giỏi kinh sử nhưng tính tình phóng khoáng nên lận đận đường khoa cử. Mãi tới năm 41 tuổi mới đậu Giải Nguyên và ra làm quan dưới triều Nguyễn. Năm 1832, ông được bổ giữ chức Tổng Đốc Hải Yên. Vẫn còn dòng máu mê hát ả đào, một lần kia ông tổ chức hát ngay tại tư dinh, mời những danh ca tới giúp vui. Trong số người được mời này có Hiệu Thư, người ông mê mệt năm xưa. Khi tới lượt trình diễn, Hiệu Thư nhận ngay ra quan Tổng Đốc đang ngồi chễm chệ nghe hát trên kia chính là cậu Trứ năm xưa. Nàng cất giọng: “Giang san một gánh giữa đồng / Thuyền quyên “ứ hự” anh hùng nhớ chăng?”. Nghe câu hát, quan Tổng Đốc giật mình nhớ lại chuyện xưa. Quan vội hỏi: “Phải nàng là Hiệu Thư đó chăng?”. Khi tàn cuộc hát, ông cho vời Hiệu Thư lại hàn huyên. Biết Hiệu Thư vẫn đơn chiếc, ông cưới nàng làm thiếp. Câu chuyện tình này đã được ông ký thác lại trong bài thơ: “Bỡn Cô Đào Già”:

Liếc trông đáng giá mấy mười mươi
Đem lạng vàng mua lấy tiếng cười
Giăng xế nhưng mà cung chẳng khuyết
Hoa tàn song lại nhụy còn tươi
Chia đôi duyên nợ, đà hơn một
Mà nét xuân kia vẹn cả mười
Vì chút tình duyên nên đằm thắm
Khéo làm cho bận khách làng chơi.

Trang Biu

Trạng Bịu Nguyễn Đăng Đạo.

Lưỡng quốc Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo, sanh năm 1651, mất năm 1719, quê làng Hoài Bão, tên tục là làng Bịu, ở Tiên Du, Bắc Ninh, cũng là một cao thủ trong chuyện tán gái. Thuở nhỏ, khi đang theo học tại kinh đô, nhân Tết Nguyên Tiêu ngày rằm tháng giêng, ông mặc áo nhà nho đạm bạc, cùng bạn bè đi dạo kinh thành. Họ tới thăm chùa Báo Thiên. Vừa tới cổng chùa, họ thấy một chiếc kiệu hoa, có lính theo hầu, có nữ tỳ vây quanh. Từ kiệu hoa bước xuống là một tiểu thư mặt hoa da phấn, sắc đẹp thuộc loại chim sa cá lặn. Cậu Đạo nhà ta sững người chết trân, quên cả ngắm cảnh. Giai nhân vào chùa hồi lâu mới ra, bước lên kiệu. Chàng thư sinh mê mẩn đứng trước kiệu, lính lệ quát tháo, giơ roi đánh dẹp đường nhưng Nguyễn Đăng Đạo vẫn tỉnh bơ. Bỗng từ trong kiệu, tiếng tiểu thư cất lên: “Hội vui cảnh đẹp, mọi người cùng du chơi thưởng ngoạn, các ngươi chớ nạt nộ người ta như thế!”. Rồi nàng lệnh cho quân khiêng kiệu tránh đường mà đi. Ông trạng tương lai cũng cất bước đi theo và chỉ đành đứng lại khi kiệu vào một dinh thự to lớn. Thấy có một quán nước bên đường, ông vào lân la hỏi bà bán quán và được biết đây là dinh quan Ngô Hiến hầu, coi về cấm binh, chỉ huy việc quân cả kinh thành. Thiếu nữ trên kiệu là con gái độc nhất của quan, vừa hay chữ vừa xinh đẹp nết na, tới tuổi cập kê nhưng mắt xanh chưa đoái tới ai. Nghe vậy, Nguyễn Đăng Đạo quyết tâm tìm cách tiếp cận nàng. Ông trở lại dinh quan, tìm cách làm bạn với một đứa hầu nhỏ trong dinh, mua kẹo bánh hối lộ để dò hỏi đường ra lối vào, vị trí các phòng trong dinh, ghi nhớ trong dạ. Ngay đêm hôm đó, ông mặc gọn ghẽ, trèo mấy lớp tường, lần tới phòng người đẹp, khoét tường chui vào trong phòng, lên giường nằm chung với cô gái, khẽ lay cô dậy. Tiểu thư đang say giấc nồng, giật mình tỉnh dậy thấy có người lạ trên giường nhưng không hoảng hốt, hỏi cớ sự. Nguyễn Đăng Đạo tình thật trình bày: “Từ bữa gặp nàng ở chùa, tôi trằn trọc thương nhớ khôn nguôi, định tìm mai mối, lại sợ làm nhơ đến quan tể tướng, chưa chắc được ngài đoái hoài tới. Nay cả gan ở đây, định ngỏ lới đính ước trăm năm với tiểu thư”. Người đẹp cả thẹn hỏi: “Quân canh bao nhiêu lớp, lầu các sâu thăm thẳm, ngươi làm sao vào lọt được nơi đây? Cha tôi tính nóng như lửa, chuyện này bị lộ, ngươi sẽ bị băm vằm thành bùn cho coi”. Nghe vậy, Đăng Đạo chỉ cười. Tiểu thư vội lấy hai tấm lụa trao cho ông, nói tiếp: “Ngươi chết cũng đáng tội. Nhưng nếu để người ta biết thì tiết hạnh của ta cũng mang vết. Ta cho ngươi cái này, nhân lúc bọn gia nhân chưa biết, mau tìm đường mà trốn đi”. Đăng Đạo cười nói: “Nàng đừng đem cái chết ra dọa ta. Nếu sợ chết, ta đã không lẻn vào đây. Nếu đại nhân có tới, ta cũng thành thật mà thưa, cớ sao mang cái chết ra dọa nhau?”. Giọng Đăng Đạo oang oang khiến bọn gia nhân thức giấc, ùa đến bắt ông. Kẻ đánh, người trói mà Đăng Đạo vẫn cứ  cười nói không thôi. Ngô Hiến hầu hay biết đùng đùng nổi giận nhưng thấy chàng thư sinh mặt mũi nho nhã, nói năng đàng hoàng thẳng thắn bèn đem lòng thương, không nỡ đánh đập. Lệnh cho giải tới pháp quan luận tội. Đúng lúc đó có quan đồng liêu họ Phạm làm ở Nội Viện đến thăm, thấy sự việc bèn nói với quan Ngô Hiến: “Kẻ làm việc phi thường ắt có tài khác thường. Tên này chắc có tài cán, hoài bão gì đây. Chi bằng xem nó có tài gì không. Nếu có thì nhân đó tác thành cho nó. Còn nếu là loại côn đồ thì đánh chết chưa muộn”. Nghe bạn nói hợp lý, quan cho gọi Đăng Đạo vào, bắt làm văn để thử tài. Nhận được đề, chẳng cần suy nghĩ, Đăng Đạo hạ bút viết liền một mạch xong ngay, lại còn tự tin bảo bọn người hầu: “Bay đi nói với tiểu thư sửa soạn cơm nước, nếu có chút khinh lờn là ta nhất định không làm khách quý nhà các người nữa”. Bọn người hầu bưng miệng cười chế nhạo cho là kẻ ngông cuồng. Bài thơ được trình lên, hai quan đọc xong hết lời ca ngợi. Quan họ Phạm nói riêng với quan họ Ngô: “Ngàn  vàng cũng chẳng tìm được đứa rể quý như thế này đâu!”. Thấy tên cả gan đục tường mò vào phòng tiểu thư giỏi văn chương thơ phú, Ngô Hiến hầu ra lệnh tha tội, hỏi quê quán họ tên, làm phòng riêng cho ở, cấp dầu đèn cho học. Năm sau, Nguyễn Đăng Đạo thi đỗ đầu kỳ thi Hương, được quan Ngô Hiếu tác thành nhân duyên phu phụ với con gái ông.


Trong nghệ thuật tán gái có 36 kế, không biết kế đục tường vào giường ngủ của người đẹp thuộc kế nào. Tôi rắp tâm nghiên cứu thấy chỉ có kế “ám độ trần sương” diễn nôm là “đi con đường mà không ai nghĩ đến” là có thể  có chút dây mơ rễ má với chuyện của ngài Lưỡng quốc Trạng Nguyên Nguyễn Đăng Đạo.  Kế này dạy khi tán gái phải có những hành động tỏ tình độc đáo làm kích thích trí tưởng tượng của phụ nữ. Kế này không có đường mòn, chàng trai phải phạt cỏ chặt cây tạo ra lối đi. Tiểu thư con quan đang yên giấc trong dinh được canh gác cẩn mật, mở mắt dậy thấy một tên lạ hoắc nằm trên giường thì quá bất ngờ và khác lạ, ú ớ nể phục là cái chắc. Dù sao thì cũng đã ngủ với trai, la lên thì xấu chàng hổ thiếp, thôi thì OK cho nó lành!

Kế sách “ám độ trần sương” là kế thứ 15 trong 36 kế tán gái các cụ đã nằm lòng. Chắc các công tử còn cu ky một mình ngày nay cũng muốn biết các kế khác có chi học hỏi được không. Giấy bút có hạn, tôi không thể diễn giải kỹ càng, chỉ bonus cho các chàng trai đang rắp ranh bắn sẻ tên của 36 kế của người xưa. Muốn ngâm cứu xin tìm trong Google. Kế thứ nhất là “dương đông kích tây” (đánh lạc hướng đối phương). Tiếp theo là: “Điệu hổ ly sơn” (dụ hổ ra khỏi rừng); “Nhất tiễn hạ song điểu” (một mũi tên hạ hai con chim); “Minh tri cố muội” (biết rõ mà làm như không biết); “Du long chuyển phượng” (biến rồng thành phượng); “Mỹ nhân kế” (kế dùng người đẹp); “Sấn hỏa đả kiếp” ( theo lửa mà hành động); “Vô trung sinh hữu” (không có mà làm thành có); “Tiên phát chế nhân” (ra tay trước để chế phục đối phương); “Đả thảo kinh xà” (đập cỏ cho rắn sợ); “Tá đao sát nhân” ( Mượn dao giết người); “Di thể giá họa” (dùng vật gì để vu khống người khác); “Khích tướng kế” (kế chọc giận tướng giặc); “Man thiên quá hải” (lợi dụng sương mủ để ẩn trốn); “Ám độ trần sương” (đi con đường không ai  nghĩ đến); “Phản khách vi chủ” (đổi vị khách thành vị chủ); “Kim thiền thoát xác” (ve sầu vàng lột xác); “Không thành kế” (bỏ trống cửa thành); “Sát kê hách hầu” (giết gà cho khỉ sợ); “Phản gián kế” (dùng kế của đối phương để quật lại): “Lý đại đào cương” (đưa cây lý chết thay cây đào); “Thuận thủ khiên dương” (thuận tay dắt dê về); “Dục cầm cố tu” (muốn bắt lại thả ra); “Khổ nhục kế” (hành hạ thân xác mình); “Phao bác dẫn ngọc” (ném hòn ngói thu về hòn ngọc); “Tá thi hoàn hồn” (mượn xác để hồn về). Kế cuối cùng chắc nhiều chàng đi ve gái đã thuộc lầu: “Tẩu kế” (chạy thoát thân). 

Chiến lược chiến thuật tán gái phức tạp như vậy, nghe thiệt rắc rối. Tôi khoái lối tán gái đơn sơ, tự nhiên của những chàng trai của ruộng đồng hơn. Những câu tán gái thơ mộng, ít lời nhiều ý đã nằm trong ca dao. “Hỡi cô vác cuốc thăm đồng / thăm lúa, thăm mạ hay lòng thăm ai”. Hoặc: “Thấy em thấp bé mà xinh / Anh thuận nhân tình, anh nắm cổ tay / Nắm rồi anh hỏi cổ tay / Ai nặn nên trắng, ai xây nên tròn?”.

Ca dao tán tỉnh nghe tình hết biết. Chỉ những người sống giản dị giữa thiên nhiên mới có được những ý tưởng ngộ nghĩnh. “Ước gì sông rộng một gang / Bắc cầu dải yếm cho nàng sang chơi”. Hoặc: “Cô kia cắt cỏ bên sông / Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang”. Hay: “Gần nhà mà chẳng sang chơi / Để anh bắc ngọn mùng tơi làm cầu”.

Giữa cảnh đồng ruộng sông nước bao la, ánh trăng trên trời, người thương dưới đất, ca dao mượn đông nói tây, mượn quả nói lòng. “Trèo lên cây khế nửa ngày / Ai làm chua xót lòng này khế ơi!”. Hoặc: “Trăng dưới nước là trăng trên trời / Người trước mặt là người trong tim”.

Tài tình của ca dao là biết mượn hồn xác một hành động đơn giản bên ngoài để diễn tả tình cảm bên trong. “Rung cây rung cội rung cành / Rung sao cho chuyển lòng anh với nàng”. Hoặc: “Bướm bay giữa bể bướm rơi / Anh thấy em ngó nhiều nơi anh buồn”.

Chơi chữ là một nghệ thuật trong văn chương. Ca dao không chủ ý làm văn chương nhưng cũng có những câu chơi chữ rất tới. “Đỗ tương thì ủ tương bần /  Đỗ chàng thì ủ tám lần tương tư”. Hoặc: “Chẳng cần nghiêng nước nghiêng thành ? Chỉ cần nghiêng đủ lòng anh là vừa”.

Đụng vào ca dao, tôi khó dứt ra. Số đếm là những con chữ lạnh tanh, khô không khốc, chẳng có chút tình tứ thơ mộng nào. Nhưng khi ca dao đếm, những con số như linh động, được khoác vào một tấm áo mượt mà chữ nghĩa. “Một chờ, hai đợi, ba trông / Bốn thương, năm nhớ, bảy tám chín mong, mười tìm”. Thêm một câu nữa: “Người sao một hẹn thì nên / Tôi sao chín hẹn mà quên cả mười”. Đó là những con số đã hoàn chỉnh nhưng ca dao còn bỡn cợt với con số chưa tròn trĩnh, nửa cho mình, nửa cho người. Vậy mới tình “Chăn kia nửa đắp nửa hờ / Gối kia nửa đợi, nửa chờ duyên em”.

Tán tỉnh mà đếm như không đếm, con số khô khốc đã ướt rượt, sao tình đến vậy ta?                                                                                                   
                                                                                                    
03/2025                                                                                  
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể khẳng quyết, trong dòng văn học Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, chắn chắn Song Thao là nhà văn viết Phiếm uyên bác và mạnh mẽ. Ông đi nhiều, đọc nhiều, viết chuyên cần. Chỉ trên mười năm ông đã trình làng 31 tập Phiếm, mỗi tập trên 300 trang. Đề tài của ông đa dạng, bao quát, từ cây kim sợi chỉ đến vũ trụ bao la với lỗ đen, mặt trăng, sao hỏa, phi thuyền…, đến chuyện đời thường, những địa danh ông từng đặt chân đến. Chúng ta sẽ còn được đọc nữa những tập Phiếm sẽ ra trong tương lai.
Những năm trên dưới hai mươi, tôi xem văn chương là một thứ đạo, những cuốn sách, những thi phẩm không khác kinh thánh, các nhà văn, nhà thơ ngang bằng các giáo chủ. Tôi mê văn chương, tôn sùng những người tạo ra nó. Bước vào tuổi trung niên, say mê vẫn còn, nhưng bình tĩnh hơn, chừng mực hơn. Cho đến khi phần lớn đời mình gắn liền với sách vở như nghiệp dĩ, văn chương, ban đầu tôi viết vì nhu cầu nội tâm, muốn tỏ lộ những buồn vui đau đớn hài mãn… qua chữ nghĩa, trước tiên cho mình, thứ đến cho người, với mong muốn xẻ chia.
Tuần này tôi trân trọng giới thiệu Đỗ Kh. Nhà văn Đỗ Kh., hẳn không xa lạ gì với người yêu văn chương tiếng Việt, ở hải ngoại nói riêng, trong nước nó chung. Ba mươi bốn năm trước, Đỗ Kh. (lúc bấy giờ ông còn ký bút hiệu Đỗ Khiêm) là tác giả đầu tiên tôi chọn để trình làng nhà xuất bản Tân Thư do tôi chủ trương. CÂY GẬY LÀM MƯA cũng là tác phẩm đầu tiên tác giả này đến với thế giới văn chương tiếng việt. Ngoài CGLM, Tân Thư còn in của ông một tập truyện nữa, KHÔNG KHÍ THỜI CHƯA CHIẾN. Với bút pháp rất riêng cộng kiến thức và trải nghiệm sâu rộng qua những chuyến đi khắp mọi nơi trên hành tinh này, Đỗ Kh. cho chúng ta những bài viết lý thú.
Mặt trời như chiếc nong đỏ ối sắp chạm mái ngói phủ rêu của dãy phố cổ. Bức tường bên trái loang lổ, tróc lở, chồng chéo những dòng chữ thô tục cạnh các bộ phận sinh dục nam nữ đủ cỡ đủ kiểu vẽ bằng than hoặc mảnh gạch vỡ. Bức tường thấp, có chiếc cổng gỗ đã mất hẳn màu sơn, xiêu vẹo, quanh năm nằm trong vị thế mở ngõ. Chiếc cổng dẫn vào ngôi miếu nhỏ. Bên trong miếu, trên bệ thờ bằng xi măng hai ba bài vị chẳng hiểu viết gì, chẳng biết thờ ai. Trước bài vị, lư hương chỉ toàn chân nhang. Từ lâu không còn ai đến đây hương khói, ngôi miếu đã biến thành giang sơn riêng của dơi, chuột cùng các loại côn trùng. Cạnh ngôi miếu, một tàn cổ thụ rậm lá với những rễ phụ chảy thõng thượt, bò ngoằn ngoèo trên mặt đất.
Mỹ bỏ cấm vận Việt Nam ngày 3 tháng 2 năm 1994, dưới thời Bill Clinton. Khởi từ dấu mốc đó Việt Nam dần dần thân thiện hơn với người anh em “sen đầm đế quốc” này, thời kỳ ngăn sông cách chợ đã được khai thông, nhiều người xuất ngoại thăm thân nhân, du lịch hoặc công tác. Giới văn nghệ sĩ không ngoại lệ. Thuở đó gần như tháng nào tôi cũng đón ít nhất một văn, thi, nhạc, họa… sĩ. Phải chăng tại fake news, một người nhà quê như tôi bỗng biến thành “tay chơi” có số má dưới mắt nhìn các vị cầm cọ, cầm bút trong nước?
Hầu hết mọi người già thường mắc phải chứng quên những chuyện gần, nhưng lại nhớ những chuyện xưa, có khi hàng sáu bảy chục năm trước. May mắn (hay xui xẻo?), tôi có một trí nhớ khá tốt, dù gần hay xa tôi đều không quên. Tuy nhiên tôi lại vướng phải nhược điểm là chỉ nhớ sự việc nhưng lại không nhớ thời điểm. Nhược điểm này theo tôi từ ngày thơ trẻ cho đến hôm nay. Khác hẳn một vài người quen, chả hạn nhà văn Hoàng Khởi Phong, anh có một trí nhớ xuất chúng về những con số. Số điện thoại, số nhà của ai đó, chỉ nhìn hoặc nghe qua một lần là ghim ngay vào não, nhiều năm sau, hỏi, anh trả lời vanh vách. Nhà văn Cung Tích Biền cũng không kém, xuất thân là giáo sư dạy sử, ngoài những chi tiết liên quan đến chuyên môn như tên, đế hiệu các vị vua, ngày lên ngôi, ngày chết, những hành trạng của họ suốt thời gian trị vì, và mọi biến cố lịch sử… trải dài từ thời lập quốc, bốn nghìn năm trước, đến bây giờ. Như Hoàng Khởi Phong, anh nhớ rõ mọi con số, kể cả những chi tiết liên quan.
Hai hôm trước một cô em, cũng cầm bút, đến thăm, nhân tiện đề nghị, nếu sức khỏe không cho phép tôi gõ chữ thì cô ấy sẽ giúp, tôi chỉ cần nói qua băng ghi âm, cô em chép lại rồi giao cho tôi nhuận sắc. Nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, qua trao đổi riêng, vẫn nhiều lần khuyên tôi nên viết hồi ký. Theo hai người, do một thời chủ trương tạp chí Hợp Lưu, tôi có điều kiện tiếp cận và rành rất nhiều chuyện của giới văn nghệ sĩ cũng như văn học hải ngoại lẫn trong nước, nếu tôi không làm thì rồi mọi sự cố sẽ trôi vào lãng quên, thiệt thòi cho văn học Việt Nam, uổng lắm.
Tuổi già thường sống với dĩ vãng. Nhiều chuyện tưởng đã vĩnh viễn ra khỏi trí nhớ, thế mà bất chợt bỗng hiện về, có khi mồn một từng chi tiết nhỏ, tựa mới xảy ra hôm qua, hôm kia, có khi nhập nhòa hư thực bất phân. Chuyện này không lâu, chỉ 23 mươi năm, trước một năm ngày tôi bị tai biến. Nhớ, vì có một chi tiết, lạc đề, nhưng vui.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.
Trong tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung, tôi thích nhất nhân vật Hồng Thất Công, bang chủ Cái Bang (kế thừa là Kiều Phong), ông già tính khí trẻ con. Tôi thích vì rất hợp tạng. Nói cách khác, tôi rất sợ những chuyện nghiêm túc. Ở đây bạn đọc sẽ bắt gặp mọi chuyện: chính trị, xã hội, kinh tế, văn chương, thi ca, nghệ thuật…, kể cả những chuyện tầm phào như gái trai, rượu chè hoang đàng nhăng nhít... Nói gọn, mảnh vườn "Ba Điều Bốn Chuyện" này luôn rộng cửa, bạn đọc hãy cùng tôi rong chơi.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.