Hôm nay,  

Tổ Bồ Đề Đạt Ma Bodhidharma

29/03/202400:00:00(Xem: 644)

bo de dat ma
Bồ-đề Đạt-ma.
 
Chùa Linh Sơn ở Joinville Le Pont của chúng tôi, bên dưới chánh điện là một phòng sinh hoạt Phật sự khá khang trang và rộng rãi dành cho các em oanh vũ gia đình Phật tử Quảng Đức. Các em tới học Phật pháp, tập hát, học giáo lý và cùng làm văn nghệ.
  
Trên tường chính diện có treo một tấm tranh lớn như bằng hai cái chiếu, chiếm gần hết một phần tường. Trong tranh là cảnh biển trời bao la xanh xanh vây quanh, tọa lạc ở gần giữa là hình tổ Bồ Đề Đạt Ma quảy một chiếc giầy trên tích trượng vắt vẻo trên vai. Ngài đang thong dong du hành vô ngại đầy an bình.
  
Tất cả vẻ hài hòa tươi sáng của người và cảnh như lôi kéo sự chú ý khá đặc biệt của các oanh vũ Phật tử. Ngoài giờ học tập, chúng luôn tụ tập ở trước hình tổ và chỉ trỏ đố nhau, xem tổ đang đi đâu?
  
Tổ đang đi hè ở biển đó.
  
Tổ làm mất đâu một chiếc giầy rồi?
  
Tổ đang đi về Ấn Độ đó… có một lần thầy đã giảng như vậy.
  
Ôi, sai bét, đi về Ấn Độ thì đi máy bay chớ đi bộ được sao?
  
Ơ… tổ đi với pháp thần thông này!
  
Đó là những câu chuyện hồn nhiên xung quanh hình ảnh tổ quảy giầy trên tích trượng đi thong dong trên mặt nước.
  
Tổ là ai?
  
Thưa, đó là đức Bồ Đề Đạt Ma, Bodhidharma, tổ thứ 28, sau tổ Maha Ca Diếp. Ngài sang Trung Quốc vào đời Lương Vũ Đế (502-547). Tổ Bồ Đề Đạt Ma tiếp xúc với vua Vũ Đế, thấy vua chỉ hào hứng xây chùa mà không mấy chuyên tâm đi vào tâm đạo. Mặc dù việc xây chùa thời đó cũng giúp đạo Phật phát triển rực rỡ ở Trung Hoa (theo thầy Thích Quảng Độ giảng dậy).
  
Một hôm Lương Vũ Đế hỏi tổ:
  
“Trẫm xây cất rất nhiều chùa để hoằng dương chính pháp, vậy trẫm có công đức không?”
  
Tổ trả lời:
  
“Không, ngài không có tí nào.”
  
Vua hỏi tại sao lại vậy? Tổ giải thích rõ ràng:
  
“Công đức tự tánh sanh ra, đến vô lượng, còn công đức của vua, có mưu đồ, tức là vô lậu, rồi sẽ hết.
  
Quả là đúng vậy vì vua Vũ Đế có mưu đồ khoe khoang nên không ngộ được đạo. Tổ Bồ Đề Đạt Ma bỏ đi tới nước Ngụy, ngài ngồi nhìn vô vách núi tu thiền, quán chiếu sự vật, quán chiếu tâm bình lặng.
  
Xẩy tới có ngài Thần Quang đi tới, nhìn, gặp và biết đây là một vị tổ sư. Ngài Thần Quang tới gần chỗ tổ ngồi thiền và quán chiếu. Ngài Thần Quang quỳ trên tuyết lạnh suốt nửa ngày, tuyết rơi dầy và ngập tới gối. Tổ mới quay lại hỏi ngài Thần Quang:
  
“Ông ngồi đó làm chi?”
  
“Con muốn hỏi ngài về giáo pháp của Như Lai.”
  

“Giáo pháp của Như Lai ngộ và lưu truyền đã lâu đời, ông quỳ ở đây vài tiếng đống hồ làm sao thấm được giáo pháp Như Lai?”
  
Ngài Thần Quang liền vô chùa mượn được con dao và chặt phăng một cánh tay mình để chứng tỏ quyết tâm cầu học. Việc từ bỏ cánh tay là bầy tỏ tâm ý từ bỏ sự nắm bắt, vơ vào phần mình các của cải, các sự việc thế gian…
  
Thầy Thích Pháp Hòa mới khơi lại và giảng dậy sự việc của ngài Thần Quang cho Phật tử Việt Nam ở Thái Lan ngày 8-03-2024 mới đây. Thầy giảng việc chặt bỏ một cánh tay là ẩn dụ dứt khoát tách rời những phiền muộn xung quanh trong cuộc sống hằng ngày.
  
Trở lại với việc ngài Thần Quang khi xưa. Ngài được tổ dậy là:
  
“Pháp ấn Như Lai tự trong thâm tâm là tiến tới chỗ không.”
  
Sau thuyết giảng, tổ truyền giáo pháp cho ngài Thần Quang, gồm: Ấn, Y, Bát, một bộ kinh lăng già, một bài kệ. Ngài Thần Quang tức là tổ Huệ Khả.
  
Ít lâu sau, tổ Bồ Đề Đạt Ma tịch ở Trung Hoa. Sau này, tổ Huệ Khả, tức là ngài Thần Quang chợt một lần trông thấy thầy mình đi trên biển, vai quảy tích trượng có đeo một chiếc giầy, ngài đi thong dong trong tĩnh lặng yên ổn. Ngài Huệ Khả mới hỏi tổ đi đâu, tổ trả lời:
  
“Ta đi về Ấn Độ!”
  
Ngài Huệ Khả về tâu sự việc với vua. Vua cho mở quan tài của tổ và người ta không còn thấy tổ đâu nữa mà chỉ còn một chiếc giầy.
  
Đời sau, người ta lấy hình ảnh đặc trưng này của tổ mà tạc tượng hay họa hình ngài ở nhà tổ của các chùa, để trân trọng tiêu biểu cho phái thiền tông do ngài sáng lập.
  
Người đời sau cũng giải thích là qua quá trình thiền quán giải thoát của tổ, tổ đã vượt qua, vượt thoát những cảm nhận thường tình của thế gian.
  
Thế gian cho là giầy dép phải luôn luôn có đôi. Nhưng với người ở ngoài cảm nhận, thì 2 hay 1 là không quan trọng, không lưu ý… không để tâm.
  
Cũng trong bát nhã tâm kinh, có viết:
  
“Sắc tức thị không / Không tức thị sắc”.
  
Trong đạo Phật, đây là một nhận xét thẳng thắn, đúng không gì bằng. Khi tâm đạo vượt lên, không cần suy nghĩ, vì thực chất các pháp không là một thực thể, một tập hợp không phân biệt, không thêm không bớt, không đủ không thiếu… Khi hành giả đã vượt thoát ra ngoài thói lề thế gian, cũng là lúc hành giả đến với đại Xả và đại Bi. Điều cảm nhận này thoát đến thật gần với ý niệm “Vinh danh thiên chúa trên trời, bằng an dưới thế cho người thiện tâm.”
 
– Chúc Thanh
Paris, mars avril 2024
 
(Theo Trang Nghiêm Tịnh Độ A Di Đà do Trúc Thiên lược dịch). 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Ngày nhỏ chúng tôi căng miệng hát một cách thích thú bài nhạc chế từ bài La Marseillaise, bài quốc ca của Pháp. Tôi thuộc cho tới bây giờ, sau nhiều chục năm tôi vẫn còn hát được. “Thầy đồ ngày xưa quen thói nuôi móng tay dài / quần trễ tai hồng đỏ đen mực son. Đầu lúc la lúc lắc đảo như lên đồng / được dăm trẻ ghẻ lở quá hủi phong. / Quát lấy điếu, đem bình phóng , bưng cơi trầu. / Nhân chi sơ, người đi trước / ta bảo phải để vào tai dốt đặc. Ở trên đầu thầy có cái chi lúc lắc? Búi tó, nó to bằng niêu / tính ghét móng tay hằng cân / thọc luôn trong nách, bật tanh tách hoài / Ngâm thơ thích chí rung đùi”. Nhớ nhưng không chắc có đúng không, có thể có chỗ không nhớ tôi đã chế ra. Nhạc chế cũng như ca dao không bao giờ có tên tác giả. Không biết đây là một bài nhạc chế để chọc quê chính quốc lúc đó đang cai trị Việt Nam hay đùa chơi với các thầy đồ của một anh học trò không thích tới trường.
Tình cờ trong một gian hàng của nghệ nhân làm Bonsai, cây kiểng, tôi thấy trưng bày một chậu kiểng nhỏ, có nhiều nhánh cong queo, lá hình bầu dục, phía dưới có nhiều lông trắng óng ánh như nhung, trĩu nặng từng chùm quả nhỏ tròn trông giống như trái mồng tơi nhưng nhiều màu sắc: xanh, vàng, đỏ, tím đen... trông rất quen, nhưng không thể gọi ngay ra tên của loài cây này được...
Tôi quen biết một cô Tây, gọi là một cô đầm thì đúng hơn, tên gọi đầy đủ là Florence Cavalier, vợ của ông tây Jean Paul Cavalier. Florence còn trẻ, lối 30 tuổi. Ngày từ khi còn nhỏ, 9 tuổi, Florence đã là một hướng đạo sinh, scout, lớn lên em học và hành nghề y tá. Cái gốc scout và nghề nghiệp y tá bổ túc lẫn cho nhau, thêm Flor có ngoại hình xinh xắn tươi vui, thành ra trông lúc nào cô ấy cũng tràn đầy nghị lực, sức sống và yêu đời...
Muốn biết một đất nước có văn minh hay không, người ta thường quan sát nhiều khía cạnh khác nhau với một tinh thần phóng khoáng, một tâm trạng cởi mở, không thiên vị, về xã hội, cách điều hành đất nước (governance), việc bảo tồn và thăng tiến văn hóa, về mức sống người dân như việc chăm sóc sức khỏe, môi trường, giáo dục, và trên hết là sự hạnh phúc (well-being) của người dân...
Cuối tháng ba, đầu tháng tư và kéo dài đến tháng sáu, tháng bảy, du khách đến với Đà Lạt, từ những con đường Hai Bà Trưng, Trần Phú, Nguyễn Thị Minh Khai, đến Hồ Xuân Hương, Chợ Đà Lạt, hay Thung Lũng Tình Yêu, Thiền Viện Trúc Lâm... sẽ thấy lòng mình chùng xuống, trước sắc tím lãng mạn, êm đềm và thơ mộng của những cây “ phượng vĩ tím” hay gọi tắt là “phượng tím”. Những cây phượng có nguồn gốc từ Châu Âu, du nhập vào Đà Lạt từ những năm 1962 của thế kỷ trước.
Trong vài thập niên gần đây, thuật ngữ “tâm linh” trở nên rất thời thượng, tràn ngập khắp trên mặt báo chí, truyền thông, mạng xã hội, người người nói, nhà nhà nói. Nó trở thành từ cửa miệng của rất nhiều người trong đạo lẫn ngoài đời. Những tà sư, thầy cúng, các nhóm lợi ích kết hợp với những thế lực chính trị và thế lực ngầm ra sức phá rừng, xẻ núi, lấp ruộng… để làm những ngôi chùa, đền, miếu khổng lồ phục vụ cho cái gọi là du lịch tâm linh, hành hương tâm linh… Ngoài những ngôi chùa khổng lồ ấy ra còn có vô số chùa tư, đền, miếu, am, dinh, miễu...mọc lên như nấm sau mưa. Có một điểm chung là các cơ sở này thờ hằm bà lằng từ Phật, thánh thần, thiên, ông đồng bà cốt, cậu hoàng… và cả những nhân vật chính trị thế tục.
Người đọc nhìn thấy môt hình ảnh rất nhỏ, khiêm tốn, ngay trong ngày đầu 30-4-1975, hình ảnh người chiến binh giải phóng Sàigòn đang quì gối cầu nguyện bên ngoài ngưỡng cửa Nhà Thờ Đức Bà Sàigòn. ..
Tôi đã xem phim “Oppenheimer” chiếu ngoài rạp, một phần vì tiểu sử của nhà khoa học vật lý đã chế ra bom nguyên tử, từng giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học U.C. Berkeley và vì cũng muốn biết ngôi trường thân yêu của mình đã được lên phim như thế nào.
Mấy nay giang hồ đồn đại vậy mà trúng y chóc luôn, linh như bà phán. Hồi nào giờ hễ giang hồ khịa chuyện gì là có chuyện đó. Thiệt tình mà nói thì cũng từ nội bộ lộ ra người ta mới biết, hũ mắm có xì khẳm thiên hạ mới nghe mùi. Cuối cùng rồi thì chủ tiệm nước cũng bị đuổi cổ khi mà ghế ngồi chưa nóng đít. Trong cái rủi có cái may, cu Thẹo về vườn trong danh dự tự từ chức, từ chức là cái chuyện tào lao chưa bao giờ có ở xứ quỡn quê mình.
Sách Cổ Học Tinh Hoa có chép chuyện Sào Phủ và Hứa Do - hai ẩn sĩ đời Vua Nghiêu. Câu chuyện như sau: Hứa Do được tiếng là người hiền, vua Nghiêu vời vào để truyền ngôi thiên tử. Hứa Do từ chối, cười mà về rồi ra suối rửa tai...