Hôm nay,  

Cắt Bao Quy Đầu Trẻ Sơ Sinh – Văn Hoá Và Khoa Học

12/01/202400:00:00(Xem: 902)
Hình của Tim Mossholder từ Unplash
Hình của Tim Mossholder, từ Unplash.
 
Cách đâu 30-40 năm, lúc người tỵ nạn Việt mới định cư ở Mỹ và bắt đầu làm quen với các tập tục kể những tập quán về y tế ở Mỹ, trong y giới Mỹ cũng như các nước tây phương khác đang tranh cãi rất nhiều về chỉ định có nên cắt bao quy đầu theo thông lệ (routine circumcision) cho trẻ em sơ sinh hay không.
   
Thuật ngữ “circumcision”, gốc latinh “circumcisio”. Từ "cắt bao quy đầu" xuất phát từ các từ Latin circum và caedo (circum: “xung quanh”; caedo: “tôi cắt”), có nghĩa đen là "cắt xung quanh".
 
Từ epitome trong tiếng Hy Lạp cũng có nguồn gốc từ gốc có nghĩa là "cắt" hoặc "vết mổ". Trong tiếng Hebrew (Do Thái), phép cắt bao quy đầu được gọi là “peritomy”, xuất phát từ tiếng Hy Lạp peritomy.
   
Tài liệu lâu đời nhất về cắt bao quy đầu có từ thời Ai Cập cổ đại. Người Phoenicia đã áp dụng tập tục này vào khoảng năm 400 trước Công nguyên từ người Ai Cập hoặc người Israel và truyền bá nó sang các quốc gia khác. Vào năm 170 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã cấm cắt bao quy đầu theo nghi lễ.
   
Theo Hán Việt Từ Điển của Đào Duy Anh (1931), “qui đầu” (qui với i ngắn) là “Cái nuốm đầu sinh thực khí của con trai (glande)”. Nói theo ngôn ngữ hiện nay, quy đầu là phần đầu của dương vật, hình giống đầu con rùa. Phương tây thì ví bộ phận này với trái “acorn” của cây sồi, do đó tiếng Anh tên là “glans penis”, tiếng Pháp là “gland du penis”. Da bao quy đầu tiếng Anh là “foreskin” (da nằm trước) hay prepuce. Từ lúc mới sinh ra, da quy đầu của trẻ em gắn liền với đầu dương vật, dần dần tự nhiên da bao quy đầu sẽ tách khỏi đầu dương vật và những tế bào gắn liền hai bộ phận này bị thải ra ngoài.
   
Tranh luận về cắt da qui đầu đã kéo dài mấy chục năm, giữa những người chủ trương da quy đầu (foreskin) là sở hữu trời cho của mọi bé trai bình thường và người lớn không có tư cách gì để quyết định đơn phương cắt xẻo đi một phần thân thể của nó, làm nó đau đớn trong lúc gây ra một "khiếm tật" ở bộ phận sinh dục (từ tiếng Anh là "genital mutilation"), không khác với chuyện cắt xẻo bộ phận sinh dục các bé gái ở châu Phi (female genital mutilation). Phe kia thì binh vực thủ thuật cắt với lý do chính là thủ thuật này cắt ít đau đớn lúc mới sinh và có lợi cho vệ sinh và sức khỏe sau này. Đây là đề tài của một trong những bài đầu tiên tôi viết về nhi khoa vào cuối thập niên 1980 cho các báo tiếng Việt hồi đó. Bài này đã được cập nhật lần chót năm 2014 nhân việc lần đầu tiên một cơ quan liên bang Hoa Kỳ, Trung Tâm Phòng và Kiểm Soát Bịnh (CDC), kết luận rằng "có bằng chứng y khoa hỗ trợ cho việc cắt da quy đầu trẻ sơ sinh" và khuyến cáo các hãng bảo hiểm y tế trả tiền cho thủ thuật này và hâm nóng lại tranh luận về vấn đề cắt da quy đầu cho trẻ em mới sanh. Từ đó đến nay, lập trường của CDC vẫn không thay đổi, nhưng tình hình nói chung của việc cắt da quy đầu trong mấy chục năm qua đã có những thay đổi chính như sau:
   
1) Tỷ lệ cắt bao quy đầu: Tỷ lệ trẻ sơ sinh được cắt bao quy đầu ở Hoa Kỳ đã giảm trong những thập kỷ gần đây. Từ năm 1979 đến năm 2010, tỷ lệ cắt bao quy đầu ở trẻ sơ sinh nam đã giảm từ 64,5% xuống 58,3%. Tỷ lệ này cao nhất vào năm 1981, ở mức 64,9%, sau đó giảm trong những năm 1980, tăng trở lại vào những năm 90 và lại giảm vào những năm 2000, đạt mức thấp 55,4% vào năm 2007.
   
2) Tùy theo vùng ở Mỹ: Mức giảm tổng thể lớn nhất được thấy ở phía Tây (California, Oregon, Nevada, Washington), nơi tỷ lệ này giảm từ 63,9% năm 1979 xuống 40,2% năm 2010 và 25% năm 2023. Các tiểu bang Trung Tây (Midwest như West Virginia, Michigan, Ohio) có tỷ lệ cao nhất, là trên 80%.
   
3) Cứ 1000 người lớn mỗi năm có chừng 1 người đi cắt da quy đầu.
   
4) Nói chung cứ 100 người Mỹ nam giới mọi lứa tuổi, chừng 80 người đã được cắt da quy đầu.
  
5) Chi phí do hãng bảo hiểm đài thọ: Medicaid ở 18 tiểu bang đã ngừng chi trả cho việc cắt bao quy đầu theo thông lệ (routine circumcision) cho trẻ sơ sinh trong những năm gần đây.
   
6) Thay đổi theo sắc tộc: Những thay đổi về thành phần dân tộc ở Mỹ cũng có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ cắt bao quy đầu. Trong 30 năm qua, người gốc Hispanic gia tăng nhiều ở các tiểu bang miền Tây nước Mỹ và họ thường có tỷ lệ cắt bao quy đầu thấp hơn, khoảng 40%.
   
Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu chi tiết về vấn đề này, thứ nhất để quyết định lúc có con trai mới sinh và bác sĩ hỏi ý kiến cha mẹ, thứ hai để giải đáp thắc mắc của con cái hay của bản thân nếu có.
 
Nên hay không nên cắt?
 
Phong tục mỗi xứ mỗi khác và lắm khi phong tục ảnh hưởng đến cách trị liệu trong Y khoa. Tục lệ ở Việt Nam không thấy nói nhiều đến vệ sinh ở bộ phận sinh dục. Nói chung chúng ta coi phần này của thân thể như là một nơi không được sạch sẽ lắm. Lòn trôn kẻ khác được xem như là một hành động nhục nhã bất đắc dĩ mới phải làm. Nếu bạn vô ý ngồi trên đầu giường của người khác có thể coi như là một cử chỉ rất là bất lịch sự. Đứng về phương diện khoa học, có lẽ thái độ này cũng có điểm hợp lý của nó. Chúng ta thường tránh bàn đến những gì liên quan đến những chỗ kín và do đó người Việt Nam chúng ta cũng không hiểu biết gì nhiều về vệ sinh cũng như về bệnh lý liên quan đến những bộ phận đó. Người con trai cũng như người con gái lúc lớn lên thường không được hướng dẫn về vệ sinh thường thức cho những phần kín đáo của cơ thể và do đó đôi khi có những hậu quả tai hại.
   
Trong một số xã hội khác và trong một số tôn giáo lại có nhiều quy định khắt khe đối với cách giữ gìn bộ phận sinh dục. Ở đây, nên phân biệt hai trường hợp, một bên những luật lệ, phong tục áp dụng cho con trai và bên kia những luật lệ áp dụng cho con gái.
   
Về phía con gái, phần lớn những phong tục đem từ Châu Phi, áp dụng cho những người di dân mới sang Mỹ từ châu Phi qua. Người châu Phi có tập tục làm "circumcision", hay “pharaonic circumcision” (gốc thời Pharaoh, Ai cập cổ đại) cho các bé gái, tức là cắt bớt đi một phần của bộ phận sinh dục ngoài của các em bé gái trước khi chúng bước vào tuổi dậy thì. Cắt nhiều hoặc ít, và có thể còn may lại gần như bít kín (infibulation) tuỳ theo tập tục mỗi địa phương. Không có bằng chứng rõ rệt về xuất xứ của tập tục này, được thực hành từ thời cổ đại Châu Phi và ở thổ dân Úc Châu. Mục đích có thể là kiểm soát hoạt động tính dục của người phụ nữ và kiểm soát sinh sản, cũng có thể đây là một thực hành có tính cách tôn giáo. Ở Mỹ thủ thuật "female circumcision" này coi như là bất hợp pháp vì xâm phạm tới thân thể của em bé một cách đau đớn và không có ích lợi y khoa; tuy nhiên một số phụ nữ châu Phi vẫn lén lút cho thực hiện thủ thuật này trên con gái của họ vì sợ rằng, nếu không tuân thủ theo tập quán của xã hội mình, đứa bé gái lúc lớn lên sẽ bị tẩy chay, gạt ra khỏi tập thể của mình.
   
Tháng 12 năm 2012, lần đầu tiên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đồng thanh thông qua nghị quyết kêu gọi chấm dứt hành động này được gọi là "gây thương tật bộ phận sinh dục phái nữ" (Female Genital Mutilation, hay FGM), xem đấy là một "bạo hành không đảo ngược và không sửa chữa được" (irreparable and irreversible abuse). Theo nhóm theo dõi nhân quyền Human Rights Watch (HRW) thì FGM bị liên kết một cách sai lạc với tôn giáo, nhưng thật ra nó không phải đặc trưng của riêng tôn giáo nào và đã có trước khi Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo được thành lập.
   
Về phía con trai, thủ thuật cũng được gọi là "circumcision" nhưng lại là một hoàn cảnh khác. "Male circumcision", dịch là thủ thuật cắt bao quy đầu cho bé trai. Da hay bao quy đầu (foreskin; qui=rùa, do hình dạng đầu dương vật giống đầu con rùa) là phần da che chở, bọc bên ngoài phía đầu của bộ phận sinh dục nam giới.
   
Người Do Thái bắt buộc phải cắt bao quy đầu cho con trai từ thời Chúa giao ước (covenant) với tổ phụ Abraham theo kinh Genesis của Torah [Cựu Ước].
   
Phép cắt bao quy đầu có ý nghĩa tâm linh sâu sắc, thường được coi là biểu tượng của sự thanh lọc (purification) và sự cống hiến (dedication) cho Chúa. Dân Israelite được hướng dẫn “cắt bao quy đầu trong lòng mình ”, ngoài việc mang dấu ấn thể chất của tư cách thành viên giao ước (bao quy đầu bị cắt ngắn), họ còn có nghĩa vụ phải thể hiện những phẩm chấttâm linh cụ thể là cam kết và tuân theo ý muốn của Chúa.

Do Thái Giáo quy định con trai phải được cắt bao quy đầu ngày thứ 8 kể từ khi sanh, thường do một người chuyên môn gọi là mohel, trong lễ brit milah. Hồi Giáo cũng có luật tương tự (nghi lễ khitan), thường lúc 7 tuổi.
 
Tôn giáo, phong tục và khoa học.
 
Có phải các nước tiên tiến đều cho trẻ con cắt bao quy đầu không, hay chỉ có Việt Nam mới để da quy đầu tự nhiên không cắt cụt? Theo thống kê mới nhất của Hoa Kỳ, 58% bé trai bị cắt da quy đầu (2010, theo CDC).
  
Mấy năm về trước một số khảo cứu cho thấy tỷ lệ ung thư cổ tử cung rất thấp ở người đàn bà Do Thái. Do đó người ta nghĩ rằng có lẽ vì đàn ông Do Thái cắt bao quy đầu lúc mới sanh nên người đàn bà Do Thái tránh được ung thư cổ tử cung. Tuy nhiên những nghiên cứu dịch học sau này cho thấy da quy đầu của người chồng không phải là yếu tố quyết định trong sự gây bệnh ung thư cổ tử cung nơi người vợ. Vấn đề vệ sinh bộ phận sinh dục, tuổi người đàn bà lúc giao hợp lần đầu tiên cũng như số người tiếp xúc về tính dục với người đàn bà, đó là những yếu tố quan trọng hơn nhiều trong sự phát sinh của bệnh ung thư cổ tử cung của người đàn bà. Hiện nay, chúng ta biết rằng đa số các ung thư cổ tử cung là do virus HPV gây ra, và cách ngăn ngừa hiệu nghiệm nhất là chích ngừa thuốc vacxin chống HPV (Gardasil) cho trẻ em trai và gái trước khi chúng có quan hệ tính dục.
  
Lý do thứ hai thường được nêu ra để bênh vực thủ thuật cắt bao quy đầu là vấn đề vệ sinh phái nam. Mấy chục năm về trước luân lý tây phương rất khắt khe đối với vấn đề thủ dâm (masturbation) ở thanh thiếu niên. Người ta cho rằng thủ dâm có thể gây ra bệnh điên, bệnh suy nhược thần kinh, chứng học dốt và nhiều chứng khác. Người ta cũng thường nghĩ rằng nếu con trai được cắt da quy đầu thì sẽ tránh được chứng thủ dâm. Hiện nay vẫn còn nhiều người tin như vậy. Tuy nhiên y khoa hiện nay không còn kết tội khắt khe tật thủ dâm như trước đây. Các cuộc nghiên cứu về tính dục cho thấy thủ dâm là một hiện tượng rất phổ biến ở một giai đoạn nào đó trong sự phát triển tính dục bình thường. Mặt khác, có thể rằng những trẻ em được cắt da quy đầu ít bị nhột nhạt ngứa ngáy ở bộ phận sinh dục hơn các trẻ khác và do đó ít để ý đến phần thân thể này hơn những trẻ khác.
   
Cuối cùng, cắt da quy đầu gần như loại bỏ khả năng ung thư dương vật sau này, mặc dù ung thư loại này hiếm.
 
Cắt da quy đầu để ngừa nhiễm trùng.
 
Một số khảo cứu cho thấy trẻ sơ sinh được cắt bao quy đầu ít bị nhiễm trùng đường tiểu trong tháng đầu sau khi sinh so với những trẻ em khác không cắt da quy đầu. Đây là một luận cứ khoa học có căn cứ vững chắc, căn cứ trên sự theo dõi hàng trăm ngàn trẻ sơ sinh. Dù sao thì nhiễm trùng ít khi xảy ra, cứ 100 em chỉ có vài em bị nhiễm trùng đường tiểu, và hậu quả không rõ rệt.
   
Trong một số nghiên cứu, đàn ông cắt da quy đầu ít bị HIV/AIDS hơn. Năm 2007, WHO công nhận cắt da quy đầu là một can thiệp hữu hiệu để ngừa lây truyền HIV. Tuy nhiên, phải tự bảo vệ bằng những phương tiện khác như bao cao su (áo mưa condom) và giảm thiểu số bạn tình.
 
Cắt bao quy đầu: đau đớn và đôi khi nhiều rắc rối:
 
Trước hết thủ thuật này làm cho bé sơ sinh đau đớn. Một số bác sĩ dùng thuốc tê cho trẻ sơ sinh và người ta cũng chú trọng đến những phương pháp vỗ về, dỗ dành em bé để tránh kích động mạnh thần kinh của em.
   
Một số trẻ lúc mới sanh có khuynh hướng chảy máu một cách bất bình thường. Những cháu bé này nếu bị giải phẫu (như là cắt da quy đầu) sẽ có khuynh hướng chảy máu kéo dài, đôi khi cần phải truyền huyết thanh hoặc máu tươi để ngăn chặn xuất huyết.
   
Đôi khi nơi giải phẫu bị nhiễm trùng và trẻ phải được săn sóc một thời gian đến khi vết thương lành.
   
Một số bé trai mang tật bẩm sinh ở bộ phận sinh dục. Khi bé lớn lên có thể bé được giải phẫu để sửa lại, lúc đó có khi người ta phải dùng đến miếng da quy đầu để đắp chỗ khiếm khuyết. Cho nên tuyệt đối không nên cắt da quy đầu của trẻ sơ sinh có tật bẩm sinh ở bộ phận sinh dục.
 
Quan điểm Y học hiện nay.
 
Hiện nay lập trường chính thức của phần đông bác sĩ ở Hoa Kỳ là coi cắt bao quy đầu như một thủ thuật không cần thiết về mặt y học, nhưng không phải hoàn toàn vô ích. Nói cách khác, làm cũng tốt, không cắt cũng không sao. Một số cơ quan bảo hiểm từ chối trả tiền cho thủ thuật giải phẫu này. Năm 2012, Hàn Lâm Viện Nhi Khoa Hoa Kỳ (AAP) công nhận cắt da quy đầu cho trẻ sơ sinh nam có lợi nhiều hơn có hại, nhưng những lợi lộc không đủ lớn để khuyến cáo nên cắt da quy đầu cho mọi em bé mới sanh (routine circumcision). Quyết định nằm trong tay cha mẹ em bé, theo những tin tưởng tôn giáo, đức lý và văn hoá của họ. Cơ quan Phòng và Kiểm soát bịnh (CDC), kết luận rằng "có bằng chứng y khoa hỗ trợ cho việc cắt da quy đầu trẻ sơ sinh" và khuyến cáo các hãng bảo hiểm y tế trả tiền cho thủ thuật này.
 
Săn sóc da quy đầu cho trẻ em bình thường.
 
Nếu chúng ta quyết định không cho em bé mổ thì nên để ý những điểm sau đây: Sự săn sóc bộ phận sinh dục của bé trai cũng không có gì đặc biệt. Chỉ cần rửa ráy hàng ngày lúc tắm rửa cho cháu. Lúc bé còn nhỏ, da quy đầu gắn liền với đầu dương vật, vì vậy chúng ta không nên ráng sức kéo tuột ngược trở lên. Dần dần tự nhiên da quy đầu sẽ tách khỏi đầu dương vật và những tế bào gắn liền hai bộ phận này bị thải ra ngoài. Suốt đời cháu bé, các lớp tế bào trên quy đầu cứ tiếp tục bị thay thế và thải ra ngoài sinh ra một chất sệt trắng tựa như chất sáp (smegma). Chất này được tuần tự thải ra quy đầu dương vật. Một số cha mẹ vì không hiểu hiện tượng này nên lầm tưởng đây là một chất gì bất thường.
   
Khi cháu lớn lên dần dần da quy đầu sẽ tự rút ngược lên để lộ phần quy đầu. Có khi mất đến năm hoặc mười năm. Cho nên chúng ta không nên sốt ruột nếu da quy đầu của cháu bé không tuột lên được. Không cần dùng Q tip, không cần dùng thuốc sát trùng cũng như không cần phải bơm nước vào để rửa da quy đầu. Chỉ cần dùng xà phòng và nước để rửa ráy.
 
Vệ sinh da qui đầu đối với thanh thiếu niên.
 
Lúc cháu được 12, 13 tuổi thường ta có thể kéo ngược da quy đầu trở lên mà không trở ngại gì. Lúc đó vệ sinh bộ phận sinh dục cũng thông thường như vệ sinh các bộ phận khác: gội đầu, chải tóc, cắt móng tay, chải răng.
   
Nên dạy cháu kéo da quy đầu lên để rửa ráy phần trong mỗi ngày lúc đi tắm. Nếu đến lúc dậy thì da quy đầu vẫn chưa tuột lên được có lúc do một vòng sợi cản trở, người ta gọi là phimosis. Có khi vì cha mẹ ráng nông da quy đầu của em bé lúc bé còn nhỏ nên tạo ra những vết thương nhỏ, những vết thương này thành thẹo và co rút lại gây ra phimosis. Cũng có khi do nhiễm trùng hoặc những chấn thương khác. Đôi lúc đầu dương vật bị mắc nghẽn vào da quy đầu quá hẹp, làm sưng và đau (paraphimosis). Lúc đó nếu cố gắng đẩy quy đầu trở vào không thành công, cần phải nhờ bác sĩ xẻ da quy đầu hoặc cắt hẳn da quy đầu để giải tỏa tắc nghẽn lưu thông các mạch máu.
 
Săn sóc da qui đầu được giải phẫu.
 
Nếu cháu được cắt da quy đầu lúc mới sanh, trừ những biến chứng đã nói ở trên thường không gặp vấn đề gì quan trọng.
 
Cha mẹ được y tá hướng dẫn săn sóc, thoa vaseline vào vết mổ và thường cháu lành trong vòng một tuần lễ. Đôi khi vì mặc tã suốt ngày và vì không có da qui đầu che chở, đầu dương vật em bé bị sưng chung quanh lỗ tiểu. Lâu ngày chỗ sưng thành thẹo và co rút lại làm trở ngại cho dòng nước tiểu. Vòi nước tiểu rất nhỏ giống như một mũi kim và cháu bé có thể đau lúc đi tiểu. Tuy nhiên phần lớn trường hợp dễ chữa trị và không có tác dụng nguy hiểm nào trên hệ thống bài tiết của em bé. Nên giữ bộ phận sinh dục của bé sạch sẽ, khô ráo. Thỉnh thoảng nên mở tả ra cho vùng da này được khô ráo và thoáng khí để tránh tình trạng trên.
 
Kết luận
 
Cắt bao quy đầu ở bé trai sơ sinh (male newborn circumcision) là một phong tục phổ biến ở Mỹ, tuy nhiên tỷ lệ biến đổi tuỳ nơi trên thế giới, cao nhất là ở các quốc gia Hồi giáo, thấp ở Á châu (tuy trước đây cao ở Nam Hàn, nhưng nay đã giảm) và Châu Mỹ La tinh. Điểm lợi là trong tháng đầu đời, các bé được cắt da quy đầu sẽ bị ít nhiễm trùng đường tiểu, lúc lớn lên giữ vệ sinh bộ phận sinh dục tương đối dễ dàng hơn, tránh được ung thư dương vật, tỷ lệ nhiễm HIV thấp hơn.Tính nhạy cảm vùng bộ phận sinh dục có thể giảm đi so với người không cắt. Điểm hại là đau đớn em bé, có nhiều dấu hiệu cho thấy em bé ghi nhớ vào tiềm thức "cơn đau" này rất lâu và trong hiếm trường hợp có biến chứng như chảy máu chỗ cắt. Quyết định phần lớn do cha mẹ bé cân nhắc lợi hại.
 
Bác sĩ HỒ VĂN HIỀN
4/1/2024
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hơn một thập niên từ sau cái chết bất ngờ của mẹ, Sehrish Sayani mắc chứng rối loạn tâm thần hậu chấn (PTSD). Suốt những năm đó, những cơn hoảng loạn dữ dội nhất đã giảm dần, nhưng các triệu chứng như nghi ngại thái quá (hypervigilance), trở nên đặc biệt nhạy cảm với một số yếu tố và những giấc ngủ chập chờn đã trở nên quen thuộc trong cuộc sống của cô.
Trong cuốn tiểu thuyết Chuyện Hai Thành Phố (A Tale of Two Cities) của Charles Dickens, được xuất bản năm 1859 và lấy bối cảnh thời Cách Mạng Pháp, có đoạn viết: “Đó là thời đại tốt đẹp nhất, cũng là thời đại tồi tệ nhất, đó là thời đại của sự khôn ngoan, cũng là thời đại của sự ngu xuẩn.” Đại dịch COVID-19 cũng là một thời đại như thế. Một mặt, khoa học đã cứu sống được nhiều người. Chưa đầy một năm sau khi phát hiện virus, Hoa Kỳ đã tạo ra và thử nghiệm vắc xin, rồi cho sản xuất, phân phối và triển khai tiêm chủng hàng loạt miễn phí cho người dân. Ước tính vắc xin COVID đã cứu được ít nhất 3.2 triệu người chỉ riêng ở Hoa Kỳ. Những thành tựu này tạo ra hy vọng về việc chúng ta có thể nhanh chóng ứng phó với đại dịch trong tương lai.
Hơn một thập niên trước, Shria Kumar, bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa và là chuyên gia nghiên cứu tại Đại học Miami, bắt đầu chú ý đến một dấu hiệu đáng lo ngại. Có một số bệnh nhân ung thư dạ dày đến gặp bà ở độ tuổi rất trẻ, và rất nhiều người là phụ nữ. Khuynh hướng này vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay. Các khoa học gia đang nỗ lực tìm hiểu tại sao điều này lại xảy ra. Vào mùa xuân năm ngoái, họ đã xác nhận rằng hiện tượng này đang diễn ra ở Hoa Kỳ. Sau khi kiểm tra hệ thống các cơ sở dữ liệu chứa các thông tin chi tiết về các trường hợp ung thư ở nhiều tiểu bang trên toàn quốc, các nhà nghiên cứu nhận thấy ung thư dạ dày đang gia tăng nhanh hơn ở phụ nữ trẻ.
Wegovy, Ozempic và Mounjaro là các loại thuốc giảm cân và điều trị tiểu đường đã gây được tiếng vang lớn trong lĩnh vực tin tức y tế. Chúng nhắm vào các con đường điều tiết liên quan đến cả bệnh béo phì và tiểu đường, và được nhiều người coi là bước đột phá trong việc kiểm soát cân nặng, đường và huyết áp. Nhưng liệu những loại thuốc này có giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của hội chứng chuyển hóa (metabolic disease) không? Điều gì đã thúc đẩy sự phát triển của chúng từ ban đầu?
Gần đây quý vị vừa bị cảm lạnh, cúm, RSV hoặc COVID, bệnh đã qua nhưng mãi vẫn không thể hết ho? Rất nhiều người bị giống như vậy. Triệu chứng này có thể tồn tại trong nhiều tuần sau khi cơ thể chúng ta đã loại bỏ vi-rút. Michael Shiloh, một bác sĩ chuyên nghiên cứu bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y tế UT Southwestern cho biết những bệnh nhân bị ho thường kể là họ đã bị bịnh từ 8 tuần trước khi đến gặp ông. Ông nói: “Chúng tôi thực sự không thể phát hiện thấy vi rút gì ở những người này nữa nhưng họ vẫn bị ho.”
Bằng cách bắt chước cơ chế bảo vệ của cơ thể chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn, một nhóm nghiên cứu ở Lund, Thụy điển hy vọng có thể ngăn chặn tình trạng viêm phát triển thành nhiễm trùng máu, theo đài truyền hình SVT, Thụy điển. Nhiễm trùng máu là tình trạng nhiễm trùng có thể đe dọa tính mạng. Thông thường nguyên nhân là do viêm phổi, nhiễm trùng đường tiểu hoặc nhiễm trùng vết thương. Nghiên cứu từ Lund cho thấy hiện nhiễm trùng huyết phổ biến hơn so với trước đây.
Ngày nay, có nhiều người lớn hơn bao giờ hết đang phải đối mặt với chứng rối loạn khả năng tập trung- thiếu khả năng chú ý, hay ADHD. Người ta nghi ngờ nguyên nhân chính của vấn đề này là do công nghệ hiện đại đang gây áp lực lên não bộ của họ. Trong khi có gần 10% trẻ em được chẩn đoán mắc chứng ADHD, một phân tích tổng hợp gần đây từ nhiều nghiên cứu cho thấy gần 6.8% người lớn mắc chứng ADHD – tăng từ 4.4% vào năm 2003.
Bộ não của chúng ta thường có khuynh hướng tìm kiếm và phản ứng với những điều mang lại sự hài lòng, gọi là phần thưởng. Khi chúng ta đói, bộ não hiểu rằng thức ăn là một phần thưởng, còn khi ta khát, nước sẽ là phần thưởng. Nhưng lạm dụng các chất gây nghiện như rượu và các loại thuốc có thể ảnh hưởng đến các con đường tìm kiếm phần thưởng tự nhiên trong bộ não, tạo ra những ham muốn khó kiểm soát và làm giảm khả năng kiểm soát hành vi của chúng ta.
Aissam Dam, cậu bé 11 tuổi, lớn lên trong một thế giới im lặng tuyệt đối. Em sinh ra đời đã bị điếc và chưa bao giờ nghe thấy bất kỳ tiếng động nào. Khi sống trong một cộng đồng nghèo ở Maroc, em đã học cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu do chính mình phát minh ra và không được đi học. Năm ngoái, sau khi chuyển đến Tây Ban Nha, gia đình đưa em đến gặp một chuyên gia về thính giác, người đã đưa ra một gợi ý đáng ngạc nhiên: Aissam có thể đủ điều kiện tham gia thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp gen. Vào ngày 4 tháng 10, Aissam được đưa đến điều trị tại Bệnh viện Nhi đồng Philadelphia, trở thành người đầu tiên được điều trị bằng liệu pháp gen ở Hoa Kỳ cho bệnh điếc bẩm sinh. Mục đích là cung cấp cho em thính giác, nhưng các nhà nghiên cứu không biết liệu phương pháp điều trị này có hiệu quả hay không, và nếu có thì em sẽ nghe được bao nhiêu.
Sau mùa lễ cuối năm là lúc các bậc phụ huynh lo lắng về con đường đại học của con cháu mình. Những con số điểm, những chữ viết tắt như GPA, SAT và ACT sẽ làm phụ huynh nhức đầu và chúng ta sẽ bàn lại về vai trò các điểm này và nhất là tương quan giữa SAT và IQ trong khung cảnh của các thay đổi gần đây ở Mỹ. Năm ngoái, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ quyết định cấm dùng màu da, nguồn gốc sắc tộc để quyết định tuyển chọn một ứng viên, từ chối không cho Đại học Harvard thực hành “tác dụng khẳng định” (affirmative action) để tăng sỉ số da màu không được đại diện đúng mức so với tỷ lệ trong dân số nói chung. Một trong những biện pháp được dùng để giảm bớt sỉ số dân Á Châu là gạt bỏ kết quả kỳ thi SAT hoặc giảm bớt tầm quan trọng của SAT, vì người gốc Á Châu có điểm SAT cao hơn nhiều so với các sắc dân khác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.