Hôm nay,  

Đơn xin thôi việc

22/06/202309:34:00(Xem: 2513)
Truyện

kim

Sarah, cô bạn da trắng, từng học chung với tôi chương trình về Day Care tại McEwan College nhưng lại rủ rê tôi làm việc hổng có dính dáng gì đến Day Care: chuỗi cửa hàng cà phê. Hồi đó, sau khi lấy bằng Day Care, chúng tôi mỗi người một nẻo, tôi làm trong một Day Care Center một thời gian, bỗng một hôm gặp lại Sarah, nó bảo nó đang làm manager cho một chuỗi cửa hàng cà phê, nó khoe ông chủ rất dễ thương, tốt bụng, đang cần một người làm part time rất đúng “nghề” của tôi!
    Tôi hỏi:
    – Đúng nghề gì chớ?
    – Thì nghề giáo bên Việt Nam của mày đó.
    – Ủa, ổng cần người dạy Tiếng Việt hay là dạy Toán cho nhân viên cửa hàng sao?
    Biết tôi đùa, Sarah giải thích:
    – Mày chỉ cần đến làm schedules cho 7 tiệm cafe của ổng, tổng cộng gần 100 nhân viên nên ổng bận lắm, một tuần 2 ngày thôi, đúng với khả năng organized của mày, đúng không nào?
    Sarah kèo nài mãi, tôi cũng xuôi lòng, đồng ý đến nhận việc, khỏi cần phỏng vấn, ổng cho vào làm ngang hông. Thời gian đầu công việc khá thú vị, khoảng 3-4 giờ chiều đến một tiệm, trước khi vào office trong tiệm, làm ly cafe và một dĩa bánh, mở computer bắt đầu làm schedules cho 2 tuần tới, sau đó chạy xe đến tiệm tiếp theo, đến tiệm cuối cùng là xong việc, thảnh thơi lái xe ra về.
    Nhưng rồi bắt đầu có những problems nho nhỏ, ví dụ như có người bệnh, nghỉ đột xuất, hoặc đi vacation, hoặc quit job, thì dù là đang nửa đêm tôi cũng bị họ nhắn tin để tôi điều chỉnh schedules theo đúng nhu cầu của tiệm, vì tiệm nào cũng đông khách, báo hại tôi phải nhổm dậy, mở computer nhà, xem xét, tìm người từ tiệm này bỏ qua tiệm kia, réo người part time đi làm thêm, phone gọi người làm extra time... nhức cái đầu, có lúc “tẩu hỏa nhập ma” tôi làm lộn schedules, gây rắc rối tới cả nhóm tiệm. Tôi bèn gặp ông boss xin nghỉ việc, ổng đồng ý tôi không làm schedules nhưng xin tôi ráng ở lại tiệm bán bánh và cafe giúp ổng vì đang thiếu người. Nhỏ Sarah xúm vào năn nỉ, (vì nó biết trái tim tôi mềm yếu), ừ thì một tuần 2 ngày ca chiều không bận rộn lắm, đến đây vừa làm vừa... ăn, vừa tán gẫu với khách hàng, đỡ nặng đầu hơn làm schedules, cũng vui.
    Một lý do khác khiến tôi ở lại và gắn bó với tiệm cafe vì chuyện ơn nghĩa, ân tình. Ông boss là người Úc gốc Do Thái, qua Canada sinh sống từ lâu, bản tính hài hước, hào phóng làm từ thiện. Quanh năm đều có những events của các cộng đồng trong city, các hội từ thiện, ông đều cho mấy thùng cafe pha sẵn kèm theo ly giấy, đường sữa và hàng trăm cái bánh ngọt. Tôi cũng tranh thủ chớp thời cơ, xin ông “tài trợ” cho Hội Người Việt nơi tôi đang làm thiện nguyện, nhất là mùa Trung Thu và Tết Nguyên Đán, ông vui vẻ thoải mái ủng hộ, có lần ông còn đến dự xem tôi làm MC, thấy có nhiều trẻ em, ông bảo lần sau ông sẽ tặng thêm hot chocolate. Bởi vì mối dây nghĩa tình với ông chủ và Sarah mà thấm thoát tôi đã làm ở chỗ ấy gần 10 năm trời.
    Rồi cũng đến lúc tôi phải ngưng công việc này, tôi nói với chồng:
    – Em thấy áy náy với Sarah và ông boss, chắc họ sẽ đau lòng lắm, ngoài ra em còn nhớ những khách hàng thân thuộc, gặp nhau nói chuyện gia đình, chuyện làm ăn, chuyện thời cuộc ...trời ơi, em chẳng muốn chia tay chút nào.
    – Nhưng em đã suy nghĩ mấy tháng nay rồi còn gì, đã đến lúc em ưu tiên những công việc khác của cuộc đời em chứ, đâu thể nể nang và yếu đuối mãi.
    Lẽ ra tôi nên báo cho Sarah trước, nhưng biết chắc nó sẽ nài nỉ ỉ ôi, nên tôi quyết định email chung cho Sarah và ông boss. Viết xong thư xin thôi việc, tôi rầu rĩ đọc đi đọc lại mà chưa dám nhấn nút “send”. Ngày hôm sau, biết tôi chưa nỡ gửi mail, chồng tôi lại nói:
    – Ối dào, em cứ tưởng khi họ nhận được mail thì họ sẽ vật vã khóc lóc, tưởng như trái đất này sụp đổ sao?
    – Cũng gần như vậy đó anh! Anh không hiểu được đâu.
    Tôi phone cho nhỏ em thân thiết trong ca đoàn, nó nói ngay:
    – Chị dẹp cái tính ủy mị cải lương đi là vừa! Tụi Tây đứa nào chả ngọt xớt, sáng còn “how are you, I love you” rồi đến chiều tỉnh bơ đưa giấy layoff đó nghen.
    Thôi thì chẳng ai hiểu tôi cả, tôi đành phải lấy hết... can đảm gửi mail. Đúng như tôi dự đoán, chưa đầy nửa tiếng sau, ông boss trả lời một đoạn dài, tuy không níu kéo nhưng những câu nói chứa chan tình cảm làm tôi ray rứt. Rồi buổi tối, Sarah phone tôi với hàng loạt câu hỏi “vì sao và vì sao”, thậm chí nó còn “trả giá” tôi làm một tuần một shift cũng được, rồi kết thúc với giọng rầu rầu: “Mày nghỉ làm, tiệm sẽ không bao giờ còn như trước nữa, Laura ơi”.
    Đến ngày làm việc cuối, chia tay nhóm nhân viên ca chiều, ông boss đặt mấy món nhà hàng Tàu. Ăn uống xong, Sarah đại diện đem ra ổ bánh có ghi chữ “farewell Laura”, một giỏ quà và tấm thiệp mỗi người ghi một câu làm tôi bật khóc. Sarah đưa tôi một túi quà riêng và tấm thiệp, nói tôi về nhà mới được mở ra đọc vì nó sợ cả tôi và nó lại... khóc.
    Tấm thiệp của nó, với chữ viết tay, thật dài, trong đó có đoạn đại khái là: “Laura ơi, bạn đã ở cùng tôi ngần ấy năm, chia sẻ những thăng trầm của tiệm, những buồn vui của nước mắt nụ cười của hai chúng mình”.
    Thực ra “buồn vui” là của Sarah. Trong số khách hàng quen thuộc của tiệm, có chàng Steve là một Computer Engineer đến tiệm mỗi ngày hai lần, lúc trưa đi làm, và lúc chiều tối sau khi xong việc. Lần nào Steve cũng nán lại nói chuyện với chúng tôi, nhất là với Sarah, rồi hai người nảy sinh tình cảm. Nàng là single mom, chàng một lần đò dang dở, hai tâm hồn hợp nhau, quấn quít nhau không rời.Tôi cũng nhiều lần tháp tùng Sarah đi sports bar cùng uống bia, ăn nacho và xem hockey games với Steve. Những ngày Lễ như Giáng Sinh, Valentines, Canada Day ... Steve đều mang chocolate đãi cả nhóm nhân viên trong tiệm.
    Rồi bỗng không thấy Steve đến tiệm nữa, Sarah cho biết Steve đã nói lời chia tay, với cả 1001 lý do khi người ta không còn yêu. Thương Sarah vật vã với sự lẩn tránh của Steve, nên vào một lần tan ca lúc 11 giờ đêm, tôi lái xe chở nó tìm đến nhà Steve để nói chuyện một lần rõ ràng. Nhưng khi đến nơi, căn nhà đã treo bảng cho mướn, Steve đã trả nhà và dọn đi nơi khác. Sarah chui vào xe tôi khóc nức nở, còn tôi lặng lẽ lái xe khắp các nẻo đường dưới phố, mở cửa sổ xe cho gió đêm mát lạnh ùa vào ủi an Sarah, giúp nó mạnh mẽ vượt qua nỗi buồn.
    Đó là một trong rất nhiều kỷ niệm khiến tôi lưu luyến khi nhớ về nơi đây. Thương Sarah và quý ông boss, tôi sẽ cất giữ những món quà, những tấm thiệp và tình cảm của họ trong trái tim.
Chiều chủ nhật, chồng tôi sau khi đi đánh golf, về nhà báo tin:
    – Anh mới ghé qua tiệm cũ của em mua cafe và bánh ngọt.
    – Thế à ?Anh có gặp Sarah?
    Anh cười tươi như hoa:
    – Anh đi lối Drive Thru nhưng nhìn vào tiệm có thấy Sarah.
    Tôi chờ đợi:
    – Rồi sao nữa?
    Nhìn qua cửa sổ anh thấy nó đang hớn hở nói chuyện cười đùa với khách hàng, cứ như là Laura chẳng còn hiện hữu trong tâm trí nó.
    Tôi xịu mặt, chồng tôi tiếp luôn:
    – Khi anh lái xe vòng ra trước tiệm, anh thấy ông boss của em đứng ngay parking lot, tay cầm ly cafe nói chuyện với một người nào đó, mặt mũi rạng ngời phơi phới, có thấy nhớ nhung khổ đau vì Laura gì đâu nà! Em thấy chưa, “không mợ chợ vẫn đông dzui”, em chớ có mà sầu đau thổn thức.
    Tôi liếc chồng, lầm bầm: “Giỡn hổng dzui tí nào” rồi bỏ vào phòng ngủ. Tôi biết anh nói đúng, tôi biết câu “life goes on”, tôi biết thời gian chữa lành mọi nỗi buồn, nỗi nhớ thương.
Nhưng tôi cũng tin rằng, những câu nói tâm tình của ông boss, những cái ôm và nước mắt của Sarah ngày chia tay là có thật, rất thật.
    Chồng à, anh đừng hòng đánh phá, chia rẽ tình cảm của chúng tôi chớ! Mơ đi!

 

– Kim Loan

(Edmonton, June 2/2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.