Hôm nay,  

Tứ Tiêu Dao

07/03/202320:22:00(Xem: 2503)
Tùy bút tưởng niệm

pqb 1

Người thứ ba từ trái: Bùi Hồng Sĩ (hình trong đám cưới của một thân hữu, 1982).


Cuối tháng 2 năm nay, 2023, chỉ trong vòng hai ngày, tôi đã mất đi hai người bạn cùng sinh năm 1941: Nguyễn Ngọc Kiểm, bút danh Ngọc Hoài Phương, & Bùi Hồng Sĩ.


Một lúc ồ ạt những hình ảnh xưa cũ, những sự kiện trồi lên từ ký ức xâm chiếm liên tục, lúc hiện rõ ra dần, rồi mờ đi và biến mất; lúc chồng lấn lên nhau dầy cộm đến nghẹt thở. Tôi ở trong trạng thái tê bại toàn thân, chết lặng người đi như bị lôi cuốn vào một cơn mộng du miệt mài không sao cưỡng lại được.


Trong niềm xúc động bồi hồi tràn ngập ấy, tâm tư lập tức thúc đẩy tôi viết ngay về Bùi Hồng Sĩ trước.


Dường như trong độ khoảng hai năm 1962-63, ngụp lặn trong bầu không gian sống đầy những chộn rộn sôi nổi giữa xã hội Sàigòn, tôi và Bùi Hồng Sĩ đã từng nhiều lần ở lỳ luôn trong nhà của nhau hàng tháng trời là thường. Và một số chi tiết còn nẩy ra từ ký ức ở tôi như:


Có những buổi sáng, tụi tôi đang ngủ “nướng” trên gác. Bọn nhóc em của Sĩ đói quá kêu réo đòi ăn, bà ngoại và mẹ Sĩ thay phiên nhau nạt: "Đợi hai anh dậy xuống nhà đã, tụi mày mới được động đũa!"


Vốn bị chứng mất ngủ hành, tối nào ông cụ thân sinh ra Sĩ cũng uống thuốc an thần Valium và nằm dật dờ trên trường kỷ ngoài phòng khách. Có một điều đặc biệt là hai cha con Sĩ tính khí đều rất kiệm lời nhưng đồng thời lại xem ra khắc khẩu với nhau. Tôi thấy Sĩ chưa chủ động muốn tiếp cận với cha mình bao giờ . Riêng tôi thì hễ rảnh là xuống hầu chuyện ông. Nói chung là vậy nhưng thường ra thì ông mắt cứ nhắm hờ mà miệng lại rì rầm kể hết chuyện này sang chuyện khác. Còn tôi chỉ thụ động ngồi nghe, luôn luôn bị cuốn hút vào những sự tích sinh động của câu chuyện. Sâu đậm nhất mà tôi còn nhớ được là mấy chuyện ông đi bộ đội Việt Minh năm 1946. Chuyện Cộng sản Việt ngầm tiêu diệt dần đi các thành viên đảng phái khác để độc chiếm công kháng chiến chống Pháp trong thời kỳ 1946-53. Chuyện ông đem cả gia đình về lại Đà Nẵng, rồi sau đó vào sinh nhai hẳn trong Nam, năm 1951.


Có mấy buổi sáng, ông cụ lọ mọ lên gác gãi vào bàn chân tôi để rủ đi ăn phở ngay ngoài đầu ngõ, giáp với đường Trương Minh Giảng. Rồi sau khi hớp xong một ngụm cà phê tráng miệng, ông cụ đứng dậy ra trả tiền rồi dúi vào tay tôi mấy ngàn: "Cho tụi mày tiêu với nhau". Ông nói vậy trước khi lên xe đi làm. Tự hiểu ngầm hàm ý của hành vi ấy là ông muốn trao tiền quà vặt cho đứa con trai lớn nên khi trở về nhà, đợi Sĩ thức dậy là tôi lại giao số tiền ấy cho anh.


Mấy năm chót của thập niên 1960 sang đến 1970, những vụ Việt Cộng ám sát xẩy ra mỗi lúc một nhiều, ngay tại Sàigòn. Riêng trong lãnh vực học đường, tôi còn nhớ thời ấy có mấy vụ nổi bật như sinh viên y khoa tên Trần Quốc Chương, con của thẩm phán Tối cao Pháp viện Trần Thúc Linh bị xô từ lầu cao của trường Y Khoa sàigòn xuống đất chết, năm 1967. Như sinh viên Lê Khắc Sinh Nhật bị bắn ngay tại khuôn viên trường Luật Khoa giữa năm 1971. Riêng tại Văn Khoa thì phải chịu đựng tới những hai vụ ám sát: Tháng 12 năm 1967, Ngô Vương Toại bị bắn vào bụng, đứt bốn khúc ruột; rồi cùng tháng đó năm sau, 1968, Bùi Hồng Sĩ lại bị bắn lén vào sau gáy trong khi ngồi sau chiếc mobilette do Đào Trường Phúc lái đang đậu ngay cổng trường đợi vượt sang lằn xe đi về bên trái (1). Thế mà may mắn sao, cả hai đều thoát chết! (2)


Nhưng đặc biệt tôi nhớ được giai đoạn này là vì có nhiều sự kiện khác liên quan: Chẳng hạn như chính nhờ vào sự kiện chết hụt này mà sang năm sau, năm 1969, Sĩ chính thức lấy vợ, dẹp bỏ đi mấy đám dạm ngõ hay đám hỏi trước đấy của anh. Và chính tôi đã thành phù rể cho Sĩ!


Hai đứa chúng tôi còn cùng vào học khóa 3-70/SQTB Thủ Đức đúng theo lệnh Tổng Động Viên. Năm 1972, Sĩ ra ứng cử Dân biểu nhưng không thành. Rồi tháng ba 1973, hai đứa cùng về phục vụ tại Phái đoàn Quân Sự 4 bên rồi 2 bên. Và đến cuối năm đó thì Sĩ được biệt phái về bộ Thông tin - Dân vận - Chiêu hồi, để ra nhận lãnh chức vụ Đại diện Thông Tin vùng Một kiêm Trưởng ty Thừa Thiên - Huế.


Nhưng đến sau tháng Năm 1975, hai đứa tôi bặt tin của nhau trong một trường hỗn loạn sống chết bất ngờ cho cả nước. Mãi tới giữa năm 1981, tôi được gia đình ông anh ruột ở Houston, Texas bảo lãnh từ trại tỵ nạn sang tái định cư. Cứ trung bình một vài lần là Sĩ từ Nam Cali gọi phôn sang thúc giục, mà tôi thì bận tíu tít vì phải dọn đổi nhà cũng như hằng ngày ra phụ vợ chồng ông anh bán hàng ở một tiệm tạp hóa. Cuối năm đó, tôi mới thu xếp ổn thỏa và đáp máy bay sang phi trường John Wayne, Quận Cam. Nhìn qua cửa sổ phi cơ, tôi chăm chú kiếm mãi mà chỉ nhác thấy một người xa trông quen quen; hắn đứng trên ban công trống của phi trường ngó xuống, tóc hắn bạc trắng! Rời phi cơ, đi xuống tới gần, tôi mới nhận ra anh chàng ấy chính là Sĩ, bạn thân của tôi, hắn xem ra cũng đang bồn chồn ngóng đón tôi. Hắn lái xe, còn tôi ngồi bên cạnh, hai đứa liên tục nói chuyện linh tinh, chẳng chuyện nào rõ ra chuyện nào cả, bởi cả hai đều tở mở mừng rỡ mà lấn bấn bối rối trong bụng, đến nỗi hắn lái trên xa lộ mà ngược hướng, xuống tận Mission Viejo mới phát giác ra là đã lạc đường, phải quay trở lại, về nhà Sĩ ở Long Beach!


Thế rồi cứ vậy trên bốn mươi năm trôi qua, mặc dù cùng cư ngụ tại miền Nam Cali, nhưng thi thoảng trung bình một vài tháng phải nhân dịp gì đấy hai đứa gặp nhau là tự nhiên bù khú. Ngoài ra chúng tôi đều cùng quay quắt bươn trải trong hai cuộc sống khác hẳn nhau: Từ việc đổi dời nhà ở tới công ăn việc làm, từ sinh hoạt gia cảnh lẫn giao tiếp hằng ngày, lu bu mỗi đứa một phận...
Cho đến chiều thứ hai, 27 tháng 2-2023 vừa qua, tôi mới nghe tin Sĩ đã qua đời vào sáng sớm hôm ấy.

Tôi gọi phôn sang Atlanta báo tin cho Võ Văn Lượng biết. Hẫng đi trong im lặng, Lượng mới cất giọng ồ ề nói:


– Bây giờ đã có một thằng của nhóm Tứ Tiêu Dao bắt đầu vắng bóng!


Tôi chợt động tâm... rồi ồ ạt một dây những liên tưởng xuất hiện trong trí:


Bốn tên sinh viên ban Triết-Văn khoa Sàigòn thủa ấy, trong một tình cờ nào đó, bây giờ chẳng còn nhớ chi tiết thế nào nữa, và vào lúc nào cũng không còn nhớ, nhưng chắc chắn là độ cuối năm 1963, trong một buổi tụ họp vui chơi với nhau, không biết sao bốn đứa lại đã tự nhận là nhóm bạn kết nghĩa với cái tên "Tứ Tiêu Dao" (3).


Bây giờ, bồi hồi miên man gậm nhấm ký ức, tôi phải gom góp lại để có thể trình bẩy một cách lớp lang hơn. Nghĩa là đại khái chúng tôi bốn đứa vốn sẵn đã quá nhiều những khác biệt nhau: Chẳng hạn như gốc gác phát xuất thì một từ Quảng Ngãi, một Quảng Nam, một Đà Nẵng và một từ ngoài Bắc di cư vào. Tiếng nói phát âm cũng khác. Gia cảnh lại càng cách biệt hơn nữa. Nhưng đồng thời, chúng tôi lại hội tụ được những thứ như:


Tất cả ngày sinh tháng đẻ thực thụ của từng đứa một trong bốn cá nhân chúng tôi đều sai khác hẳn so với những chi tiết đã được ghi rành rành trong giấy Thế Vì Khai Sinh riêng của nhau. Nhưng như vậy có nghĩa là chúng tôi lại cùng bị chi phối bởi hoàn cảnh và thời thế xáo trộn chung như nhau.

Chúng tôi cùng học ban Triết một thời, đều được hấp thụ một nội dung học vấn của cùng một dàn giáo sư như nhau. Nhưng đồng thời mặt khác, chúng tôi lại suy nghĩ, quan niệm cho đến chí hướng và phản ứng lẫn hành động lại thường khác biệt nhau, khác đến mức có những lãnh vực còn ở thế đối chọi lẫn nhau nữa!


Diễn giải một cách chi tiết hơn nữa, chúng tôi mỗi đứa đều thấm nhuần các yếu chỉ tư tưởng của Lịch sử Triết học tây phương và đông phương. Nghĩa là bên cạnh những khuynh hướng triết học thuần lý, chẳng hạn như "Tôi suy tư – vậy tôi hiện hữu" (4). Những tư tưởng đại loại như thế  thường khiến cho người tiếp nhận dễ thiên kiến trong suy nghĩ và sa đà sâu vào giới hạn của những quan niệm không tưởng, để nẩy sinh ra những chủ trương quá khích như Duy Tâm, Duy Vật, Hiện Sinh...


Mà cũng có những quan niệm và hành xử bắt nguồn từ nhu cầu phát triển xã hội loài người mà hiện hữu thực thi thành các chủ nghĩa. Chẳng hạn như chủ nghĩa đế quốc: Trong quá khứ lịch sử thế giới chủ nghĩa này vốn đã có mặt, từ đế quốc La Mã, đế quốc Ba Tư, đế quốc Mông Cổ rồi thêm những đế quốc Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp... và chuyển sang chủ nghĩa Phát-xít, chủ nghĩa Cộng sản. Những loại “đế quốc” nói chung này đã bành trướng rồi suy tàn nếu không được nỗ lực điều chỉnh để biến thái trước sức công phá của hướng tiến bộ chung của loài người.


Nhưng mặt khác, cùng lúc, chúng tôi lại còn hấp thụ được những “ngụ ngôn” triết lý khác nữa:

Chẳng hạn nhận thức về những hiện tượng xẩy ra trong vũ trụ, thiên nhiên, như câu "Không ai có thể tắm hai lần trong một dòng sông" do Héraclite tuyên bố (Heraclitus sinh tại Hy Lạp vào khoảng 544 hay 541 và chết độ 480 trước Thiên Chúa); hay những ý niệm về "Thay đổi tự thân – Trao đổi với ai khác – Mọi thứ đều luôn biến đổi" (5).


Chẳng hạn những hiểu biết về sự sống năng động của tâm trí con người. Như "Hãy tự biết chính mình" (6); "Mỗi ngày (ta) một mới hơn lên"(7). Và nguyên tắc mỗi cá nhân sống phải nghiêm cẩn như "Phải luôn cẩn trọng, ngay cả lúc chỉ có một mình mình", như "Học hỏi và hành động phải đi đôi với nhau"(8), để cuối cùng, mục đích sống luôn đem lại lợi ích cho chính mình và ai khác. Ai khác đây được hiểu là người khác cũng như là vạn vật, vũ trụ...


Những triết lý đại loại nêu trên đã tự phát triển trong tâm tư từng đứa trong nhóm bạn kết nghĩa là Tứ Tiêu Dao và thường trực đáp ứng với nguồn năng lực sống động của tuổi trẻ chúng tôi thời bấy giờ: Là tự do sống như tự do rong chơi giữa muôn vàn tư tưởng, muôn vàn hành động, giữa những trở ngại cùng thuận lợi của đời sống trong mọi thời đại.


Theo thời gian, theo kinh nghiệm sống, chúng tôi mỗi đứa tự nhiên thấm nhuần những chỉ dạy của người xưa vào cuộc đời của riêng mỗi đứa. Và rồi sống còn được cho đến tận bây giờ, chúng tôi lại càng thấm thía trong ý nghĩa nội dung thực chứng của đời người.


Sáu chục năm đã qua, biết bao nhiêu đổi thay, chúng tôi bốn đứa, Tứ Tiêu Dao, sống tới tám mươi tuổi cả rồi.


Và một tên đã vừa từ bỏ đời này mà ra đi.

pqb 2
Bùi Hồng Sĩ (bên phải, ảnh chụp ở Factory Coffee, Little Sàigon, đầu 2022).


Chú Thích:


(1)  Xin xem thêm chi tiết ở bài "Bùi Bảo Trúc rạng danh Ký Mục Gia"; https://sangtao.org/2016/12/26/bui-bao-truc-rang-danh-ky-muc-gia/#more-91498

Hoặc  ở bài " Từ Công Phụng, lời ca - tiếng hát" trang 80-85, cuốn "TỪ CÔNG PHỤNG dưới mắt bằng hữu".

(2) Còn những chi tiết nữa được kê khai theo trí nhớ của rất nhiều người trong bài "Bọn sinh viên Việt Cộng giết thầy" của Bạch Diện Thư Sinh

https://saigonecho.com/lich-su-vn/khao-cuu/34829-bon-sinh-vien-viet-cong-giet-thay-giet-thay


(3) Bốn đứa gồm Bùi Hồng Sĩ, Nguyễn Vạn Hồng, Võ Văn Lượng và Phạm Quốc Bảo. Còn từ ngữ "Tứ Tiêu Dao" vốn phát xuất từ chương "Tiêu Dao Du", tiêu đề của một trong 7 đoạn văn của Nội Thiên thuộc Nam Hoa Kinh, sáng tác của Trang Tử (369-286 TCN): "Tiêu dao du có nghĩa là ngao du, rong chơi tự do tự tại". Những câu chuyện trong "Tiêu dao du vận dụng tối đa nghệ thuật tưởng tượng, hư cấu vào ý thức sáng tác, kết hợp với cơ sở sự thật."

 

(4) "Je pense donc je suis" (Cogito ergo sum). Trong Wikipedia https://www.wikipedia.org dịch là : "Tôi tư duy, vậy thì tôi tồn tại" hoặc "Tôi tư duy, nên tôi tồn tại" hay "Tôi nghi ngờ, nên tôi tư duy, nên tôi tồn tại" . Đây là một phát biểu triết học của René Descartes. Triết gia này sinh tại Pháp quốc năm 1596 và mất năm 1650.


(5) "Dịch – Giao dịch – Biến dịch". Ba tầng lớp biến trạng của mọi sự, mọi vật, mọi thời đại, mọi lúc, mọi nơi. Phải nắm vững được sự thể BIẾN DỊCH ấy, không thể thay đổi gì được, và mệnh danh là Bất dịch! (Kinh Dịch, một trong Ngũ Kinh do Khổng Tử san định.)


(6) "Connais-toi, Toi-même", câu tuyên bố của Socrates, triết gia Hy Lạp sinh vào 470, mất năm 399 BC.


(7) "Nhật tân, nhật nhật tân, hựu nhật tân": Ngày mới, mỗi ngày một mới hơn lên.


(8) "Quân tử tất thận kỳ độc": Người ta (sống) tất ( phải) thận trọng ngay khi ở một mình. [Đại Học]; Và "Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ": Học hỏi mà có áp dụng (vào thực tế đời sống hằng ngày của chính mình) thì không gì vui bằng. [Luận Ngữ]; "Đại học chi đạo – tại minh minh đức – tại thân (tân) dân – tại chỉ ư chí thiện...": Mục đích của sự học rộng cốt làm sáng cái Đức sáng của mình, cốt khiến cho người ta tự đổi mới, cốt khiến cho người ta dừng ở chỗ chí thiện.[Trích chương Lễ Ký của sách Đại Học, Tứ Thư do Khổng Tử (sinh năm 551 TCN, mất 11 tháng 4 năm 479 TCN tại Trung Hoa) biên soạn.

https://onglaidoky3.com/a369/dai-hoc-chi-dao

Phạm Quốc Bảo

(Đầu tháng Ba, 2023)

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Anh Cao Huy Thuần vừa qua đời lúc 23giờ 26 ngày 7-7-1924 tại Paris. Được tin anh qua đời tôi không khỏi ngậm ngùi, nhớ lại những kỷ niệm cùng anh suốt gần 60 năm, từ Việt Nam đến Paris. Anh sinh tại Huế, học Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1955-1960) và dạy đại học Huế (1962-1964). Năm 1964 anh sang Pháp du học. Năm 1969 anh bảo vệ Luận án Tiến sĩ Quốc Gia tại Đại Học Paris, và giảng dạy tại Viện Đại Học Picardie cho đến khi về hưu.
Khi lần đầu tiên gặp một họa sĩ, tôi thường có khuynh hướng tìm vài nét tương đồng để liên tưởng đến một họa sĩ nổi tiếng nào đó thuộc những thế hệ trước. Với Nguyễn Trọng Khôi, tôi cũng làm như vậy nhưng trừ vài nét chung chung như được đào tạo ở trường ốc hay năng khiếu, tôi không tìm được gì đậc biệt. Nguyễn Trọng Khôi (NTK) không giống một họa sĩ nào khác.
Hồ Hữu Thủ cùng với Nguyễn Lâm, Nguyễn Trung của Hội Họa sĩ Trẻ trước 1975 còn sót lại ở Sài Gòn, họ vẫn sung sức lao động nghệ thuật và tranh của họ vẫn thuộc loại đẳng cấp để sưu tập. Họ thuộc về một thế hệ vàng của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Bất kể ở Mỹ như Trịnh Cung, Nguyên Khai, Đinh Cường… hay còn lại trong nước, còn sống hay đã chết, tranh của nhóm Hội Họa sĩ Trẻ vẫn có những giá trị mang dấu ấn lịch sử. Cho dù tranh của họ rất ít tính thời sự, nhưng cái đẹp được tìm thấy trong tác phẩm của họ lại rất biểu trưng cho tính thời đại mà họ sống. Đó là cái đẹp phía sau của chết chóc, của chiến tranh. Cái đẹp của hòa bình, của sự chan hòa trong vũ trụ. Cái mà con người ngưỡng vọng như ý nghĩa nhân sinh.
Westminster, CA – Học Khu Westminster hân hoan tổ chức mừng lễ tốt nghiệp của các học sinh đầu tiên trong chương trình Song Ngữ Tiếng Việt (VDLI) tiên phong của học khu. Đây là khóa học sinh đầu tiên ra trường và các em sẽ được ghi nhận tại buổi lễ tốt nghiệp đặc biệt được tổ chức vào thứ Ba, ngày 28 tháng Năm, lúc 6:00 giờ chiều tại phòng Gymnasium của Trường Trung Cấp Warner (14171 Newland St, Westminster, CA 92683).
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Vì hình ảnh ảm đạm, buồn sầu, như tiếng kêu đòi tắt nghẹn. Tôi, tác giả, đi giữa lòng thủ đô Hà Nội mà không thấy gì cả, không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ. Cờ đỏ là quốc kỳ. Mưa sa làm cho những lá quốc kỳ sũng nước, bèo nhèo, nhếch nhác, úng rữa. Một hình ảnh thảm hại. Hình ảnh thảm hại là dự phóng cho tương lai thảm hại. Và thất bại. Lạ một điều, người ta chỉ trích dẫn năm dòng thơ này, tổng cộng 14 chữ, mà không ai trích dẫn cả bài thơ, và hẳn là hơn 90% những người biết năm dòng này thì không từng biết, chưa bao giờ đọc, cả bài thơ, và tin rằng đó là những lời tâm huyết của nhà thơ Trần Dần nói về thời cuộc mà ông nhận thức được vào thời điểm 1955.
Viet Book Fest cho thấy thế hệ trẻ gốc Việt nay đã vượt qua được những ràng buộc cơm áo gạo tiền của thế hệ đi trước, để cộng đồng Việt nay có thể vươn lên với giấc mơ văn học nghệ thuật trên đất nước Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.
Hư vỡ là đặc tính bất biến của cuộc đời, của tất cả những gì có mặt trong vũ trụ này. Nghĩa là những gì hợp lại, thì sẽ tan; những gì sinh ra, rồi sẽ biến mất. Không có gì kiên cố, bất biến trên đời. Đức Phật đã chỉ ra sự thật đó, và biến những thái độ sống không vui thành sự kham nhẫn mỹ học: cái đẹp chính là vô thường. Bởi vì vô thường, nên có hoa mùa xuân nở, có những dòng suối chảy từ tuyết tan mùa hè, có những trận lá mùa thu lìa cành, và có những trận mưa tuyết mùa đông vương vào gót giày. Bởi vì sống hoan hỷ với hư vỡ là tự hoàn thiện chính mình, hòa hài làm bạn với hư vỡ là sống với sự thật, và cảm nhận toàn thân tâm trong hư vỡ từng khoảnh khắc là hòa lẫn vào cái đẹp của vũ trụ. Và sống với chân, thiện, mỹ như thế tất nhiên sẽ đón nhận được cái chết bình an.
Mỗi 30 tháng 4 là mỗi năm xa hơn ngày đó, 1975, thêm một bước nữa xa hơn, đi vào dĩ vãng. Hầu hết những người trực tiếp tham gia vào cuộc chiến trước 75, nay đã vắng mặt. Non nửa thế kỷ rồi còn gì. Khi không còn ai nữa, không hiểu những thế hệ trẻ tha hương sẽ nhớ gì? Một thoáng hơi cay? Có khi nào bạn đọc ngồi một mình chợt hát lên bài quốc ca, rồi đứng dậy, nghiêm chỉnh chào bức tường, thằng cháu nhỏ thấy được, cười hí hí. Ông ngoại mát rồi. Trí tưởng tượng của người thật kỳ diệu. Rượu cũng kỳ diệu không kém. Nửa chai vơi đi, lơ mơ chiến sĩ trở về thời đó. Lạ lùng thay, quá khứ dù kinh hoàng, khốn khổ cách mấy, khi nhớ lại, có gì đó đã đổi thay, dường như một cảm giác đẹp phủ lên như tấm màn mỏng, che phía sau một thiếu phụ trẻ đang khóc chồng. Cô có mái tóc màu nâu đậm, kiểu Sylvie Vartan, rủ xuống che nửa mặt. Nhưng thôi, đừng khóc nữa. Chỉ làm đất trời thêm chán nản. Để tôi hát cho em nghe, ngày đó, chúng tôi, những người lính rất trẻ.
Ngày 30 tháng 4 năm nay, 2024, đánh dấu 49 năm ngày Sài Gòn thất thủ vào tay cộng sản Bắc Việt (30 tháng 4 năm 1975). Biến cố này đã mở ra một tương lai đen tối cho dân tộc Việt Nam mà một trong những hệ lụy thảm khốc nhất là hàng triệu đồng bào đã bỏ nước ra đi tìm tự do, trong đó có khoảng hơn 400,000 người chết thảm giữa lòng biển cả. Cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài trong 20 năm đã khiến cho hơn 950,000 bộ đội và thường dân miền Bắc chết và khoảng 600,000 lính cộng sản bị thương. Trong khi đó, có khoảng hơn 700,000 thường dân và binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa thiệt mạng, cùng với 1,170,000 lính VNCH bị thương. Phía Hoa Kỳ có 58,281 binh sĩ tử thương và 303,644 lính bị thương. Đó là chưa kể số thương vong của binh sĩ các nước tham chiến ở hai miền Nam-Bắc, theo www.en.wikipedia.org.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.