Hôm nay,  

Giới Thiệu Tuyển Tập Dịch Thuật Trong Vườn Mắt Em

12/08/202200:00:00(Xem: 1940)

trong-vuon-mat-em
 
Trong Vườn Mắt Em là một hợp tuyển gồm truyện & kịch chuyển ngữ từ nguyên tác tiếng Tây Ban Nha của tổng cộng 21 nước trên thế giới dùng tiếng này làm ngôn ngữ chính thức.  Các nhà văn trong hợp tuyển này đại diện cho một nền văn chương tiếng Tây Ban Nha hùng hậu và đa dạng; họ là những người có sự nghiệp văn chương lẫy lừng: từ Gabriel García Márquez, María Luisa Bombal, Luis de Lión, đến những tác giả trẻ hơn đã khẳng định được vị trí của mình và được nhiều giải thưởng văn học như Claudia Hernández, Valería Luiselli, Patricio Pron, Julio Ramón Ribeyro… Dịch giả là Trần C. Trí, đã giảng dạy ngôn ngữ học Tây Ban Nha bậc đại học và cao học ở Nam California trong hơn hai mươi năm qua. Việc thực hiện hợp tuyển này là một quá trình tuyển lọc công phu của các tác giả đại diện cho 19 nước Nam Mỹ, thêm Tây Ban Nha và Guinea Ecuatorial ở châu Phi, và để chọn một truyện/kịch tiêu biểu cho từng nhà văn trong hợp tuyển.

Trong điều kiện chọn lọc khắt khe như thế, Trần C. Trí đã cân bằng các khuynh hướng và đề tài để thực hiện một hợp tuyển đa điện, đa thanh và đa sắc. Các truyện/kịch trong hợp tuyển—dù dưới hình thức dụ ngôn, huyền ảo, hay hiện thực—đều mang hình ảnh của thế giới chúng ta đang sống, với sự tàn bạo lẫn đáng yêu của cuộc đời, không khí huyền ảo của tiểu thuyết, và những nhân vật phức tạp đầy ắp chất sống làm nên xương thịt của tác phẩm. Văn phong và khí hậu của từng truyện/kịch phả ra hơi thở nóng bỏng của những vùng đất bản địa và tâm trạng khắc khoải của con người lồng trong cảnh vật. Đó là vùng đất với “phong cảnh hoang dã và bí hiểm trong ánh nắng rực rỡ của buổi trưa, trông như trong một cơn hoả hoạn, như thể làn không khí trong suốt đã bốc cháy, bị xé toang thành những vết sẹo và mở toác ra từng mảnh da thịt của cảnh vật, rồi thiêu đốt đi tất cả: những đám ruộng lúa mạch chập chùng, những ngôi nhà quét vôi trắng, những cái cối xay gió, những đứa nhỏ đang đi dọc theo con lộ,..” (“Lời Chia Tay Êm Ái”- Patricio Pron).
Bên cạnh những đề tài muôn thuở của loài người như tình yêu, sự cô đơn, sự sống còn, xung đột gia đình; dịch giả đã cân nhắc để tạo sự hòa hợp giữa các chủ đề xã hội, lịch sử, những xung đột màu da, chủng tộc, giai cấp với những vấn đề thời đại: sự kỳ thị, dịch bệnh Corona, sự nghèo đói ở một số quốc gia dẫn đến việc di dân lậu/nô lệ thời nay. Dịch giả cũng rất chú trọng đến việc giới thiệu những kỹ thuật viết mới mang tính đột phá như “Hàm Răng Kể Chuyện” nói về các cuộc đấu giá theo hình thức Dụ Ngôn; hay vở kịch “Rác Rưởi” có nội dung và kết cấu độc đáo thể hiện qua những cuộc điện đàm để hé lộ những thủ đoạn đê tiện như lường gạt, ám hại, đảo chánh, thủ tiêu, trục lợi trong một thế giới đúng là “rác rưởi” và phi nhân tính. Giọng kể trong truyện “Con Trai Người Thợ Rèn” là sự có mặt, giọng nói, ý tưởng của tôi-thượng đế, một hiện hữu của thượng đế có thực, nhưng bất lực trước tội ác của loài người. Kịch “Đa Diện”, chỉ với ba diễn viên hoá thân thành nhiều vai, trải qua nhiều chặng hồi ức, là một cách sử dụng biểu tượng người phụ nữ như đạo diễn lẫn đạo cụ, như nạn nhân lẫn nguyên nhân nguồn gốc tội lỗi của đàn ông–mà cũng là của thế giới thu nhỏ lại thành sân khấu kịch. “Ma Sống” và “Loài Khỉ” là những ẩn dụ mang tính triết học được viết với phong cách hài hước châm biếm và đưa ra câu hỏi thế nào là con người, con người có gì khác biệt với một con khỉ xuất chúng hay một thây ma vẫn còn cử động và sinh hoạt?

Không thể nói đến dịch phẩm “Trong Vườn Mắt Em” mà không nhắc đến tài dịch thuật của dịch giả. Trong suốt tập sách, Trần C. Trí đã vận dụng ngôn ngữ rất điêu luyện để chuyển dịch những tác phẩm văn học tiếng Tây Ban Nha sang ngôi nhà ngôn ngữ Việt cho chúng ta thưởng thức. Chúng ta sẽ nghe được những giai điệu êm ả của âm nhạc hay thi ca trong “Cây Hạnh Phúc”, “Trong Vườn Mắt Em”,”Lời Chia Tay Êm Ái”... Chúng ta sẽ cảm nhận sự gậm nhấm khắc khoải của ác mộng trong “Hàm Răng của Toby”, “Hạt Muối”, “Cái Hộp Giày”, “Giấc Mộng”, “Tấm Thiệp”, “Tha Hoá”... Có những lời mê sảng của sự mất trí và trí thông minh siêu việt trong “Rác Rưởi”. Có những lời quyến dụ điên cuồng và mê hoặc trong “Hàm Răng Kể Chuyện”. Có những thứ ngược ngạo hay bóng bẩy; chua chát hay hài hước. Có những đoạn phải nêu bật những điểm tương đồng về văn hoá giữa hai ngôn ngữ. Có những lúc phải vừa sáng tạo vừa trung thành với cách nói lái, chơi chữ, ẩn ý trong nguyên tác, và những dụ ngôn liên văn bản. Có lẽ phải am tường cả hai ngôn ngữ Tây Ban Nha và Việt để có thể thấy hết công sức và tài năng mà người dịch đã dành cho hợp tuyển này. Chúng ta đã quá kinh hãi với những dịch phẩm xuất bản ồ ạt trong nước hiện nay, những bản dịch thiếu kiến thức về ngôn ngữ nguồn và thiếu lương tâm khi sử dụng ngôn ngữ đích, những văn bản ngô nghê có thể giết chết hay cưỡng hiếp tiếng Việt. Hợp tuyển Trong Vườn Mắt Em là một cuốn sách hiếm thấy về độ chính xác và tinh ròng của ngôn ngữ, cách vận dụng từ vựng tinh tế, linh động và phong nhiêu; và cách hành văn khúc chiết, chuẩn mực, đầy nhạc tính.


Khi thực hiện một hợp tuyển, điều cần lưu ý là nên có một khái niệm, một ý tưởng liên kết, hoặc một bầu khí quyển chung. Một hợp tuyển có thể ví như một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt (installation) mà dịch giả là người nghệ sĩ đi gom góp các vật liệu, đem về sơn phết và uốn nắn lại (ở đây là chuyển ngữ), rồi sắp xếp theo một bố cục nghệ thuật nào đó. Điều nối kết các phần lắp ghép là cảm giác xuyên suốt các thành tố: Đó là tình yêu và sự trân trọng dành cho tiếng Việt. Dịch thuật đòi hỏi điều đó. Đây cũng là điều mà Trần C. Trí muốn nhắn gửi qua truyện cuối cùng trong tuyển tập: “Hồn Ma Bồ Đào Nha” của Miguel Gomes. Truyện ngắn này viết bằng tiếng Tây Ban Nha, pha lẫn một phần  tiếng Bồ Đào Nha, kể cả tựa đề Um fantasma português, com certeza. Truyện viết về một gia đình gốc Bồ Đào Nha sống ở Caracas, Venezuela. Thời trẻ, người cha đến Venezuela để tỵ nạn chính trị, rồi lập gia đình ở đó. Người con sinh ra nói tiếng Tây Ban Nha trong khi người cha luôn sống trong tâm thức lưu vong, cương quyết không dùng tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính ở Venezuela, mà chỉ dùng tiếng Bồ Đào Nha để giao tiếp và viết lách:

“Cuộc sống của ông ở Venezuela phần lớn chỉ quanh quẩn trong nhà, ở trong phòng đọc sách hết giờ này qua giờ khác, nơi ông thường cặm cụi biên tập cho tờ báo tiếng Bồ Đào Nha của ông, hay viết những bài báo ký bằng nhiều cái tên khác nhau mà ông gởi đến các tờ báo của di dân ở Hoa Kỳ và Canada, hay những tạp chí ở Bồ Đào Nha, Brazil, Mozambique, Cape Verde, Angola, Macao, Timor... Ông chưa sẵn sàng từ bỏ những lề thói mà ông đã cần mẫn hun đúc nên như thế. Hồn ma của ông là sự tiếp nối của chính con người đó, ngay đến những niềm đam mê, cái dọc tẩu, những trang sách, và câu hỏi:

– Quando voltamos à Madeira? ‘Stou farto desta terra e desta gentaça... (Chừng nào chúng ta mới trở về Madeira đây? Ba chán cái nơi chốn hôi hám này lắm rồi...)”.

Quê hương và tiếng mẹ đẻ là điều ám ảnh người cha. Ngay cả sau cái chết, hồn ma người cha vẫn hiện về và tìm cách đưa gia đình trở lại Bồ Đào Nha. Cuối truyện, người con trai được kế thừa nhà sách của gia đình ở Bồ Đào Nha, anh dọn đến sống ở đó, như một cách duy trì mối liên lạc với hồn ma của người cha. Trớ trêu thay, ngôn ngữ chính của anh lại là tiếng Tây Ban Nha, thứ tiếng nơi anh đã chào đời (không phải tiếng “mẹ đẻ”). Tình cảnh của người con vừa là một sự lập lại bi kịch của cha, vừa là một âm bản đảo nghịch của bi kịch ấy:

 “Tôi đọc lại những trang này và nhận ra tôi đã diễn tả tâm trạng mình như thể là tôi chưa hề rời Caracas. Tôi tin rằng cho dù có ở góc biển chân trời nào, tôi vẫn suy nghĩ và nói năng cùng một cách như nhau. Nhưng tôi cũng không thể tự lừa dối mình: thành phố này không bao giờ thuộc về tôi; cũng như không có thành phố nào khác thuộc về tôi cả. Có lẽ vì thế mà tôi vẫn tiếp tục viết, và viết bằng một ngoại ngữ.”

Ngôn ngữ là hồn ma không bao giờ rời bỏ người di dân, cho dù họ có đến một nơi tốt đẹp hơn, an toàn hơn, hợp lý hơn… thì hồn ma ấy vẫn luôn ngự trị trong con người họ. Đọc truyện này, chúng ta nhìn ra tâm thức phổ quát của mọi cộng đồng đi dân, trong đó có người Việt và những người còn viết tiếng Việt ở hải ngoại. Viết bằng một ngoại ngữ là sống và đối thoại với hồn ma, là sở hữu hơn một cuộc đời, là không bao giờ thuộc về. Dùng truyện này để kết thúc một hợp tuyển dịch sang tiếng Việt, Trần C. Trí đã cho chúng ta một cứu cánh để tiếp tục viết và viết bằng một ngoại ngữ:

           Hồn ma mới là điều còn lại, sau khi thân xác đã chết đi.

Đặng Thơ Thơ
_______________________________________________________________________________________
Trong Vườn Mắt Em do NXB Nhân Ảnh ấn hành tháng 8, 2022 và có mặt TRÊN AMAZON.COM 
 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Có thể hình dung như thế nào về truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm? Khi tôi khép lại các trang sách trong tuyển tập "Chiếc Ba Lô Để Lại" dày 630 trang mới ấn hành của vị giáo sư nổi tiếng về văn học chữ Nôm, khi chữ biến mất là hiện lên một cánh đồng cò bay thẳng cánh, nơi có sương mai và nắng sớm của ngôn ngữ Lục Tỉnh mà chúng ta ngỡ như đã biến mất từ nhiều thập niên trước, bây giờ như tình cờ hiển lộ trên ký ức như mây trời Núi Cấm. Nơi này, nơi kia trên các trang giấy tập truyện, giữa những chuyển biến truyện và đối thoại của nhân vật là khói sương của tín ngưỡng dân gian Nam Bộ, nơi niềm tin tự nhiên vào luật nhân quả, nơi đó cái thiện sẽ lưu giữ trong lòng người và những gì bất thiện sẽ phai nhạt theo quá khứ lịch sử.
Nhà văn Trịnh Y Thư vừa ấn hành tuyển tập Theo Dấu Thư Hương 2, gồm nhiều bài viết trong nhiều chủ đề đa dạng, phần lớn là về văn học nghệ thuật, đôi khi là lịch sử, khoa học, xã hội. Tuyển tập dày 294 trang, đang lưu hành trên các mạng, như Amazon và Barnes & Noble. Nhìn chung, tác phẩm giúp độc giả soi rọi thêm nhiều cách nhìn đa dạng, mới mẻ, kể cả khi tác giả viết về những người viết chúng ta đã quen thuộc trong văn học Việt Nam, như về Ngô Thế Vinh, Đỗ Hồng Ngọc, Nguyễn Thị Khánh Minh, và nhiều người khác...
Hans Fallada, tên thật là Rudolf Ditzen, người đã sống giữa những biến động của nước Đức — từ sự sụp đổ của Đế chế, đến cơn bão của Thế chiến thứ nhất, rồi bước vào cơn ác mộng của Đệ tam đế chế. Trước chiến tranh, Fallada là một nhà văn nổi tiếng, tác giả của Little Man, What Now?, được Hollywood dựng thành phim. Nhưng khi Hitler lên nắm quyền, ông bị cấm xuất bản, bị Gestapo rình rập, và bị ép phải viết những tác phẩm phục vụ tuyên truyền. Tưởng chừng như bị nghiền nát giữa bạo lực và sợ hãi, ông lại tìm thấy trong ngục tối một đường sống của tâm hồn – viết. Trong ngục tối, ông bí mật viết nên ba cuốn tiểu thuyết mã hóa, và sau chiến tranh, vừa thoát xác một người sống sót, ông viết cuốn cuối cùng: Mỗi người đều chết một mình (Every Man Dies Alone).
Năm 2025 đánh dấu một bước ngoặt đặc biệt trong hành trình của Ocean Vuong (1). Nhà văn, nhà thơ gốc Việt nầy đã trở thành một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của văn chương Mỹ đương đại. Không còn là “hiện tượng thơ”, không còn được biết đến qua nỗi đau di dân, không còn đứng trong hào quang của Night Sky with Exit Wounds hay thành công bất ngờ của On Earth We’re Briefly Gorgeous trước đây, Ocean Vuong năm 2025 là một nhà văn đang mở ra biên giới mới của chính mình với The Emperor of Gladness, NXB Penguin Press, New York, 2025)...
Ngay chính cái tên “Tôi, Không Là Của Ai” đã là một tiếng kêu vừa thẳng thắn, vừa đau đớn. Tôi không là của ai trong cuộc đời này. Tôi không là con của cha tôi. Nhà văn, ký giả Amy Wallace từng lên tiếng, Virginia cũng từng bị chính cha mình ức hiếp khi cô 7 tuổi. Cô khước từ cái quyền sở hữu của những kẻ đã lạm dụng mình. Cô bị khước từ quyền được sống và được làm người, dù đó là những ngày hạnh phúc muộn màng của hơn 20 năm sau ngày cô thoát khỏi Jeffrey Epstein và Ghislaine Maxwell. Khi Virginia viết cuốn tự truyện này là lúc cô đã được hưởng 22 năm tự do. Tự do khỏi Epstein, Maxwell, đường dây mua bán tình dục trẻ em mà cô là một trong những nô lệ tình dục của Epstein. Hai mươi hai năm đó, cô tự thú, “không dễ dàng chút nào.” Không bao giờ có vết thương nào không để lại vết sẹo. Không bao giờ có sự hồi phục nào không để lại trầm tích.
Vâng, cảm ơn nhà thơ thiền sư Thiện Trí. Ý nghĩa rất minh bạch, rằng hãy về thôi. Về thôi, về mặc Cà Sa / Về thôi cởi áo Ta Bà phong sương... Hiển nhiên, không phải là đổi y phục, mà phải là chuyển hóa nội tâm. Cởi áo Ta Bà không đơn thuần là rời bỏ đời sống cư sĩ hay thế tục, mà là buông bỏ tâm vọng động, tâm phân biệt, tâm chấp ngã vốn đã bị phong sương của sinh tử bào mòn. Mặc áo Cà Sa không nhất thiết là khoác lên mình chiếc áo của người xuất gia, mà là khoác lên tâm từ bi, trí tuệ, và vô ngã.
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Cuốn sách này là một công trình phục vụ cộng đồng nhân kỷ niệm 50 năm xa quê hương sống đời viễn xứ (1975-2025). Sách được in thành 2 tập – Tập 1 gồm 41 tác giả và Tập 2 gồm 45 tác giả. Như vậy, tổng cộng có 86 tác giả, trong đó có nhiều tác giả đã nổi tiếng từ trước 1975. Tám mươi sáu tác giả đến vùng đất này bằng những cách khác nhau, trình độ khác nhau, nghề nghiệp khác nhau nhưng có một điểm tất cả đều giống nhau. Đó là: Họ đã sống và viết bên dòng Potomac.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, thi sĩ “Công giáo” Lê Đình Bảng đã bước vào độ tuổi thượng thọ. Ông đã chính thức đạt 83 tuổi Tây và 84 năm tuổi ‘Mụ’. Một độ tuổi cần nghỉ ngơi, an dưỡng tuổi già. Song với tình yêu văn chương, chữ nghĩa và đặc biệt là niềm tin vào tôn giáo, ông vẫn như một thanh niên tráng kiện, đầy đức tin và nhiệt huyết, khi cho ra mắt thi phẩm thứ 25, sau rất nhiều tác phẩm nổi tiếng với nhiều thể loại khác nhau như văn xuôi, nghiên cứu lịch sử, tôn giáo...sáng tác kể từ năm 1967 miệt mài cho đến nay...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.