Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Little Kabul, Little Saigon và Số Phận Người Tị Nạn

14/09/202109:53:00(Xem: 888)
BuiVanPhu_20210912_LittleKabulLittlesaigon_H01
Một sinh hoạt của sinh viên gốc Afghanistan ở vùng Đông Vịnh San Francisco, tháng 5/2019 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan.


Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp.


Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.


Nói chung, người Afghan ở Mỹ cũng đã trải qua cuộc sống không có nhân quyền trên quê hương nguồn cội, như người gốc Việt. Họ cũng trải qua hành trình vượt biên khó khăn, qua được nước láng giềng trước khi được tới Mỹ định cư. Có người đã phải chờ đợi nhiều năm trong các trại tị nạn. Nhiều người đã phải hồi hương theo chương trình của Cao uỷ Tị nạn Liên Hiệp quốc.


Trong gần nửa thế kỷ qua, một đất nước với 30 triệu dân mà đã có đến 5 triệu người Afghan phải bỏ quê hương ra đi. Một số được Mỹ, Canada, Anh, Nga, Pháp và nhiều quốc gia nhận cho định cư, còn lại hiện sống trong các trại tị nạn ở các quốc gia láng giềng của Afghanistan.


Khoảng 150 nghìn người tị nạn Afghan được Hoa Kỳ nhận cho định cư trong 40 năm qua. Họ sống tập trung tại California, Virginia, New York.


Theo nhật báo San Francisco Chronicle trích dẫn số liệu năm 2019 của Cục Thống kê Hoa Kỳ, hiện có 66 nghìn người gốc Afghan sống tại California và đông nhất tập trung tại vùng Vịnh San Francisco.


Nhiều người Afghan sống tập trung tại các thành phố Fremont và Hayward ở East Bay. Fremont có khu phố thương mại với nhiều cửa hàng dịch vụ và thực phẩm Afghan thường được biết đến với tên gọi “Little Kabul”.


Năm 2018 một phụ nữ Afghan là cô Aisha Wahab đắc cử vào hội đồng thành phố Hayward, được coi là một trong hai nữ dân cử gốc Afghan đầu tiên tại Hoa Kỳ, cùng lúc với cô Safiya Wasir đắc cử vào lập pháp tiểu bang New Hamsphire.


Sau khi đem quân vào Afghanistan để lật đổ chính quyền Taliban vì biến cố 11/9/2001, Hoa Kỳ giúp Afghanistan xây dựng cơ chế tổ chức quốc gia trong tinh thần dân chủ, đã có nhiều người Afghan ở Mỹ, châu Âu trở về giúp nước. Giới lãnh đạo Afghanistan trong hai thập niên qua, trong đó có nhiều phụ nữ, là những người đã tốt nghiệp từ các đại học danh tiếng trên thế giới.


Tổng thống Hamid Karzai, Tổng thống Ashraf Ghani từng sống và làm việc ở nước ngoài trước khi trở về phục vụ quốc gia, sau khi chế độ Taliban bị Hoa Kỳ lật đổ.


Dưới sự cai trị của Taliban, phụ nữ Afghan không có nhiều người được hưởng giáo dục và bị hạn chế các quyền tự do căn bản. Trong hai mươi năm qua hàng triệu nữ sinh đã có cơ hội đến trường. Nhiều phụ nữ Afghan đã tham gia chính quyền như Dân biểu Fawzia Koofi là một trong những phó chủ tịch của quốc hội, Thống đốc Salima Mazari, Thị trưởng Zarafi Ghafari. 


Sau khi Hoa Kỳ quyết định rút lui khỏi vùng đất này vào thời hạn 31/8, chính quyền Kabul đã sụp đổ và Taliban đã giành lại được quyền lãnh đạo Afghanistan sau 20 năm.


Dưới thời Việt Nam Cộng hoà từ năm 1956 đến 1975 cũng có nhiều người Việt tốt nghiệp từ các đại học danh tiếng nước ngoài về góp phần xây dựng quốc gia. Lãnh đạo chính quyền trong các bộ, nổi bật có các ông Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Đức Cường, Nguyễn Tiến Hưng, Nguyễn Văn Hảo. Trong giáo dục có các giáo sư Bùi Xuân Bào, Vũ Quốc Thông, Nguyễn Văn Bông, Lê Xuân Khoa, Thanh Lãng, Chu Phạm Ngọc Sơn, Võ Tòng Xuân.


Sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và cộng sản giành được quyền lãnh đạo thì nhiều người cũng bỏ nước ra đi, người ở lại cũng không thể đóng góp được cho sự phát triển quốc gia.


BuiVanPhu_20210912_LittleKabulLittlesaigon_H02
Tiến sĩ Sedique Popal là giám đốc Noor Islamic Cultural Center ở thành phố Concord, vùng Vịnh San Francisco (Ảnh: Bùi Văn Phú)


Từ khi Taliban tiến vào thủ đô Kabul hôm 15/8, trong hai tuần sau đó quân đội Mỹ đã thực hiện một cuộc di tản bằng đường hàng không lớn nhất từ trước đến nay, khi 123 nghìn người được các máy bay quân sự của Mỹ đưa ra khỏi Kabul, gồm người Mỹ và người Afghan đã hợp tác với Hoa Kỳ.


Sài Gòn tháng 4/1975 và Kabul tháng 8/2021 có những điểm giống nhau giữa Việt Nam Cộng hoà và Cộng hoà Afghanistan. Một khi Hoa Kỳ thấy không còn quyền lợi quốc gia ở đó nữa thì không có lý do gì để tiếp tục chi ngân sách hàng tỉ hay cả trăm tỉ đôla mỗi năm vào những nơi đó.


Nhưng khác nhau là ở chỗ Hoa Kỳ đã công bố thời điểm sẽ rút hết quân khỏi Afghanistan và thi hành đúng theo lịch trình Tổng thống Joe Biden đã đưa ra. Vị tướng chỉ huy cuộc di tản người Mỹ là người cuối cùng bước lên máy bay lúc gần đến thời khắc 31/8 để rời Kabul, dù còn cả trăm người Mỹ bị kẹt lại.


Người Mỹ rời Sài Gòn trong chiến dịch “Frequent Wind” sau khi có lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh yêu cầu tất cả người Mỹ phải rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 tiếng đồng hồ, kể từ sáng ngày 29/4.


Cả trăm nghìn người Afghan được di tản trong những tuần lễ qua đang tạm trú trong các trại tị nạn ở Trung Đông, châu Âu và trong nội địa Hoa Kỳ để tiến hành thủ tục an ninh trước khi được ra ngoài định cư.


Năm 1975, 130 nghìn người Việt rời Việt Nam trong tháng Tư cũng đã được đưa vào các trại tạm trú ở Thailand, Philippines hay đến các đảo Guam, Wake, trước khi vào các trại tị nạn trong nội địa Hoa Kỳ để làm thủ tục định cư. Chương trình định cư người Việt được di tản vào mùa xuân 1975 chấm dứt vào tháng Mười.


Với chính sách bỏ tù không xét xử hàng trăm nghìn cựu quân cán chính Việt Nam Cộng hoà, bắt giam hàng trăm văn nghệ sĩ, trí thức và tiêu diệt văn hoá Mỹ-Ngụy nên hàng trăm nghìn người Việt tiếp tục tìm cách ra đi, đông nhất là bằng đường vượt biển cho đến 20 năm sau mới chấm dứt.


Đợt người tị nạn cộng sản Afghanistan đến Hoa Kỳ đầu tiên vào thập niên 1980, gia tăng nhiều trong hai thập niên sau đó. Cũng như làn sóng “thuyền nhân” được định cư ở Mỹ trong cùng thời gian. Người tị nạn Việt và người tị nạn Afghan đã có chung cùng cảnh ngộ.


BuiVanPhu_20210912_LittleKabulLittlesaigon_H03
Tiến sĩ Sedique Popal, thứ hai từ trái, cùng đồng hương Afghan ở vùng Đông Vịnh San Francisco (Ảnh: Bùi Văn Phú)



Người Việt khắp nơi trên thế giới hàng năm gửi về cả chục tỉ đôla cho thân nhân, nhiều nhất là từ Hoa Kỳ. Người Mỹ gốc Afghan trong năm 2020 cũng đã gửi về cho gia đình 789 triệu đôla, theo tin Reuter ngày 2/9/21.


Câu hỏi đang được lãnh đạo Hoa Kỳ đặt ra là, với sự trở lại nắm quyền của Taliban đời sống của người dân Afghanistan trong những tháng năm tới sẽ ra sao? Taliban có sẽ tàn bạo như trước đây và áp dụng luật của Hồi giáo một cách khắt khe, nhất là chính sách đối với phụ nữ.


Chủ trương của Taliban là chống lại phương Tây, đặc biệt là những gì thuộc về tư tưởng dân chủ, về bình quyền và văn hoá Mỹ vì cho đó là xấu xa, không thích hợp với Hồi giáo.


Như lãnh đạo cộng sản Hà Nội đã có những chính sách tiêu diệt tư tưởng dân chủ và văn hoá Mỹ-Ngụy tại miền Nam sau 30/4/1975 vì cho đó là đồi trụy, là phản động.


Hoa Kỳ và thế giới đang chú ý đến những gì lãnh đạo Taliban sẽ làm trong những tháng ngày trước mặt, để có những chính sách thích hợp.


Làn sóng người tị nạn Afghan sẽ chấm dứt sau khi số người được di tản trong tháng 8 vừa qua được định cư, hay còn kéo dài trong nhiều năm nữa, như làn sóng thuyền nhân của người Việt trong suốt 20 năm sau năm 1975?


Những ngày qua thành phần lãnh đạo của Taliban đã lên tiếng cho biết họ sẽ cởi mở hơn trước, sẽ tôn trọng quyền phụ nữ và kêu gọi người dân Afghan ở nước ngoài, kể cả những lãnh đạo cũ của đất nước, hãy trở về đóng góp cho việc xây dựng quốc gia. Họ hứa sẽ không có việc trả thù với những ai đã tham gia hay hợp tác với chính quyền cũ.


Thế giới đã nhìn vào Việt Nam trong những năm sau ngày 30/4/75 để nhận ra xung đột giữa tự do và cộng sản được thể hiện qua các chính sách đàn áp tư tường, truy quét văn hoá Mỹ một cách tàn bạo ra sao.


Thập niên 1990, thế giới cũng đã nhìn vào Afghanistan để thấy rằng khi Taliban lên cầm quyền họ đã có những chính sách khắt khe theo tinh thần luật Hồi giáo, trái ngược với các giá trị phương Tây như thế nào.


Xung đột giữa tư tưởng Hồi giáo và các giá trị văn hoá phương Tây lên cực điểm với vụ tấn công khủng bố gây tử vong cho 3 nghìn người ngay trên đất Mỹ vào sáng ngày 11/9/2001.


Nước Mỹ vừa tưởng niệm 20 năm biến cố đau buồn này. Cuộc chiến tranh chống khủng bố cũng chưa chấm dứt, cũng như chiến tranh chống bành trướng của chủ nghĩa cộng sản vẫn còn, dù Đông Âu sụp đổ, Liên bang Sô Viết tan rã.


Trung Quốc và Nga từng là lãnh đạo của khối cộng sản chống Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh Lạnh. Ngày nay hai quốc gia này vẫn còn là đối thủ của Mỹ trên nhiều mặt trận, từ Đông Á, châu Âu sang châu Phi.


Bùi Văn Phú

Tác giả là một giảng viên đại học cộng đồng từ vùng Vịnh San Francisco, California. Ông đã có nhiều năm dạy học ở châu Phi và làm việc với Cao ủy Tị nạn LHQ ở Đông Nam Á.



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.