Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Tuệ Sỹ-Vị Thầy Của Bốn Chúng

08/08/202109:13:00(Xem: 1431)
TueSyViThayCuaBonChung                                                       

 

Thông thường hằng ngày tôi có nhiều việc để hành trì, và ngoài việc tu học tại Tổ Đình Viên Giác Hannover Đức Quốc ra, tôi hay viết sách, dịch Kinh và có thêm mấy việc khác nữa cũng tương đối quan trọng. Đó là điểm sách hay viết lời giới thiệu sách cho một tác giả nào đó sắp có sách xuất bản. Tôi rất hoan hỷ để làm việc nầy. Bởi lẽ người ta tin tưởng mình, họ mới giao cho mình đứa con tinh thần của họ để mình đọc và cho ý kiến, cũng như giới thiệu đến với quý độc giả khắp nơi. Bởi vì để tiếp cận một tác phẩm thì phải có thời gian và phải chắc rằng có ý đọc quyển đó mới mua về, nhưng đôi khi vì bận bịu nên để quên trên kệ sách, có khi 5 hay 10 năm sau mới đọc. Nếu bây giờ có người nào đó đọc xong một tác phẩm và tóm tắt ngắn gọn nội dung để mình đọc thì còn gì quý hơn bằng. Dĩ nhiên những nhận định trong việc điểm sách là cái nhìn cá nhân của người đó, chứ chưa hẳn đã là quan điểm của người đọc. Tuy nhiên có kẻ sắm thuyền thì mình cứ leo lên và trước sau gì gió đưa cũng sẽ đến bến.

Việc viết lời tựa hay lời giới thiệu cho một tác phẩm mới không khó, nhưng phải có thời gian để đọc qua tác phẩm đó, sau đó mới hạ bút viết lời giới thiệu. Với tôi thì việc nầy thích hợp. Lý do đơn giản là khi đọc nội dung một tác phẩm, mình sẽ hiểu được ý chính của tác giả muốn nói đến mục đích gì. Từ đó mình không cần phải viết lại một tác phẩm như thế nữa. Nghĩa là đã có người viết rồi. Bây giờ mình chỉ có trách nhiệm vun xới vườn hoa tâm linh ấy tươi tốt qua việc viết lời giới thiệu mà thôi.

 

Quý Vị biết rằng Đại Tạng Kinh của Phật Giáo có đến 250.000 trang, đọc suốt đời cũng không hết nổi, nhưng tôi đã làm quen với việc đọc Đại Tạng từ lâu rồi; nên có ai đó nhờ tôi đọc sách 100 trang hay 500 trang để viết lời giới thiệu, thì với tôi không có vấn đề. Hôm nay tôi muốn giới thiệu với quý độc giả tác phẩm “Tuệ Sỹ-Vị Thầy của bốn chúng” do Tác giả Tiến Sĩ Tâm Thường Định Bạch Xuân Phẻ ở Hoa Kỳ viết và dịch ra tiếng Anh, để dâng lên Thầy Tuệ Sỹ và gửi lại cho những thế hệ sau. Những người lớn tuổi cũng như thanh thiếu niên sinh ra tại Hải ngoại không rành Việt ngữ, thì tác phẩm nầy sẽ đáp ứng được điều đó. Sách dày 170 trang kể cả hình bìa. Do Liên Phật Hội ở Hoa Kỳ in ấn, xuất bản lần đầu năm 2017 và năm 2019 được Hương Tích Phật Việt cùng với Lotus Media xuất bản. Năm 2020 Cội Nguồn Tổ Việt Foundation tái bản tại Hoa Kỳ. Bìa và trình bày do Uyên Nguyên và Thiên Nhạn đảm trách. Tranh do Đinh Trường Chinh cung cấp.

 

Viết về Thầy Tuệ Sỹ thì đã có nhiều người làm rồi. Thiết tưởng ở đây tôi không cần ca ngợi Ngài nhiều hơn nữa. Việc ấy cũng dư thừa. Cứ nhìn vào tựa đề quyển sách là chúng ta thấy được tất cả tâm tư, tình cảm, sự quý mến của Tác giả đối với Ngài Tuệ Sỹ qua những bài của chính Thầy Tuệ Sỹ viết hay những lời thơ do Tâm Thường Định tỏ bày qua bút pháp của chính Tác giả. Đặc biệt là sau mỗi bài viết bằng chữ Việt liền ngay sau đó có bài dịch của chính Tác giả ra tiếng Anh. Xem như đây là tác phẩm song ngữ dành cho nhiều thế hệ trong cộng đồng của chúng ta. Nét đặc biệt của Tác giả là tuy sinh trước tháng 4 năm 1975 không bao lâu và năm 1991 đã sang xứ Hoa Kỳ rồi, thế mà tiếng Việt của Anh viết quá trôi chảy. Tôi không biết là Tác giả đã học tiếng Việt ở đâu, hoặc tự học? Đây là một tấm gương đáng mừng để cho các thế hệ trẻ về sau nầy nên noi theo.  Xa quê hương từ dạo 15,16 tuổi chắc chắn rằng chưa xong bậc Trung Học, khi đến Mỹ, Anh đã học xong Tú Tài, Cử nhân, Cao học và Tiến Sĩ. Do vậy tiếng Anh đối với Tác giả cũng giống như tiếng Mẹ đẻ rồi. Đồng thời Anh cũng là một Huynh trưởng của Gia Đình Phật Tử Việt Nam vùng Sacramento, thủ phủ của tiểu bang California, Hoa Kỳ và Anh cũng đã hướng dẫn con cái theo bước chân của Anh, cho chúng đi sinh hoạt trong Gia Đình Phật Tử. Việc nầy cần cổ động cho các gia đình có tu học Phật, nên cố gắng hướng dẫn con em mình được như vậy, thì rất tốt cho tương lai của thế hệ kế thừa.

 

Thien Ly Doc Hanh_Tue Sy
Trong tập sách nầy có bài “Thiên Lý Độc Hành” ở trang 47 bằng tiếng Việt và được Tác giả dịch sang tiếng Anh ở trang 51. Bài nầy có tất cả 13 đoạn do Thầy Tuệ Sỹ sáng tác và đã được Tác giả cho dịch sang tiếng Anh, kèm theo những bài của tác giả khác cũng đã dịch những vần thơ nầy ra tiếng Anh nữa. Qua đó tôi nhận thấy có lẽ khó nhất là từ “mắt biếc” không phải đơn giản để dịch được từ nầy, nếu không thâm hiểu ý của tác giả bài thơ. Tôi có duyên may là Thầy Thanh An đang làm luận án Tiến Sĩ tại Tích Lan, có gửi cho một tập “Thiên Lý Độc Hành” bằng 6 ngôn ngữ như: tiếng Việt dịch sang chữ Hán, chữ Nôm, chữ Nhật do Bùi Chí Trung dịch; tiếng Anh do Nguyễn Phước Nguyên dịch; tiếng Pháp do Dominique de Miscault dịch và có lẽ người nầy dịch từ bản tiếng Anh ra. Tác phẩm nầy có 140 trang kể cả hình ảnh và thủ bút của Thầy Tuệ Sỹ, hình ảnh của Thầy Hạnh Viên đóng góp, cùng những tranh phụ bản do Đào Nguyên Dạ Thảo cung cấp. Sách nầy được in năm 2020 và đặc biệt trong quyển “Thiên Lý Độc Hành” nầy có tiểu sử của Thầy Tuệ Sỹ, tôi xin chép ra đây để quý độc giả được lãm tường.

 

Hòa Thượng “Tuệ Sỹ sinh năm 1934 tại Pakse, Lào. Xuất gia học pháp dòng Lâm Tế từ năm 1953. Năm 1960 Ngài về Việt Nam lang thang và tạm trú trong nhiều chùa tại các tỉnh miền Nam. Từ năm 1966, viết văn làm thơ đăng báo và phụ trách biên tập một vài tạp chí văn triết học thời đó. Từ năm 1969, dạy Triết học Phật Giáo ở Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn. Năm 1973, về Nha Trang tham gia thành lập Viện Cao Đẳng Phật Học Hải Đức. Năm 1977, trở lại Sài Gòn. Năm 1978, bị bắt giam 2 năm. Năm 1984, bị bắt giam lại, 1988 bị tuyên án tử hình, một tháng sau giảm xuống 20 năm, đến năm 1998 được trả tự do. Hiện tại dành nhiều thì giờ biên dịch và sáng tác; sống ở một am nhỏ trên cao nguyên Lâm Đồng, Việt Nam”.

 

Đọc tiểu sử của Hòa Thượng Tuệ Sỹ để chúng ta biết rằng Ngài là một bậc Vô Sư Trí, tự tu học, nhưng biết rất nhiều sinh ngữ như: Anh, Pháp, Đức và các cổ ngữ như: tiếng Phạn, Pali, Tây Tạng v.v… không phải ai cũng có thể làm được điều nầy. Do vậy Tác giả Tâm Thường Định cung kính dâng tác phẩm “Tuệ Sỹ-Vị Thầy của bốn chúng” lên Ngài, để tri ân nhân ngày sinh nhật của Ngài là điều đáng thể hiện vậy.

 

Xin Quý vị bỏ ra một ít thời gian để đọc tác phẩm nầy, để thấy một người Phật tử trung niên như Tâm Thường Định, đã mang được Thiền Chánh Niệm vào học đường của Hoa Kỳ và đem tinh thần của Gia Đình Phật Tử, đến với thế hệ trẻ trong tương lai được sinh ra và lớn lên tại ngoại quốc. Chỉ ngần ấy việc thôi cũng đủ để tán dương Tác giả của tác phẩm nầy rồi.

 

Viết xong vào lúc 11 giờ trưa ngày 6 tháng 8 năm 2021 tại thư phòng của Tổ Đình Viên Giác Hannover, Đức Quốc nhân mùa An Cư Kiết Hạ năm Tân Sửu.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Đây là một tác phẩm lịch sử từng giai đoạn của Quân Lực Việt Nam Công Hòa. Nhà biên soạn sử học Hồ Đắc Huân, đã miệt mài trong bao nhiêu năm, cô đọng, trau chuốt, giao tiếp với nhiều nguồn tin tức khác nhau, cộng với hành trình từ bản thân, là chứng nhân lịch sử; đã cho ra mắt một tác phẩm để đời!
Có Tự ngã không? Đức Phật dạy: Có nghiệp được tạo tác, có quả dị thục được lãnh thọ, nhưng không có người tạo tác, không có người lãnh thọ. Phật giáo không cho có cái gọi là Tự ngã, tiểu ngã, đại ngã, linh hồn, nhưng tin có “Nghiệp mang theo” để “trả quả”. Cái gì mang Nghiệp theo? Thần thức tái sinh, luân hồi?
Cuốn Hồi Ký dày khoảng 500 trang, khổ lớn, với phần biên tập và thiết kế sách của Trịnh Y Thư, phần thiết kế bìa của Nina Hòa Bình Lê, và gồm 7 phần chính, ngoài Lời Ngỏ và Kết Từ. Phần I, tác giả nhớ lại thời còn ở Hà Nội trước năm 1954 với bố mẹ và anh chị; Phần II kể về chuyến di cư đầu đời một thân một mình của cô gái 16 tuổi từ Hà Nội vào Sài Gòn, lập gia đình và những cơ duyên đưa đẩy vào ngành nghệ thuật điện ảnh Miền Nam trước năm 1975; Phần III kể chuyện lưu vong ra hải ngoại trong biến cố ngày 30 tháng 4 năm 1975, làm người tị nạn Việt Nam đầu tiên tại Canada, với hai bàn tay trắng làm lại cuộc đời và những phấn đấu gian lao cực khổ để bước vào sân khấu điện ảnh lộng lẫy của Hollywood; Phần IV thuật lại những chuyện vinh quang trong sự nghiệp điện ảnh và những buồn vui của bản thân, gia đình, và những mối giao tình với bạn bè trong cuộc sống tại Hoa Kỳ; Phần V kể chuyện “đứng dậy, đứng thẳng, đi tới” sau những lần vấp ngã để trở thành nhà diễn thuyết khắp thế giới,
“Nước hiện cũng ở quanh tôi, quanh anh chị. Nó ở ngay trang sách này mà ta đang đọc. Ở trong màn hình tôi đang nhìn, trong bàn phím máy computer tôi đang gõ, ở trong cái áo cái quần tôi đang mặc, trong bức tranh trên trên tường…, kể cả trong cái đinh đóng trên đó. Tôi không thấy nó vì tôi ít khi chịu khó nhìn kỹ để thấy nó. Nhưng có điều bây giờ tôi biết rất rõ rằng: không có nước thì cái thằng tôi này cũng không có; không có nước thì cũng không có anh, không có chị ngồi đó mà đọc trang sách này. Cái bàn, cái ghế, cái cây, cái đám mây ngoài kia… cũng không tuốt.” (tr. 158) Không chỉ có vậy đâu mà còn nhiều nữa. Văn Công Tuấn, trong tác phẩm “Chớ Quên Mình Là Nước,” đã dẫn người đọc từ chuyện đất và nước trong đời thường, trong khoa học, trong văn chương tới chuyện đất và nước trong lãnh vực quốc gia dân tộc, từ chuyện đất và nước trong triết học với bản thể và diệu dụng của nước, bước sang chuyện lấy cơ duyên đất và nước để nói đến chuyện thực chứng tâm linh để giác ngộ và giải thoát
Tôi cố ý tìm tòi và trích dẫn nhiều ý kiến của Nguyễn Hiến Lê và cảm nhận về từng tác phẩm Nguyễn Hiến Lê của nhiều tác giả khác. Tôi rất mong được cung cấp càng nhiều thông tin, sự kiện, chi tiết liên quan đến tác phẩm càng tốt, để tiện việc tham khảo và nghiên cứu về Nguyễn Hiến Lê.
Kể từ tập thơ Vườn Dĩ Vãng ấn hành năm 1972 của thời trai trẻ phục vụ trong quân ngũ nơi quê nhà cho đến tác phẩm Hồi Sinh thực hiện năm 2020 nhưng vì trục trặc kỹ thuật, ấn hành năm 2021 nơi xứ người, nhà thơ Trần Văn Sơn đã trải qua cuộc hành trình từ những bài thơ xuất hiện trên trang báo ở Sài Gòn vào giữa thập niên 60 cho đến thời điểm ấn hành tuyển tập nầy với thi ca hơn nửa thế kỷ.
Trong tuyển tập “Vằng Vặc Một Mảnh Lòng,” có nhiều bài rất giá trị mà cũng khó tìm, như bài “Lời Giới Thiệu Luận Án Tiến Sĩ Phật Học Đại Học Bihar - Ấn Độ, 1961 Của Tỳ Kheo Thích Minh Châu: So Sánh Kinh Trung A Hàm Chữ Hán và Kinh Trung Bộ Chữ Pali do vị Viện Trưởng, Tân Tòng Lâm Nalanda S. Mookerjee viết vào ngày 23 tháng 3 năm 1964, và Thích Nữ Trí Hải dịch Việt. Hoặc như bài “Huyền Trang Và Công Cuộc Thỉnh Kinh Vô Tiền Khoáng Hậu Của Nhân Loại” của học giả Nguyễn Hiến Lê, và bài “Như Lai Vô Sở Thuyết” của kịch tác gia Vũ Khắc Khoan.
Khi đọc bài “Bên Bờ Tử Sinh” của nữ văn sĩ Đỗ Dung thuộc Ban Điều Hành diễn đàn Minh Châu Trời Đông, tôi cũng thấy lòng nhẹ nhàng theo, tác giả bị căn bệnh hiểm nghèo bác sĩ nói chỉ sống thêm vài năm nữa, mà nhờ nhiếp tâm thiền định, chẳng những thoát khỏi cây cầu sinh tử mà tác giả còn sống yêu đời và trở thành một nhà văn với nhiều sáng tác đi vào lòng độc giả.
Nguyễn Hưng Quốc cho rằng “Nhà thơ không làm ra chữ, chính chữ làm nên nhà thơ.” Vế thứ hai của bài thơ này thì có vẻ dễ hiểu, bởi vì chính người làm ra bài thơ thì mới được gọi là nhà thơ. Nhưng vế đầu của bài thơ thì không dễ hiểu tí nào cả, bởi vì “nhà thơ không làm ra chữ,” thì nhà thơ làm ra gì? Có lẽ chúng ta nên quay lại mật thất thứ hai trong đó ghi những bí quyết làm thơ thì chắc có câu trả lời. Đúng vậy, trong mật thất thứ hai, Nguyễn Hưng Quốc nói anh “hóa kiếp thành chữ,” và “nhập thể vào chữ.” Bởi thế, nhà thơ không còn đứng ngoài chữ để nói mình làm ra chữ. Nhà thơ là chữ. Chữ là nhà thơ. Và do vậy, nhà thơ họ Nguyễn mới nói “Bao giờ hắn cũng muốn viết một cái gì đó, nhưng chỉ khi hắn không viết, hắn mới thực là nhà thơ.”(649) Cao siêu! Đây quả là cảnh giới thượng thừa của nghệ thuật. Trong “909 Bài Thơ Ba Dòng” có nhiều điều khác mà Nguyễn Hưng Quốc cảm tác về tình yêu, chuyện vợ chồng, biển, sóng nước, mây, gió, trăng, mưa, mùa thu, lá vàng, nắng, hoa, sương đêm,
Đọc những truyện ngắn Trần Doãn Nho viết từ trước 1975 đến thời gian gần đây, có thể thấy anh sáng tác trong ý thức sâu sắc về thể loại và nghệ thuật viết truyện ngắn. Truyện của anh luôn có sự đầu tư công phu về ý tưởng, hình ảnh, ẩn dụ, chủ đề… lồng trong cấu trúc chặt chẽ của tổng thể, trong đó các yêu cầu về miêu tả, tường thuật, đối thoại, diễn tiến, tư tưởng giữ một tỷ lệ hài hoà và hữu hiệu.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.