Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Bộ Râu Xồm, Tư Bản Của «Mác»

06/08/202114:25:00(Xem: 898)
Đàn ông là phải có râu «Nam tu nữ nhũ» như sách đã dạy. Khoa học lý giải râu là biểu hiện sức mạnh và từ đó phát xuất sự ham muốn chiếm đoạt nhưng không vì thế mà râu trở thành môt thứ vũ khí chết người. Râu của người Á châu khác với râu của người Âu châu, cả về cách để râu, chăm sóc râu. Theo kinh nghiệm, nhìn râu, người ta có thể xét đoán về người. Như người cương nghị, người vui tánh, người có máu … Riêng người cộng sản có râu hay không râu, râu tốt hay xấu, đều có liên hệ ít nhiều đến diễn tiến của phong trào cộng sản và số phận người lãnh đạo. 

Râu của lãnh đạo tôn giáo

Đấng Christ và các vị Tông đồ vì gốc do thái nên giữ giới luật theo Moise không được phép cạo râu. Để râu là cách tôn trọng mình được Thượng Đế tạo ra. Ngài thương mà tạo ra người đàn ông có bộ râu. Cũng vì kính trọng Thượng Đế mà con người không được phép xăm mình, xỏ tai, xỏ mũi, cắt tay chơn, … Con người là thiêng liêng và là sản phẩm do Thượng Đế tạo ra!

Với người Công giáo, râu của tăng lữ là vấn đề đứng đắn và có tánh cách tiêu biểu. Râu có một lịch sử dài. Giáo Hoàng không râu, mặt mày nhẵn nhụi, xuất hiện vào thế kỷ 18, sau nhiều do dự. Trước kia bắt buộc, rồi nhiều lần hủy bỏ, râu khi tượng trưng cho sự thánh thiện, khi lại là dấu ấn tội lỗi. Số phận râu trôi nổi theo lớp sóng phế hưng của lịch sử Giáo hội. 

Giáo Hoàng Innocent XII (thế kỷ XVII), nổi tiếng là người quyết liệt chống lại phe cánh «gia thế» cầm quyền trong Giáo hội, là vị Giáo Hoàng cuối cùng có râu, ria mép và cả chùm râu lún phún dưới cằm. Thật ra, Giáo Hoàng nhiều râu cuối cùng phải là Jules II. Như vậy, giáo dân từ hơn 350 năm đến nay không còn Giáo Hoàng có râu nữa!

Với tu sĩ Công giáo, râu chiếm một địa vị quan trọng trong kinh thánh Do thái. Cắt râu một người đàn ông là một cử chỉ sỉ nhục. Cạo râu hay nhổ râu là dấu hiệu tang tóc. Để cho người nào đó đùa giỡn với bộ râu của mình, không tránh khỏi bị coi là kẻ điên. Cắt râu hay tỉa râu cho giống một kiểu nào đó của dân chúng thế tục, phải bị giáo hội ngăn cấm và trừng phạt.

Như đã nói, ở người Công giáo, râu có khi được khuyến khích, có khi bị cấm. Ngay cả Đấng Christ là người có râu và nhiều râu nhưng có khi Ngài xuất hiện không có râu. Nhiều Linh mục trong Giáo hội khi có râu, lúc không râu. Nên rất khó có một kết luận dứt khoát ai phải có râu, ai không,và lúc nào, ở đâu?

Người Chánh thống giáo, người Sikht và Hồi giáo, hàng chức sắc đều để râu vì râu đối với họ là biểu hiện trí tuệ và sự kính trọng. Râu là tượng trưng và cho phép tinh thần hội nhập với tâm, tư tưởng với hành động, lý thuyết với thực hành. Nên những người này không có quyền cắt tóc, cạo râu vì đó là dấu hiệu tuân thủ luật trời.

Cắt tóc cạo râu là đánh mất đi một phần thân thể của Trời ban cho và người không râu là kẻ phản đạo. Chức sắc lãnh đạo tôn giáo phải có nhiều râu và râu phải dài, phù hợp với địa vị của vị chức sắc. Oussama Ben Laden có vai trò tối quan trọng trên tầm vóc quốc tế nhưng người Hồi giáo lấy làm tiếc bộ râu của ông quá ngắn và không đủ rậm cho tương xứng với địa vị của ông. Phải chăng vì vậy mà ông chết sớm và chết thảm?

Để râu xồm xoàm của người Hồi giáo như ta thấy ngày nay là do một tập tục có từ lâu đời ở phương Đông. Người Ai-cập (Egyptien), người Babylonien, người Hi-lạp (Grec), người Do thái đều tranh nhau về bộ râu của ai dài, rậm, đẹp. Ở thế kỷ thứ VII, một người Do thái tốt, có tiếng tâm, phải là người có bộ râu đẹp.

Nhà Tiên tri Mohamed để râu là theo tập tục lâu đời của địa phương.

Ngày nay, người Hồi giáo để râu là biểu tượng của Hồi giáo kháng chiến. Có tính bắt buộc. Vì đó là trở về với Allah! Và râu của lãnh tụ ở một số khu vực được nhuộm màu đỏ hoe vì theo sự tin tưởng của những người này thì Mohamed rất thích bộ râu màu đỏ.

Tuy nhiên luật vẫn có ngoại lệ. Thủ lãnh của Mặt trận Hồi giáo võ trang thành lập năm 1991, Ali Belhadj, lại không có râu. Sau này, Ali Belhadj trở thành thần tượng của lực lượng thánh chiến Algérien. Ali Belhadj còn là nhà truyền giáo nổi tiếng ác ôn. Có lẽ vì vậy mà Ali không cần có râu vẫn đủ cho mọi người thấy nam tính và bề thế của mình?


Bộ râu xồm, tư bản của «Mác»

Trong giới đầu não cộng sản, trong những ngày đầu, phần đông đều có râu, với nhiều kiểu khác nhau. Tổ sư Các Mác (Karl Marx) có bộ râu xồm rất đặc biệt, dày đặc. Lê-nin để râu mép. Staline cũng râu mép. Nhưng tới Khrouchtchev lại không có râ . Theo thời gian, tuổi đời cộng sản càng cao, càng ít người lãnh đạo có râu. Không biết có liên hệ nào trong hiện tượng này hay không?


Lúc trẻ, khi cùng với Friedrich Engels viết «Bản Tuyên ngôn Cộng sản», Mác đã có bộ râu rậm rạp nhưng Engels đâu phải chịu thua. Ông cũng là tay râu xồm. Ngoài ra, khi hai người tình cờ gặp nhiều lãnh tụ hay lý thuyết gia tả khuynh khác, tất cả cũng đều có râu và râu đẹp.

Hai ông gặp Pierre -Joseph Proudhon, khuynh tả (người Pháp, ký giả, nhà xã hội học, kinh tế gia, triết gia chánh trị và đặc biệt hơn, là người mở đầu chủ thuyết vô chánh phủ ở Pháp, trí thức lớn duy nhứt thật sự xuất thân từ giới thợ thuyền Pháp) lại cũng là người có râu đẹp, rậm, chăm sóc kỹ. Proudhon vẫn cho rằng đàn bà chẳng may xấu xí chỉ vì không có râu tuy họ rất thông minh và nhạy bén. Khi Bakounine, lãnh tụ Quốc tế lao động, xuất hiện không khỏi làm cho Mác và Engels kinh ngạc vì bộ râu của ông này quá đẹp và quá vĩ đại trong lúc bộ râu của Mác có tiếng là đồ sộ thì nay đã bắt đầu ngã màu thời gian rồi!

Vế sau, Mác từ ngạc nhiên này tới ngạc nhiên khác khi con gái Jenny của ông dẫn về giới thiệu với ông một người Pháp, Charles Longuet, từng tham gia «Paris Công xã», thuộc Đảng Xã hội Pháp (chủ nghĩa), có bộ ria mép, tỉa khéo léo và đầy vẻ trí thức của đất Paris. Liền đó, người con gái thứ hai Laura cặp tay một anh chàng Pháp khác, Paul Lafargue, về chào ông. Lafargue có bộ râu mép kiểu gauloise, rất Tây, dày, rậm, chăm sóc kỷ, nằm gọn trên môi trên, xuống vừa chí miệng, hai bên rũ xuống khóe miệng. Nhưng Lafargue lại mê bộ râu của 2 người bạn, Jules Guesde, người đồng sáng lập «Đảng Thợ thuyền» với ông và Jean Jaurès, người có công tranh đấu cho phe xã hội (chủ nghĩa) Pháp thống nhứt.

Cùng thời, ở Nga, Pierre Kropotkine thông báo một cuộc cách mạng tự do là người có một bộ râu rực rỡ. Nhưng khi tham gia vào cuộc xung đột giữa 2 phe bolcheviks và mensheviks thì râu của ông lại còi đi!

Cha đẻ cộng sản Nga, Gueorgui Plekhanov, để râu hàm đẹp, trong lúc đó Pavel Axelrod, phe mensheviks, thường tự hào có bộ râu xồm không thua nhà văn Léon Tolstoi. Một người cộng sản khác, có tiếng năng nổ trong giới tả khuynh, Julius Martov, có bộ râu không giống ai hết, nó như chiếc khăn quàng cổ màu đỏ hoe. Bạn thân của ông từ thời trẻ với nhau là Vladimir Ilitch Oulianov, sói đầu sớm, có lẽ do bẩm sanh, để bù lại, ông ta để ria mép màu đỏ hung, khá chăm sóc kỹ và người đời chỉ biết tên ông là Lê-nin, người sáng lập Đệ III Quốc tế và nổi tiếng gian ác.  Đồng chí với ông trong biến cố gọi là cách mạng Tháng Mười, Davidovitch Trotski, khác hơn ông vì có mái tóc rậm đen, nhưng ông ấy vẫn cố để mọc ra vài sợi râu dưới cằm.

Các đồng chí Đệ IV của Trotski, Grigori Zinoviev, trái lại không để râu, vì phản kháng truyền thống gia đình Do thái, nhưng Kamenev có râu đẹp. Cả hai đều bị tên hung thần Staline, thuở nhỏ cùng bạn thân với nhau, có tên là Koba sát hại. Tên Staline lúc còn trẻ, trước khi được Lê-nin kết nạp nhờ thành tích du đãng và ăn cướp, để râu rậm rạp theo kiểu băng đảng thảo khấu ở Caucase. Nhưng khi về với Lê-nin, anh chàng cạo mặt sạch sẽ, chỉ chừa bộ ria mép và để công o bế khá tươm tất. Khi hoạt động cho Lê-nin, Staline đánh cướp ngân hàng, làm được một vố to, lập thành tích dâng  cho đảng và nhờ đó, được Lê-nin tin dùng, kế nghiệp Lê-nin. Nắm đảng, Staline chi viện và huấn luyện Mao, lực lượng võ trang của Mao, để đưa cách mạng cộng sản Tàu lên nắm quyền năm 1949. Staline và Mao do cùng bản chất gian ác và cùng cộng sản nên cả hai đã chia nhau giết cả 100 triệu nhơn dân bị họ cai trị.

Tới đây thì râu xồm của người cộng sản cấp lãnh đạo đi vào thoái trào, nhường chỗ cho giới mặt láng, mày râu nhẵn nhụi. Và cũng từ đây, cộng sản từ từ trải qua nhiều diễn tiến quan trọng.

Năm 1953, Staline chết ở Mạc-tư-khoa (Moscou). Ông cai trị độc tài tuyệt đối, không ngần ngại thanh toán nhũng ai có ý chống đối hay phê phán đường lối của ông. Qua tháng 2/1956, Nikita Khrouchtchev đọc báo cáo mật hạ bệ Staline và chủ trương sống chung hòa bình với thế giới tư bản. Tượng Staline lần lượt bị tháo gỡ, chấm dứt chế độ tôn thờ cá nhơn một cách quái gở. Qua năm sau, Hà nội ngã hẳn qua Bắc kinh, dựng lên những vụ án xét lại chống đảng nhằm thanh lọc nội bộ, cũng một thời gieo rắc kinh hoàng trong hàng ngũ đảng  cộng sản Hồ Chí Minh tay sai. Và cũng từ đây, tên lãnh tụ không râu Lê Duẩn âm thầm hạ bệ bác của hắn, biến bác thành một thứ con chi chi, ngoan ngoãn vâng  lời ngay trước Quốc hội khi bác muốn phát biểu mà phải tịt mồm. Bị đàn em hạ sát đất vì bộ râu le que của bác, thứ râu của gian thần trong hát bộ, không đủ sức độ bác.

Và cũng từ đ ây, các cấp lãnh đạo cộng sản, không còn ai có râu nữa, mà đều là thứ «mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao» cả. Và cũng từ đây, cộng sản đã thật sự thay đổi, lấy công an làm sức mạnh bảo vệ chế độ thay «nhơn dân», và lấy tiền thay chủ thuyết cộng sản.

Riêng Castro ở bên kia bờ Đại Tây dương còn giữ bộ râu xồm vì lỡ thề bao giờ cách mạng cộng sản thành công mới cạo râu. Chết mất nhưng cách mạng cộng sản vẫn chưa thành công. Và chẳng bao giờ thành công Nay ở Cuba, dân chúng hàng trăm ngàn rầm rộ xuống đường  biểu tình đòi dẹp bỏ chế độ cộng sản độc tài, thay thế bằng Tự do, Dân chủ thì có sống lại, Castro chắc chắn sẽ không bao giờ cạo râu được!


Nguyễn thị Cỏ May


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.