Hôm nay,  

Nhạc Sĩ Lan Đài & Nỗi Nhớ Xa Xôi

16/07/202119:10:00(Xem: 3165)


blank


blank


blank


Nhạc sĩ Lan Đài và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, cùng trải qua thời kỳ sinh hoạt với nhau từ thời kháng chiến và hai thập niên thời Việt Nam Cộng Hòa. 

Nhạc sĩ Lan Đài tên thật là Nguyễn Kim Đài sinh năm 1926 tại Hội An.  Vào đầu thập niên 1940, nhạc sĩ La Hối thành lập Hội Hiếu Nhạc Faifo (La Philharmonique de Faifo) có nhiều bạn trẻ tại địa phương như Lan Đài, Lê Trọng Nguyễn, Trương Đình Quang, Huỳnh Sỏ, Hoàng Tú Mỹ (nay còn sống ở Hội An)… tham gia sinh hoạt âm nhạc. Nhạc sĩ La Hối (1920-1945), trong những năm 1936-1938 theo học ở Sài Gòn, trau dồi âm nhạc cổ điển Tây phương, trở về Hội An làm Hội Trưởng Hội Hiếu Nhạc, hướng dẫn nhạc lý, sáng tác ca khúc cho các hội viên: (ký âm (solfège), hoà âm (harmonie), và sáng tác (composition).

Trong những năm 1946-47, Lan Đài và Lê Trọng Nguyễn tham gia trong vùng chiến khu Nam Ngãi Bình Phú, hoạt động văn nghệ ở Liên Khu, sau đó bị Việt Minh theo dõi vì nghi ngờ ông thuộc thành phần có hoc, tiểu tư sản đang có ý định “dinh tê” trốn về “thành” như một số văn nghệ sĩ nên bắt ông bỏ tù, giam tại nhà lao Tiên Hội, một trong những nhà lao giam giữ khắc nghiệt nhất thời bấy giờ thuộc vùng Tiên Phước, Quảng Nam. Nhưng may mắn cho ông, ông được “phóng thích” năm 1954 sau khi có hiệp định đình chiến Genève, trở về vùng Quốc Gia. Lê Trọng Nguyễn ghi lại những dòng chia sẻ của ông rất khó khăn và nguy hiểm khi rời vùng chiến khu trốn về Hội An.

Năm 1955, Lan Đài dạy âm nhạc tại trường Trung Học Nguyễn Bỉnh Khiêm, Phan Rang. Năm 1956, dạy âm nhạc tại trường Trung Học Kiểu Mẫu Thủ Đức. Năm 1957 làm việc tại Bộ Thông Tin ở Sài Gòn. Năm 1959 ông phụ trách “Chương Trình Lan Đài”, chương trình chuyên về âm nhạc trên đài truyền hình Sài Gòn. Ca sĩ Diễm Hồng (Vũ Thị Hồng Lê), người bạn đời của ông cùng các ca sĩ ở Sài Gòn góp mặt trong chương trình truyền hình được khán giả ái mộ.

Từ năm 1959 trở về sau Lan Đài mở lớp dạy nhạc ở Sài Gòn, viết các thể loại về âm nhạc. Có thể nói ông là nhạc sĩ, dạy âm nhạc trong hai thập niên nên đã sáng tác nhiều nhất về âm nhạc. Sách của ông được các nhà xuất bản như Xuân Thu, Khai Trí, Văn Hiến hợp đồng ấn hành nên phổ biến rộng rãi ở miền Nam Việt Nam:

Tự học Tây Ban Cầm theo phương pháp cấp tốc: Sơ Cấp, Trung Cấp.

Tự học Tây Ban Cầm (nhạc khiêu vũ, nhạc Jazz)

Tự học Hạ Uy Cầm (Guitare Hawaienne) Hạ Băng Cầm (Banjo Alto)

Tự học Đại Hồ Cầm (Contre Basse)

Nghệ Thuật Độc Tấu Tây Ban Cầm

Tự học Ukulele (viết chung với Lê Trọng Nguyễn)

Tự học Khiêu Vũ

Tự học Khẩu Cầm (Harmonica) (dị chuyển và đồng chuyển) (viết chung với Đằng Vân)

Để Sáng Tác Một Bản Nhạc Phổ Thông

Kỹ Thuật Hòa Aâm

Hòa Điệu Sơ Cấp

Hòa Điệu Tổng Quát

Nhạc Lý Căn Bản

Tự học Tây Ban Cầm Điện, TBC Điện Trầm

Tự Điển Tây Ban Cầm (2000 Thế Bấm)

Tự học Măng Cầm (Mandoline) và Băng Cầm (Banjoline)…

Nhạc sĩ Lan Đài sáng tác nhiều ca khúc và phổ biến rộng rãi: như Chiều Thương Nhớ (Phổ thơ Hoàng Hương Trang, ca khúc nầy trùng tên với ca khúc của Thẩm Oánh), Nuối Tiếc, Đôi Tay Ngọc Nữ, Câu Chuyện Tâm Tình, Quán Chiều, Tìm Về, Nụ Cười Tái Ngộ, Tà Áo Trinh Nguyên, Nói Đi Em, Sao Vẫn Còn Thương, Em Là Tất Cả (Viết chung với Mạnh Phát), Tà Áo Tím (Viết chung với Mạnh Phát, nhạc sĩ Hoàng Nguyên ca khúc trùng tên Tà Áo Tím), Nhạc Ru Tuổi Hồng (Tuyển Tập Nhạc viết chung với Nguyễn Hiền, Anh Việt, Hoàng Nguyên, Lê Trọng Nguyễn), Nhạc Xanh (Tập Nhạc viết chung với Y Vân)…

Nhạc sĩ qua đời tháng 3 năm 1982 tại Long Hương, Bà Rịa. Tháng 3 năm 1983, gia đình Lê Trọng Nguyễn định cư tại Los Angeles, Hoa Kỳ theo diện bảo lãnh (ODP).

Trước năm 1975, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn không sống bằng âm nhạc. Với khả năng chuyên môn nên từ năm 1965 đến năm 1975, làm Giám Đốc các công ty Centra Co., Sealand, nhà máy Dầu Hỏa Cửu Long. Những nhạc phẩm của ông trong khoảng ba thập niên đã tạo nên tên tuổi nhạc sĩ trong nền tân nhạc Việt Nam. Khi Lê Trọng Nguyễn được định cư tại Hoa Kỳ, giấc mơ với âm nhạc được hồi sinh, những tình khúc của Lê Trọng Nguyễn được phổ biến rộng rãi.

Trong khi đó, nhạc sĩ Lan Đài đã sống và đóng góp nhiều ca khúc nổi tiếng và sách về âm nhạc lại sống lặng lẽ tại quê nhà. Sau khi qua đời ít ai nhắc đến tên nhạc sĩ Lan Đài.

Viết những dòng nầy, kèm theo những ca khúc của ông, rất quen thuộc đã được các ca sĩ thành danh ở miền Nam VN trình bày (kèm trong YouTube) để gởi đến quý vị.

Áo Tím Ngày Xưa rất quen thuộc với giới thưởng ngoạn

“Thơ ấu đi vào trong giấc mơ 

Yêu mến xưa tìm lên trang thơ

Lòng vẫn nhớ một mùa thu  xưa

Một mùa thu dệt nhiều mộng mơ

Tôi đã yêu đã thương đã nhớ…”

Ca khúc Áo Tím Ngày Xưa với tiếng hát Thái Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=zIdAx2jO7dc


Với tiếng hát Giao Linh

https://www.youtube.com/watch?v=ICSdrQ_jCNI

Ca khúc Khói Lam Chiều đã một thời rất thịnh hành

“Mỗi lúc hoàng hôn sắp về ngàn lối

Nuối tiếc ngày xanh đã tàn mơ rồi

Bùi ngùi, xao xuyến, thương nhớ xa xôi

Thương về quê hương mến yêu

Có bóng cô em diễm kiều.

… Khói lam chiều lên chơi vơi

Khói lam chiều vương nơi nơi

Khói lam chiều gieo đơn côi

Đưa người tha phương vào trong lãng quên”

Ca khúc Khói Lam Chiều với tiếng hát Phương Dung

https://www.youtube.com/watch?v=W3Q-A9A8Yug


Ca khúc Chiều Tưởng Nhớ phổ thơ Hoàng Hương Trang (ca khúc nầy trùng tên với ca khúc của Thẩm Oánh)

“Chiều đi lặng lẽ

Thương nhớ muôn bề

Khi người yêu đã chết

Nhạc thu chưa thấy về

… Bàn tay đâu tìm không thấy nữa

Bờ môi đâu, mắt đâu, ôi tìm đâu

Dấu chân em xa vời vợi

Nghìn muôn xưa quên lãng rồi”

Ca khúc Chiều Tưởng Nhớ với tiếng hát Lệ Thu:

https://www.youtube.com/watch?v=LI3oPEZGFaM

Với tiếng hát Thanh Lan

https://www.youtube.com/watch?v=F8mIOiJz16Y

Ca khúc Tà Áo Trinh Nguyên

“Một chiều vàng ngát ý thơ 

Vương nắng thu trên làn má

Dịu dàng người hoa thướttha

In bóng duyên trên đường tà.

… Đường đời dù sóng gió 

Mà mong ước không bao giờ nhạt phai

Lòng người thường tiếc nuối 

Một dĩ vãng đã xa rồi”

Ca khúc Tà Áo Trinh Nguyên với tiếng hát Hà Thanh

https://www.youtube.com/watch?v=_iP15Y8BAtA

Ca khúc Tìm Về của Y Vân & Lan Đài cũng rất quen thuộc trong giới mộ điệu âm nhạc

“Đêm vắng anh ơi có buồn lắm không

Về đây cùng tôi cho hết chờ mong

Hết đi đường vắng âm thầm

Hết đi lẻ bóng cô đơn

Hết mang nỗi sầu vấn vương

… Nơi đây có vòng tay chờ đợi

Đang tha thiết mong anh trở lại

Quê hương ấm êm trong tình người

Anh nhớ mau về anh ơi

Ca khúc Tìm Về với tiếng hát Phương Thoa

https://www.youtube.com/watch?v=yZG92gKyZ4k

Ca khúc Quán Chiều

“Hoàng hôn theo nắng tắt cô liêu

Riêng bóng tôi ngồi trong quán chiều

Đường xưa đâu có khác bao nhiêu

Nhưng người xưa đã xa tôi nhiều

… Ai ơi, mộng đời bao, hoa đẹp tươi

Vì đời bao trái ngang buồn vui

Nhớ chăng những lời nói trong tiếng cười

Mà mến thương người”

Ca khúc Quán Chiều với tiếng hát Hà Thanh

https://lyric.tkaraoke.com/16129/quan_chieu.html

Không hiểu vì lý do gì mà nhạc sĩ Lan Đài sáng tác nhiều ca khúc mang nỗi buồn man mác xa xôi trong khi nghề nghiệp và tình yêu với cuộc sống cũng là niềm ước mơ của nhiều người.

Trong  thời gian qua, tôi đã viết nhiều về thơ văn nơi phố cổ Hội An, càng về già càng nhớ nơi chốn với bao nhiêu kỷ niệm của thuở học trò. Hai đêm qua, tôi nghe lại những ca khúc của nhạc sĩ Lan Đài và viết những dòng nhạc về ông với niềm thương cảm.

Little Saigon, July 16, 2021

Vương Trùng Dương



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Không thể chối cãi, trong đầm không gì đẹp bằng sen. Đúng hơn nữa, trong đầm không gì thơm hơn sen. Nhưng vì sao sen lại mọc trong đầm bùn? Vì sao sen không mọc sánh vai cùng Cẩm Chướng, Mẫu Đơn, Hồng Nhung, Anh Đào, Thiên Điểu, Oải Hương, Hướng Dương, vân vân trong những vườn quyền quý cao sang, những nơi chưng bày lộng lẫy? Vì sao sen lại chọn ngâm mình trong nước hôi tanh? Vì sao trong tất cả loại sen, tôi lại quý sen hồng, trong khi đa số yêu sen trắng? Sen và bùn là một lý thuyết chính trị cần thiết cho Việt Nam hiện nay. Hoa sen phải mọc từ bùn, trong bùn. Không thể mọc ở những nơi không có bùn. Vì sao hoa sạch thơm phải mọc và sống từ nơi dơ thúi? Rồi sen phải vượt lên khỏi mặt nước mới nở được hoa đẹp, hoa thơm, nhưng vẫn cần có bùn để tồn tại. Một quá trình hiện thực, một ẩn dụ để tư duy.
Bộ phim Face Off 7: One Wish như đem lại một tín hiệu tốt lành rằng trong một xã hội Việt Nam ngày nay đang có quá nhiều điều nhiễu nhương, những nét đẹp truyền thống của văn hóa Việt Nam vẫn còn có chỗ để tồn tại…
Hồi nhỏ, tôi thường nghe cha tôi đọc hai câu ca dao này: “Còn cha gót đỏ như son, đến khi cha chết gót con đen sì.” Lúc ấy tôi chừng năm bảy tuổi, nên nghe rồi thuộc lòng mà không hiểu hết ý nghĩa, chỉ biết hời hợt là nếu cha chết thì mình sẽ khổ lắm! Nhưng ngay cả khổ ra sao thì cũng chẳng hình dung được. Câu ca dao nói trên cho thấy truyền thống ngày xưa, người cha đóng vai trò then chốt trong gia đình. Ông vừa là trụ cột kinh tế để nuôi gia đình, vừa là tấm gương đức hạnh để cho con cái noi theo. Đặc biệt là với truyền thống phụ hệ con cái mang họ cha, nên việc “nối dõi tông đường” đặt lên vai người con trai, hay người đàn ông. Đó có thể là yếu tố cấu thành quan niệm “trọng nam khinh nữ” ngày xưa tại các nước theo phụ hệ như Việt Nam, Trung Hoa, v.v…
Tháng 3/2022, Bến Bạch Đằng Saigon bị đổi tên thành “Ga Tàu Thủy Bạch Đằng”. Sự kiện này đã dẫn đến những tranh luận trong dân gian chung quanh đề tài: Ngôn ngữ Hà Nội (ngôn ngữ miền Bắc) đang làm mờ dần sắc thái đặc biệt của ngôn ngữ miền Nam Việt Nam...
Tháng Năm là tháng vinh danh những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho đất nước Hoa Kỳ mà trong đó tất nhiên có người Mỹ gốc Việt. Những đóng góp của người Mỹ gốc Á Châu và các đảo Thái Bình Dương cho Hoa Kỳ bao gồm rất nhiều lãnh vực, từ kinh tế, chính trị đến văn học nghệ thuật, v.v… Nhưng nơi đây chỉ xin đề cập một cách khái quát những đóng góp trong lãnh vực văn học của người Mỹ gốc Việt. Bài viết này cũng tự giới hạn phạm vi chỉ để nói đến các tác phẩm văn học viết bằng tiếng Anh của người Mỹ gốc Việt như là những đóng góp nổi bật vào dòng chính văn học của nước Mỹ. Điều này không hề là sự phủ nhận đối với những đóng góp không kém phần quan trọng trong lãnh vực văn học của Hoa Kỳ qua hàng trăm tác phẩm văn học được viết bằng tiếng Việt trong suốt gần năm mươi năm qua.
Điều tôi muốn nhắn nhủ với các thế hệ nam nữ thanh-niên trẻ là chúng ta phải sống làm sao cho đáng sống kiếp người. Nói theo ngôn ngữ của Lý Đông A, con người phải sống đủ 3 mặt là: Sống - Còn - Nối tiến hóa. Gói gọn là sống Nhân Chủ, dựa vào Nhân Bản, rồi Nhân Chính và Dân Chủ...
Đêm nhạc có sự hiện diện đặc biệt của phu nhân nhạc sĩ Cung Tiến là bà Josee Cung và con trai Raphael Cung, cùng các anh chị em của Ông và Bà. Bích Liên đã gởi lời cảm ơn gia đình cố nhạc sĩ đã cho phép và khuyến khích chị thực hiện CD Vết Chim Bay. Chị cho biết thực hiện CD trong gần hai năm trời. Trong CD này, người nghe sẽ lại được thấy một Bích Liên cầu toàn trong âm nhạc Cung Tiến, giống như chị đã từng làm với CD Tạ Ơn Đời để tưởng nhớ nhạc sĩ Phạm Duy. Từng nốt nhạc, từng lời ca, từng câu hát đều được nâng niu, trân trọng. Chị nói CD này như là một nén hương thắp lên để tưởng nhớ người nhạc sĩ. Là một người luôn hướng đến sự toàn bích của âm nhạc, ở một thế giới xa xôi nào đó, chắc hẳn nhạc sĩ Cung Tiến sẽ cảm nhận được tấm lòng tri kỷ.
VĂN HÓA được hiểu một cách đơn giản là NHỮNG GÌ CÒN LẠI. Còn lại ở đây không có nghĩa là còn lại trong phút chốc, trong một giai đoạn ngắn mà là còn lại với ý nghĩa là tồn tại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lich sử rất lâu dài cả trăm năm, cả ngàn năm mặc cho vật đổi sao dời...
Người viết xin nêu ra một số chữ và nghĩa trong tiếng Việt mà khi dùng đã gây ra biết bao lỗi lầm:
Mấy ngày nay hình ảnh vị sư tên Minh Tuệ lan tràn trên các kênh Youtube. Vào các trang mạng gõ chữ Minh Tuệ thì hiện ra nhiều Video cho thấy đông đảo người dân cùng đi bộ trên đường với Sư; khi Sư ngồi nghỉ chân trong nghĩa trang hay gốc cây thì hàng trăm người bao quanh; có người lễ bái Sư bày tỏ lòng kính trọng đối với một vị tăng tu theo Hạnh Đầu Đà của Phật Giáo...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.