Hôm nay,  

Dối Trá Trong Chính Trị Của Mỹ

16/06/202109:55:00(Xem: 2431)

13/6/1961: Kỷ niệm 50 năm ngày phổ biến “Tài liệu Ngũ Giác Đài” về chiến tranh Việt Nam

Deutschlandfunk

Norbert Seitz
Đỗ Kim Thêm dịch

Chính Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ cũng đã sưu tầm tài liệu của Ngũ Giác Đài về việc công chúng Mỹ đã bị lừa dối trong chiến tranh Việt Nam. Cho đến nay, việc xuất bản các tài liệu này vẫn còn hậu quả về niềm tin của người Mỹ đối với chính trị.

 “Tên tôi là Daniel Ellsberg. Năm 1969, tôi làm việc tại Tập đoàn Rand với công việc nghiên cứu mà sau này được biết đến là Tài liệu Ngũ Giác Đài (Pentagon Papers), với 7.000 trang tối mật mà Hoa Kỳ đưa ra các quyết định về Việt Nam từ năm 1961 đến 1968."

Daniel Ellsberg speaks to reporters outside the courthouse in Los Angeles where he was on trial in 1973 for leaking classified documents and faced a potential 115-year sentence.
Daniel Ellsberg với các phóng viên trước phiên toà tại Los Angeles năm 1973, @ Photograph: AP

 

Từ năm 1969, Daniel Ellsberg đã được tuyển dụng bởi Tập đoàn Rand, Tổ chức nghiên cứu thân chính phủ. Cùng với các đồng nghiệp, Ellsberg đã làm việc tổng hợp cho một bộ sưu tập tối mật. Trọng tâm vấn đề là chính sách thay đổi về Việt Nam của chính phủ Hoa Kỳ trong hơn ba thập kỷ. Từ tài liệu này mà một bộ sưu tập tài liệu đồ sộ của Bộ Quốc Phòng, được gọi là Pentagon Papers gồm có 47 tập với 7.000 trang, trong đó 3.000 trang mô tả về các sự kiện và 4.000 trang tài liệu đính kèm, băng ghi âm của những người liên quan trực tiếp cùng với các văn bản ghi nhớ, điện tín và lệnh bằng văn bản của họ. Tài liệu được phân tích bởi 36 tác giả, ký chú viên ẩn danh của chính phủ, các công chức, nhân viên giàu kinh nghiệm thuộc Bộ Ngoại giao và Quốc phòng, các sĩ quan và cả trí thức. 

Daniel Ellsberg đã thay đổi tâm hồn mình sau chuyến đi thăm Việt Nam đầy kinh hoàng, ban đầu là một người ủng hộ trung thành cho chính sách chiến tranh của Hoa Kỳ, ông thành một nhà chống đối cực đoan. Cuối cùng, ông đã quyết định thực hiện bất tuân dân sự để khai sáng về những gì mà ông xem là công chúng Mỹ bị lừa dối đáng xấu hổ.

“Đến cuối năm 1969, tôi bắt đầu sao chép 7.000 trang tài liệu tối mật và đưa từng phần một cho Ủy ban Đối ngoại Thượng viện. Khi Lào và Campuchia cũng bị xâm lược, tôi đã đưa các tài liệu cho nhật báo New York Times vào năm 1971.”   


Nhật báo New York Times là một phương tiện truyền thông quan trọng, vài tuần sau khi chiến tranh bùng nổ vào tháng 11 năm 1964, nhật báo đã đưa ra lời cảnh báo rất sớm để chống lại chính sách mới về Việt Nam của Tổng thống Johnson: 


"Lại có những thay đổi đang được tiến hành ở Việt Nam. Nếu bây giờ một chính sách được thực hiện, nếu cuộc chiến tranh ở châu Á biến thành cuộc chiến tranh của Mỹ, thì đất nước chúng ta có quyền biết đến có những gì được cho là đã thay đổi cơ bản trong những tháng gần đây, một chính sách mới phải được biện minh.”

Nhưng cả nước không biết được tin gì. Một bản Báo cáo do Robert McNamara, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, ủy quyền, chỉ dành cho nội bộ cơ quan sử dụng, hoặc chính xác hơn, đó là để tuyên truyền trong nước và lừa dối Quốc hội. Tuy nhiên, Báo cáo không thuộc phạm vi của Đạo luật Gián điệp, vì nó không chứa bất kỳ một bí mật quân sự nào. McNamara dường như không nhận ra điều đó. 


Torben Lütjen, Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Kiel (Đức), coi đây là một đánh giá sai lầm gây nhiều hậu quả tai hại của vị cựu Bộ trưởng Quốc phòng: 


"McNamara tin rằng vì bằng cách nào đó người ta có thể xác định cách hoạch định chính sách. Đó là mục đích của các tài liệu này, nó không dành cho công chúng, nhưng bằng cách nào đó cho trong nội bộ. Về sau khi nhìn lại, người ta phải nói rằng, nếu người ta đã biết cuộc chiến diễn ra như thế nào và phải tiên đoán các diễn biến thì tất cả mọi chuyện rồi cũng sẽ đến với công chúng bằng cách nào đó, có lẽ đó không phải là một ý tưởng khôn ngoan để giao cho giới chuyên môn này được thực hiện.”

Dối trá về chiến tranh Việt Nam bùng nổ

Ngay khi bắt đầu công việc tại Ngũ Giác Đài, Daniel Ellsberg biết được rằng tuyên bố của Lyndon B. Johnson, người kế nhiệm cho Kennedy, về sự bùng nổ của chiến tranh Việt Nam chỉ là một lời nói dối: Không có cuộc tấn công nào của các tàu tuần tra Bắc Việt vào chiến hạm Mỹ ở Biển Đông gần Vịnh Bắc Bộ.   

Tài liệu của Ngũ Giác Đài cũng ghi nhận, trong nhiều bối cảnh khác, hầu như là toàn bộ chính sách về Việt Nam dựa trên sự tự lừa dối và lừa dối. Với các tuyên bố được dàn dựng có chủ ý, công chúng đã bị lừa dối, ví dụ như ngụy tạo về số lượng các binh sĩ Mỹ tham chiến, các nạn nhân bị tổn thương hoặc mức chính xác gây hậu quả cho đối phương. Ban đầu việc “khoảng trống về mức độ khả tín” dể nhận ra, do đó, về sau nó trở thành một vực thẳm khổng lồ. Bernd Greiner, Giám đốc Sáng lập  "Kolleg Kalter Krieg" ở Berlin và là tác giả viết về tiểu sử của Henry Kissinger xác nhận: 

"Các tài liệu Ngũ Giác Đài là một mối liên kết trong toàn bộ chuỗi hành động, các biến cố, nó đã làm cho niềm tin nơi chính phủ, tổng thống và đôi khi nơi hệ thống chính trị và các định chế bị lung lay nghiêm trọng. Rõ ràng là bắt đầu với tài liệu Ngũ Giác Đài về Watergate, về tất cả các vụ bê bối khác liên quan đến chiến tranh Việt Nam, nhiều chính phủ kể từ thời Harry Truman đã nói dối công chúng về các vấn đề cơ bản trong chính sách an ninh và đối ngoại.


Mặt khác, tài liệu Ngũ Giác Đài cũng trình bày táo bạo rằng thực ra tất cả các vị tổng thống đều nhận ra rất sớm về tình hình chiến lược mà Hoa Kỳ đã sa lầy là không lối thoát. Họ đã sớm mất tinh thần lạc quan khi cho rằng có thể giành chiến thắng theo một cách nào đó và dù phải chịu trong những nghịch cảnh nhất định, họ tin rằng sẽ rất khó thoát thân mà không mất thể diện, khi cuộc chiến leo thang," Torben Lütjen nói. 

Nhưng làm thế nào Đông Nam Á, với những gì Henry Kissinger luôn nói, một "cường quốc đứng vào hàng thứ tư nhỏ bé" như Việt Nam trở thành khu vực định mệnh của Mỹ? 

Bernd Greiner, chuyên gia về Mỹ, cho là: 

“Bởi vì Hoa Kỳ, trong sự tự tôn của đế quốc, có ý kiến rằng, họ có thể thực thi quan niệm của riêng mình ở đó về trật tự chính trị chống lại ý muốn rõ ràng của đa số dân chúng. Thứ hai, bởi vì họ quan niệm rằng họ có thể giành chiến thắng trong một cuộc chiến tranh du kích với một lực lượng quy ước, tức là Quân đội Mỹ, hoạt động theo một logic hoàn toàn khác. Và trong cả hai điều kiện, hoàn toàn rõ ràng là nỗ lực này phải kết thúc trong thảm họa. Tuy nhiên, người ta thấy chỉ đúng sau 15 năm, vấn đề mới trở thành thảm họa và rút ra những hậu quả tương xứng.

Bài tiểu luận mở đường của Hannah Arendts

Vào thời điểm đó, nhà triết học chính trị Hannah Arendt cũng phân tích sâu rộng rằng lợi ích của Hoa Kỳ trong một chiến thắng quân sự không thể hướng tới việc thắng lợi về lãnh thổ hoặc lợi thế về kinh tế, thậm chí viện trợ hoặc hoàn thành một lời cam kết cho một "người bạn" ở miền Nam Việt Nam không theo cộng sản. Và "kẻ thù" Cộng sản Bắc Việt thì sao? Theo ý của Arendt, "họ không có ý muốn cũng như sức mạnh để là kẻ thù của Hoa Kỳ". 

Trong bài tiểu luận "Sự thật và dối trá trong chính trị", bà xác định rằng tài liệu Ngũ Giác Đài không phải là về việc phổ biến các lỗi lầm, ảo tưởng hoặc tính toán sai lạc, mà là về che giấu không đúng sự thật và dối trá có ý thức. Cái gọi là "các người giải quyết vấn đề" thuộc các cơ quan nghiên cứu đã chiếm ưu thế trong các khảo hướng "về các vấn đề" của chính sách đối ngoại khi ho dựa theo các lý thuyết trò chơi và phân tích hệ thống. 

Hannah Arendt nói: "Cứu cánh không phải là quyền lực hay quyền lợi. Mục tiêu mà mọi người đều nghĩ đến là các hình ảnh tự tại. Khi mọi thứ chỉ ra sự thất bại, mục tiêu không còn là để tránh thất bại nhục nhã, mà là tìm cách và phương tiện để tránh thừa nhận và 'giử thể diện'. Nuôi dưỡng hình ảnh như là vấn đề chính trị thế giới, không phải là chuyện chinh phục thế giới, mà là chiến thắng trong cuộc chiến về quảng cáo cho ý kiến của thế giới."

Tài liệu Ngũ Giác Đài cũng nói rõ các chính sách Mỹ đã bỏ qua các báo cáo của CIA, cơ quan thông thạo tin tình báo của họ như thế nào. Ví dụ, ở Đông Nam Á, người ta đã xem thường lý thuyết Domino về ảnh hưởng lan toả trong khu vực của chủ nghĩa cộng sản đối với các quốc gia láng giềng, cho là đã lỗi thời. Tương tự như vậy, sự đối kháng mới nổi giữa Trung Quốc và Liên Xô đã bị che đậy với giả định lệch lạc về chủ nghĩa cộng sản thế giới còn như trong "nguyên khối" và do đó là đánh giá sai. Mối quan hệ phức tạp giữa các nước láng giềng Đông Nam Á và  Trung Quốc, cách đơn giản là bỏ qua. 

Những dối trá và che đậy trong chính trị của Napoleon Bonaparte cho đến quá khứ gần đây với Trump và Putin là chủ đề  nghiên cứu mới được công bố của Helmut König, nhà sử học ở Aachen (Đức). Tiếp theo sau bài tiểu luận nổi tiếng của Hannah Arendt, König lưu ý rằng những lừa dối được ghi lại trong tài liệu Ngũ Giác Đài không còn nằm trong bảng kê thông thường của một "chiến lược hợp lý", thường thì chiến tranh kết thúc bằng cách chiến thắng nhanh chóng. Nhưng trong chiến tranh Việt Nam, mọi thứ diễn ra khác đi.  



"Ở đó, chúng ta có hiện tượng là các kẻ gian dối xây dựng các bóng ma trong thời gian dài, họ có liên quan đến thực tế của sự thật, quan hệ quyền lực liên quan đến Trung Quốc và chủ nghĩa cộng sản và vấn đề mức độ ảnh hưởng ngoại lai đứng đằng sau cuộc nổi dậy ở Việt Nam, nói cách khác, họ chưa nhận thức phù hợp đến thực tế này. Và điều gây khó chịu là, các giới chức tình báo biết điều này và họ cũng chuyển tiếp thông tin liên quan cho các giới tình báo khác. Trong một thế giới đã  riêng của những người giải quyết vấn đề và tạo ra các hình ảnh, các tác nhân này đã thiên vị đến độ là họ không còn nhận thức ra được thực tế nữa."

Nỗi lo sợ của Nixon trước các tài liệu mật  tiếp theo 

Sau khi New York Times xuất bản được ba phần trong tài liệu Ngũ Giác Đài, ngày 15 tháng 6 năm 1971, chính quyền Nixon đã thành công trong việc ngăn chặn việc in thêm theo lệnh của tòa án. Tuy nhiên, Tòa án Tối cao đã quyết định vào ngày 30 tháng 6 năm 1971 với tỷ lệ số phiếu là 6:3, cho phép công bố thêm các tài liệu. Nhưng tại sao vụ việc này lại gây ấn tượng mạnh cho Tổng thống Nixon, mặc dù tài liệu này chủ yếu đề cập đến chính sách sai lầm về Việt Nam của hai người tiền nhiệm là Kennedy và Johnson? 

Torben Lütjen cho biết thêm: "Đối với Nixon, sẽ có lựa chọn chiến lược, điều này thực sự cho thấy là các chính phủ khác đã thất bại như thế nào. Chúng ta đang cải thiện. Nhưng tôi nghĩ bởi vì thực ra sự hoang tưởng của Nixon và chiến dịch chống lại giới truyền thông đã bắt đầu rất sớm. Đó là khung cảnh mà Nixon đã nhìn thấy tất cả theo cách này, tất nhiên cũng chống lại cá nhân Ellsberg như một kẻ tiết lộ bí mật. 

Những tài liệu Ngũ Giác Đài chỉ liên quan đến chính quyền Kennedy và Johnson. Và một số cố vấn của Nixon - trước hết là vị Tham mưu trưởng của Nixon, Haldeman - đã nói: 'Chúng ta có thể ngủ yên, những người khác lo âu, chúng ta đang ở một vị thế tốt đẹp. Đây là cuộc chiến của họ và không phải là của chúng ta.'" 

Nhưng Nixon lại có một nỗi sợ hãi khác.  "Ông tin rằng những người đặc biệt như là Daniel Ellsberg, người đã rò rỉ các tài liệu Ngũ Giác Đài giao cho New York Times, tin rằng ông vẫn có thể sở hữu các tài liệu khác buộc tội chính quyền Nixon. Và nỗi ám ảnh cố định của Nixon gia tăng, đó là Ellsberg hoặc các đồng sự có thể có tài liệu về cách Nixon cố gắng ngăn chặn các cuộc đàm phán hòa bình với Bắc Việt trong chiến dịch tranh cử năm 1968, và cách ông muốn sử dụng để gây áp lực buộc Tổng thống Johnson không đạt được thỏa thuận ngừng bắn trước cuộc bầu cử tháng 11 năm 1968." 

Hơn nữa, Nixon sợ rằng một cái gì đó khác sẽ được đưa ra ánh sáng, cụ thể là vụ ném bom bí mật tại Campuchia. Ông đã ra lệnh ném bom, nhưng che giấu báo chí, và trong một số trường hợp, ngay trong nội các của chính mình. 

Bernd Greiner cho biết: "Vì vậy, Nixon cũng tin rằng Daniel Ellsberg và những người khác cũng có thể công bố tài liệu này tại một số thời điểm trong tương lai gần. Bất cứ ai đưa ra tài liệu Ngũ Giác Đài cho công chúng cũng có khả năng thực hiện được bước thứ hai. Điều đó sẽ khiến Nixon dễ bị tổn thương." 

Đó là lý do tại sao Nixon dựa vào những người được gọi là "thợ sửa ống nước", họ phải đảm bảo chận các lỗ hổng trong bộ máy chính phủ để bảo mật và không để bất kỳ tài liệu nào khác thoát ra được thế giới bên ngoài. Khi đội đặc công can thiệp bí mật này được tuyển dụng, những người trộm trong văn phòng bầu cử của Đảng Dân chủ, được cho là người kích hoạt cho vụ Watergate. 

Richard Nixon cảm thấy mình đã đạt đến mức không thoái lui được, như về sau các băng ghi âm của Toà Bạch Ốc công bố có ghi chép: 

"Tôi không quan tâm vấn đề được thực hiện như thế nào, nhưng hãy làm những gì cần phải làm để lấp cho các chổ hở rò rỉ. Nixon ngăn chặn việc tiếp tục công bố các tài liệu trái phép. Tôi không muốn nghe tại sao việc đó là không thể. Chính phủ không thể tồn tại, không thể hoạt động nếu tất cả mỗi người muốn làm và có thể tiết lộ tài liệu, như họ có thể nghĩ ra. Tôi không muốn bào chữa, tôi muốn kết quả. Tôi muốn nó được thực hiện bằng bất cứ giá nào."

Nixon và các cộng sự viên trước đó đã vi phạm nghiêm trọng luật pháp. Torben Lütjen nói:

"Vào thời điểm đó, người ta cố tìm cách thâm nhập vào văn phòng bác sĩ tâm lý trị liệu của Daniel Ellsberg để lấy hồ sơ bịnh lý, để có thể chống phá Ellsberg trong công luận. Nhưng tôi cũng cho rằng tất cả sự vô đạo đức của chính phủ và cả vụ Watergate có thể đã xảy ra mà không cần có vụ tài liệu Ngũ Giác Đài." 

Bất chấp hậu quả tai hại của tài liệu Ngũ Giác Đài, chiến tranh Việt Nam đã có thể kéo dài thêm một năm rưỡi nữa cho đến khi cái gọi là "Hiệp định chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình ở Việt Nam" được ký kết tại Paris vào ngày 27 tháng 1 năm 1973.  

Cuối cùng, Bắc Việt đã quyết định chiến đấu bằng cách quân sự có lợi cho họ, không phải chính quyền Nixon với các vụ đánh bom lan rộng tàn khốc và các cuộc tấn công tội phạm trong nước. Hoàn toàn bị ràng buộc trong vụ Watergate, bị Quốc hội kết án và chạy thoát trước khi có thủ tục truất phế, Richard Milhous Nixon, hay như người ta còn gọi ông là "Tricky Dick”, đã từ chức Tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ vào ngày 8 tháng 8 năm 1974. 

"Chào buổi tối. Tôi sẽ từ chức Tổng thống Hoa Kỳ vào ngày mai." 

Các vụ bê bối về tài liệu Ngũ Giác Đài và sự thâm nhập vào Watergate đã gây ra hậu quả đáng kể cho mối quan hệ trong tương lai giữa nhà nước, chính trị và truyền thông. Họ đã gây ra một cuộc khủng hoảng uy tín mà từ đó cho đến ngày nay đất nước chưa thực sự phục hồi. 

Bernd Greiner, nhà viết tiểu sử Kissinger nói: "Kể từ đó, niềm tin vào các định chế đã rơi tự do. trong tất cả các cuộc thăm dò dư luận, tổ chức duy nhất vẫn được xếp loại đáng được tin cậy cao độ là quân đội. Sự ngờ vực này không còn dừng lại ở Tòa án Tối cao."

Một chính phủ trong một nền dân chủ tự do lừa dối cử tri và quốc hội một cách có hệ thống, đó không còn là một cảm giác thời sự. Chuyện đáng tiếc là, trong thời đại đầy tin tức giả mạo, điều này có vẻ gần như thuộc về tình trạng bình thường. Jessica Gienow-Hecht, một nhà sử học tại Viện Nghiên cứu Bắc Mỹ John F. Kennedy tại Freie Universität Berlin, đồng ý:

Chúng ta cũng đã quen với nhiều thứ ở Hoa Kỳ, các vấn đề rùng ben, gian lận bầu cử, Watergate, Iran-Contra, Monika Lewinsky, v.v. Năm 1971, cơ quan hành pháp, tức là cơ quan của tổng thống, vẫn được coi là một cơ quan liêm chính, có nghĩa là tổng thống là những người về mặt đạo đức trung thực hơn người Mỹ trung bình và do đó cũng là người truyền cảm hứng cho dân chúng.” 

Trong thế kỷ 20, Phủ Tổng thống Hoa Kỳ đã rơi vào tình trạng căng thẳng. Các kỳ vọng đạo đức của công chúng là rất cao, nhưng mặt khác, dường như những yêu cầu này không thể đáp ứng một cách thẳng thắn về mặt đạo đức mà không có tìm cách lừa dối quốc hội và dân chúng.   

"Theo ý nghĩa này, ngay cả trong năm 1971 không phải là một bước ngoặt, một chuyển điểm. Nhưng dưới áp lực của một tình huống dù sao cũng đã nóng, đó là điểm mà sự căng thẳng này trở nên khá rõ ràng. Và nó trắng trợn đến nỗi mà sự đồng thuận trong Phủ Tổng thống gần như tan vỡ. Vì vậy, tài liệu Ngũ Giác Đài trong năm 1971, việc công bố cùng với vụ bê bối Watergate, thực sự làm thu hẹp và biểu tượng của chúng không còn có thể nào hơn thế được. Bởi vì nó đánh dấu thời điểm mà công chúng Mỹ nhận ra rằng tổng thống của họ không phải là người tốt cũng không phải là người vô tội, cũng không phải là một dân tộc vô tội.      
   

Nhưng tài liệu Ngũ Giác Đài đã chạm tới một khía cạnh có hậu quả quan trọng khác. Daniel Ellsberg, người được tha bổng vào tháng 5 năm 1973, đã dẫn đến câu chuyện điều tra về việc những người trong cuộc xé rào tố cáo, nó đã dẫn đến những tiết lộ giật gân hơn nữa về vụ WikiLeaks của Julian Assange và các ấn phẩm của Edward Snowden. Những người "tiết lộ tin rò rĩ" không còn được coi là kẻ phản quốc, mà là những người khai sáng đáng nghênh đón. Hành vi can đảm của Daniel Ellsberg trong các việc này là mẫu mực. 

"Ellsberg là một nhà báo điều tra rất tài năng và can đảm, hình ảnh của một phóng viên khách quan và không thân chính quyền. Việc làm này gây ấn tượng lâu dài và truyền nhiều cảm hứng. Ngày nay, có nhiều giải thưởng dành cho thể loại báo chí điều tra ở Mỹ tôn vinh ông. Đây là về sự tự tin của một Đệ Tứ Quyền trong nhà nước, một hình ảnh nghề nghiệp có liên quan nhiều đến công việc trinh thám, khai sáng và thậm chí với một cơ quan giám sát.


Ellsberg today.
Ellsberg,hình mới nhất @ Alberto E Rodríguez/Getty Images



Bài liên quan: 


Tài liệu mật của Ngũ Giác Đài về Chiến tranh Việt Nam


Công luận và truyền thông phản chiến Mỹ làm miền Nam sụp đổ?

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
09/01/202600:00:00
Người Việt mình, nói cho gọn, là dân có rất nhiều ý kiến. Chuyện gì cũng bàn — bóng đá, chính trị, kinh tế, đến cả… triết học. Ấy vậy mà khi đụng đến nghệ thuật, nhiều người lại im lặng lạ kỳ: nghe người ta khen thì gật, thấy đông người thích thì “ừ, chắc hay đó”, sao cũng được, miễn không phải động não. Một chương trình ca nhạc làm ẩu, ánh sáng lòe loẹt, tiết mục chắp vá — vẫn được tung hô “hoành tráng”. Một không gian trang trí lủng củng, rối mắt, thiếu tiết điệu, thiếu khoảng lặng để mắt nghỉ — vẫn được tán tụng “rực rỡ”. Một cuốn sách lỏng lẻo, thiếu nội dung, không bố cục, chữ nghĩa vênh váo, vẫn được gắn nhãn “sản phẩm văn hóa”. Ca sĩ giọng yếu, phát âm ngọng nghịu, chỉ cần ngân chút “mùi mẫn” là thành “có hồn”.
09/01/202600:00:00
Trong buổi họp báo tại Mar-a-Lago ngày 3 tháng 1 năm 2026, Trump nói rất thẳng. Mục tiêu của Hoa Kỳ tại Venezuela không phải là điều gì mờ ám hay úp mở. Trái lại, ông nêu ra ít nhất bốn mục tiêu, rõ ràng đến mức không thể hiểu lầm: giành thêm quyền tiếp cận dầu hỏa Venezuela; chặn đường ma túy; cắt dòng di dân; và đưa Venezuela trở lại con đường dân chủ. Vấn đề không nằm ở chỗ thiếu minh bạch. Vấn đề nằm ở chỗ bốn mục tiêu ấy không thể cùng tồn tại. Mỗi mục tiêu, nếu xét đến cùng, đều mâu thuẫn với ít nhất một mục tiêu khác. Có mục tiêu này thì phải hy sinh mục tiêu kia. Và khi sự hy sinh ấy xảy ra, ưu tiên thật sự của Washington sẽ lộ diện.
08/01/202611:41:00
Hôm qua, thứ Tư, bà Renee Nicole Good, 37 tuổi, người mẹ ba con ở Minneapolis, lãnh ba phát đạn từ tay đặc vụ ICE – chết ngay giữa đường. Chính quyền Trump qua bà Tricia McLaughlin – thư ký báo chí Bộ Nội An – nhả ngay kịch bản: "Bà ta là 'kẻ bạo loạn hung hãn', dùng xe cán lính, lính bắn tự vệ!" Bà Kristi Noem – bộ trưởng Nội An – vội phong cho nạn nhân danh hiệu "khủng bố nội địa", như thể bà này là du kích ISIS cầm lựu đạn xông vào Nhà Trắng. Chẳng chứng cớ chi hết, chỉ có miệng lưỡi chính trị nhả khói cho vừa kịch bản. Tổng thống Trump xem video một cái là phán: "Bà ta hành động kinh tởm, không phải 'cố tông' mà tông thật!" Ủa, video rõ mồn một: xe bà lùi nhẹ rẽ phải chạy trốn, lính ICE lành lặn bước đi sau đó. Cảnh sát trưởng Minneapolis Brian O’Hara xác nhận: "Chỉ bà ấy bị trọng thương!" Nhưng nhằm nhò gì, Trump-Noem cần kịch bản phải thế thì nó phải thế!
06/01/202619:47:00
Hôm nay, một dòng chữ xuất hiện nhiều trên mạng xã hội: “Jan 06 – Never Forget.” Nếu Donald Trump bị ám ảnh bởi cuộc tranh cử thất bại năm 2020 như thế nào thì vết thương của Đồi Capitol về một ngày bạo loạn cũng hằn sâu như thế. Khác biệt ở chỗ, rồi sẽ có một ngày, khi ra đi, Trump không thể nhớ mình đã từng thua ông Joe Biden. Nhưng vết sẹo của cuộc bạo loạn và hành động của người khởi xướng, vĩnh viễn đi vào lịch sử.
05/01/202618:16:00
Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị giáo hoàng người Mỹ đầu tiên trong lịch sử, đã công khai phản đối chiến dịch quân sự của Trump. Trong buổi đọc kinh vào Chủ Nhật tại Quảng Trường Thánh Phêrô, ngài cho biết ông đang theo dõi sát sao diễn biến tình hình ở Venezuela và kêu gọi tôn trọng chủ quyền và nhân quyền của quốc gia này. Một vị giáo hoàng người Mỹ chỉ trích một tổng thống Mỹ vì vi phạm chủ quyền của một quốc gia khác là một biến cố lịch sử. Tổng thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres bày tỏ "quan ngại sâu sắc" về các cuộc tấn công của Mỹ, người phát ngôn của ông dẫn lời ông nói rằng điều này có thể "tạo ra một tiền lệ nguy hiểm". Tiếng nói chỉ trích mạnh mẽ nhất ở Âu Châu là từ Ngoại Trưởng Pháp, Jean-Noël Barrot. Ông đã tuyên bố chiến dịch bắt giữ Maduro "vi phạm nguyên tắc không sử dụng vũ lực, nguyên tắc nền tảng của luật pháp quốc tế".
02/01/202609:30:00
Tổng thống Donald Trump trong năm đầu của nhiệm kỳ thứ hai tập trung vào những chính sách nhập cư, quốc phòng, thương mại và chính sách đối nội, bao gồm tăng cường kiểm soát biên giới, áp đặt thuế quan mới, tạm dừng tuyển dụng nhân viên liên bang, cùng với những biến đổi lớn trong các cơ quan liên bang như Bộ Giáo dục. Ông cũng không quên tìm cách trả thù những nhân vật đối lập.
02/01/202600:00:00
Thế giới sau mười năm như một bản đồ chằng chịt vết thương. Số cuộc chiến đang diễn ra tăng nhanh, nhiều nơi đẫm máu, nhiều nơi âm ỉ chỉ chờ bùng nổ. Trong số đó, bảy điểm nóng sau đây đáng được theo dõi đầu năm 2026.
31/12/202514:02:00
Những ngày cuối năm, dán mắt vào màn hình giữa tiếng ồn ào của mạng xã hội, một câu hỏi tuy cũ nhưng vẫn luẩn quẩn trong đầu người làm báo: vì sao chúng ta vẫn viết?
26/12/202510:43:00
Từ 61% đến 74% dân Mỹ nghĩ rằng Trump đã đưa nước Mỹ đi sai hướng.
26/12/202500:00:00
Có những người sanh ra trong chiến tranh, lớn lên theo với chiến tranh và vẫn theo dõi âm thầm mọi biến động trong chiến tranh. Không thoát khỏi mọi ám ảnh thì âm thầm sống với ám ảnh…ta xin tạm gọi đó là một sự hỗn loạn ổn định. Và sự hỗn loạn ổn định đó ở rải rác mọi nơi… như một nỗi đau kinh niên, trầm kha, dai dẳng ở mọi lãnh vực của con người. Nga phát động chiến dịch xâm lăng lãnh thổ Ukraine từ năm 2022 mà Putin gọi là một chiến sự đặc biệt, đó là một cuộc chiến tiêu hao, đúng ra là muốn đánh mau, thắng gọn, nhưng rồi đã ba bốn năm qua, cuộc chiến đi vào một đường hầm hun hút!
“Đây là quan điểm của người viết, không nhất thiết là quan điểm của Việt Báo.”


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.