Hôm nay,  

Nhà thơ Khế Iêm: Vần Điệu và Tự Do

13/03/202000:00:00(Xem: 4042)
28a
Hình minh họa: HS Duy Thanh


Làm mới ngòi bút luôn luôn là nỗi ám ảnh lớn cho người chọn nghiệp văn. Nhưng có lẽ nỗi ám ảnh ấy đè nặng lên vai người làm thơ nhiều hơn người viết văn xuôi. Lý do vì ngôi nhà thi ca của những người đi trước đã được xây dựng từ nhiều nghìn năm bởi không biết bao nhiêu tâm hồn thơ trác tuyệt, làm sao người làm thơ thời nay tìm ra kẽ hở, thấy được khiếm khuyết của tiền nhân, làm sao tìm ra khoảng đất chưa ai khai phá hòng len vào “làm mới” thơ của mình? Đến như thi tiên Lý Bạch mà còn bị Kim Thánh Thán phê là giẵm vào bước chân Thôi Hiệu!

    Nhưng sự thật là thế hệ nào cũng có người đòi làm mới thi ca và chỉ riêng công trình của họ – chưa nói đến chuyện họ thành công hay thất bại – đã là điều đáng cho chúng ta khâm phục. Họ luôn luôn can đảm lên tiếng đòi thổi vào thi ca luồng gió mới. Họ cảm thấy vô cùng bức bối khi phải sống trong cùng một căn phòng chật hẹp, tù túng, với những món đồ cũ kỹ, mốc meo. Họ cất Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du và thơ của nhiều cụ ông cụ bà khác lên án thờ, lâu lâu đem ra khấn vái, nhưng họ nghẹt thở với cái cũ bên dưới xung quanh họ. Họ thường to miệng, quá trớn trong thái độ, ngôn ngữ, hành vi, và chúng ta hiểu tại sao. Họ là những tâm hồn nổi loạn. Họ thách đố các thế lực bảo thủ, cho dù các thế lực này là một nhà nước độc đảng, độc quyền hay một tập thể người đọc đầu óc trĩu nặng quán tính, khư khư bám giữ các giá trị hủ lậu, cũ mèm. Cuộc tranh luận gay gắt giữa họ và các thế lực bảo thủ hay xảy ra, và thường dẫn đến những diễn ngôn phi-thơ, chẳng dính dáng gì đến thơ mà chỉ là những luận điệu hết sức vớ vẩn, cãi lấy được, từ cả hai phía. Tuy vậy, con đường họ đi chông gai lắm, và cái giá họ phải trả thường là rất đắt. (Nguyễn Vỹ dưới trận mưa gậy tàn độc tới tấp của Hoài Thanh. Còn Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Đặng Đình Hưng và nhiều người khác thì bị giam hãm trong bóng tối oan khiên cả gần đời người.) Chúng ta chịu ơn họ, bởi nhờ họ chúng ta không bị chết ngạt giữa một vườn hoa toàn cúc vạn thọ. (Xin cám ơn cụ Phan Khôi)…

    Đoạn văn trên trích từ cuốn tạp bút Chỉ là đồ chơi, tác giả là nhà thơ Trịnh Y Thư xuất bản năm 2019. Ở hải ngoại vào những năm cuối của thế kỷ XX, trong tinh thần và nỗ lực muốn tìm một “cái mới, cái khác” cho thi ca Việt, nhà thơ Khế Iêm và nhiều bằng hữu văn nghệ của ông đã có những cố gắng đáng kể trong việc gầy dựng một trường thơ mới gọi là Thơ Tân Hình thức. Cách đây không lâu, ông xuất bản một tập tiểu luận đồ sộ viết rất công phu nhan đề Vũ điệu không vần để trình bày quan điểm của nhóm về thể loại thơ tương đối mới mẻ này. Nhân dịp này, Việt Báo hân hạnh được ông tiếp trong một buổi nói chuyện thân tình để giúp chúng ta có cơ hội tìm hiểu thêm một hình thái nghệ thuật trong cuộc sống đương đại vốn nhiều rối rắm và phức tạp này.

 

Việt Báo (VB): Trước hết xin anh định nghĩa một cách ngắn gọn thế nào là thơ Tân Hình thức. Những thuộc tính của thơ Tân Hình thức là gì?

 

Khế Iêm (KI): Tân Hình thức (New Formalism), thật ra, “form” ở đây có nghĩa là thể thơ, tôi dịch nghe cho mới một chút. Cuối thập niên 1980s, một số nhà thơ trẻ Mỹ quay trở lại, hồi phục thơ thể luật, sau một thế kỷ phát triển thơ tự do. Và những người chống lại, mỉa mai cho là họ trở về với những thể thơ cũ. “Tân” ở đây có nghĩa là trở về (retro) truyền thống.

 

VB: Thơ Tân Hình thức có đi chệch ra ngoài lề những gì được công nhận trong cảm quan và mỹ học truyền thống không? Và so với thơ Hiện đại của thế kỷ thứ 20 thì con đường nó đi là con đường gì?

 

KI: Nếu thơ Tân Hình thức Mỹ quay trở về với thơ thể luật truyền thống, thì thơ Tân Hình thức Việt dùng để gọi một thể thơ mới, thơ không vần. Thơ thể luật Mỹ gồm 2 loại: có vần và không vần, trong khi thơ Việt, ngoài thơ tự do, thì chỉ có loại thơ vần điệu. Bây giờ, qua nghiên cứu, tôi thấy thơ Việt có thể tiếp nhận thêm một thể thơ không vần.

    Thơ không vần (blank verse) tiếng Anh – gọi là thể thơ, thật ra chỉ là một dòng thơ, điển hình là dòng iambic pentameter, 10 âm tiết (không nhấn, nhấn lặp lại năm lần), đều đặn hết dòng này qua dòng khác.Thơ không vần được thơ Anh tiếp nhận từ thơ Ý vào giữa thế kỷ thứ 16, nổi bật với kịch của William Shakespeare, sau đó lan ra khắp châu Âu, trừ Pháp. Vì tiếng Pháp là ngôn ngữ đa âm nhưng không trọng âm như tiếng Anh, Đức và Ý.Và tiếng Việt, với bằng trắc, cũng gần như trọng âm, dù không mạnh bằng. Trong khi thơ Tân Hình thức Việt, không quay về với thơ vần điệu mà kết hợp giữa vần điệu và tự do, làm thành một thể thơ không vần, bổ túc cho thể thơ có vần.

 

VB: Theo anh, nhìn từ quan điểm của thơ Tân Hình thức thì tương quan giữa đời sống và thi ca là gì?

 

KI: Thơ vần điệu tiền chiến và thơ tự do thập niên 1960s, cũng như thơ Mỹ, tự do và thể luật nửa sau thế kỷ 19, chủ về ngôn ngữ, xa lìa đời sống. Nhưng thơ Tân Hình thức Mỹ sau thập niên 1990s, thay đổi thể luật với tính truyện và ngôn ngữ đời thường, quay lại với cuộc sống, thơ Tân Hình thức Việt cũng vậy. Thơ Tân Hình thức Việt tiếp nhận thơ Tân Hình thức Mỹ, với kỹ thuật “vắt dòng,” chuyển những thể thơ Việt thời Thơ Mới như 5 chữ, 7 chữ, lục bát… từ thơ có vần thành thơ không vần, thay đổi cả ngôn ngữ và cách làm thơ, với các yếu tố: vắt dòng, lặp lại, tính truyện ngôn ngữ thông thường.

 

VB: Câu hỏi này, có lần chúng tôi đặt ra với nhà thơ Nguyễn Thị Khánh Minh, đó là: Thiếu thực phẩm, thiếu tự do, người ta có thể chết. Nhưng thiếu thơ, không ai chết cả. Sự thật là hiếm ai quan tâm đến thơ. Nhưng theo anh thì thơ đã giúp gì cho đời sống? Hay nói cách khác, đời sống có cần thơ không? Nhất là thơ Tân Hình thức?

 

KI: Thiếu thực phẩm, thiếu tự do, có thể chết, nhưng khi đời sống no đủ, người ra mới quan tâm tới nhu cầu về tinh thần, nhân rộng ra là đời sống văn hóa. Mà thơ là bộ môn đỉnh cao của văn hóa, bao trùm mọi bộ môn, so với âm nhạc, kịch nghệ, điện ảnh, v.v… Người ta có thể ít quan tâm tới thơ? Thật ra, thơ không hẳn chỉ có chữ viết, mà thơ bao trùm mọi ngóc ngách đời sống, chỗ nào không có thơ? Một người công nhân, sau một ngày làm việc mệt mỏi, thưởng thức một tách trà, những thú vui, chẳng phải họ đang ở trong trạng thái thơ đó sao? Nếu không có đời sống thì làm gì có thơ, và nếu không có thơ thì làm sao đời sống thăng hoa? Thơ Tân Hình thức, dĩ nhiên, đó là thơ về đời sống, chứ không là loại thơ chữ, như vần điệu và tự do.

 

VB: Nếu thơ là thơ của một cuộc sống đời thường, của thế giới tâm tưởng, của hoài niệm và ước mơ, thì tại sao chúng ta phải chọn thơ Tân Hình thức. Tại sao không làm thơ như người ta vẫn làm xưa nay? Có cái gì ở thơ Tân Hình thức mà các loại thơ khác không có hay thiếu kém khả năng phô diễn và biểu hiện?

 

KI: Thơ vần điệu, tự do, dòng thơ nào cũng có cái hay của nó, không ai có thể phủ nhận. Nhưng mỗi thời đại cần có cách thể hiện riêng. Sau Thơ Mới thập niên 1930-40s, bước qua thời đại kỹ nghệ, đến thập niên 1950s, thơ Việt bắt đầu tiếp nhận thơ Siêu thực Pháp, hình thành dòng thơ tự do. Nhưng sau thập niên 1990s, thế giới bước vào thời đại tin học, Internet, thơ lại chuyển một một thời kỳ khác.

    Thơ từ phạm trù ngôn ngữ, bước qua nhu cầu chuyển tải thông tin, đời sống, và dĩ nhiên cách diễn đạt cần ý tưởng liền lạcnhịp điệu, thì người đọc mới tiếp nhận, và đọc. Nhưng đó là những yếu tố đòi hỏi khả năng sáng tạo, và Tân Hình thức là một dòng thơ khó, so với thơ vần điệu và tự do vốn là những dòng thơ dễ làm. Lý do, vì trong thời đại Facebook, YouTube... thơ phải đạt tới nghệ thuật cao mới lôi cuốn được người đọc. Mà muốn có nghệ thuật cao, phải có một thể thơ để hướng dẫn người làm thơ.

 

VB: Trong cuốn tiểu luận Vũ điệu không vần, anh viết: “Thơ không còn tùy thuộc vào nỗ lực cá nhân mà là những vận động rộng lớn của cả một thế hệ, như một trào lưu, xác định tiếng nói và bản chất của một nền văn hóa ở một thời điểm đặc biệt của lịch sử thi ca…” Tham vọng này có to tát quá không? Vì cho đến nay thơ Tân Hình thức vẫn chỉ là một thể nghiệm, cho dù là một thể nghiệm cần thiết trong quá trình sáng tạo.

 

KI: Đó không phải là tham vọng. Đó là sự kiện tùy thuộc vào sự lớn mạnh của một nền văn hóa. Mà một nền văn hóa như ở Việt Nam hiện nay, chắc hẳn phải cần tới cả thế kỷ.

 

VB: Trong quá trình phát triển và lớn mạnh của thơ Tân Hình thức, theo anh thì những quán tính xã hội đã tác động như thế nào? Trở ngại lớn nhất là gì?

 

KI: Trước khi về Việt Nam, tôi có viết đâu đó rằng thơ Tân Hình thức Việt muốn phát triển cần tới khoảng một thế kỷ. Vì tôi căn cứ theo sự phát triển của thể thơ không vần tiếng Anh. Bắt đầu từ giữa thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 17. Đến thế kỷ thứ 18 mới bắt đầu phát triển, và đỉnh cao là phong trào Lãng mạn vào nửa sau thế kỷ thứ 19 cho tới bây giờ.

    Nhưng vào thời đại Internet, tôi không ngờ thơ Tân Hình thức Việt được biết đến rộng rãi đến thế, với cuộc ra mắt sách Vũ điệu không vần ngày 15/12/2019 tại Cà phê Thứ Bảy, Quận 3, T/P HCM; cuộc tọa đàm tại Đại học Nhân văn T/P HCM, ngày 16/12/2019; sau đó là buổi giao lưu với giới khoa bảng tại hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, vào ngày 21/12/2019. Cũng cần nhắc lại, vào ngày 29/10/2014, tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Khoa Viết văn - Báo chí phối hợp với tạp chí Sông Hương đã  tổ chức một buổi tọa đàm về thơ Tân Hình thức. Chứng tỏ, dòng thơ này đã được chấp nhận trong giới khoa bảng.

    Nhưng tại sao thơ Tân Hình thức chưa phát triển được ra ngoài xã hội? Trở ngại lớn nhất là xã hội Việt Nam chưa có tự do ngôn luận. Báo chí và những cơ quan truyền thông đều do nhà nước quản lý. Thơ Tân Hình thức không thể gửi đăng nơi các tạp chí văn học, vậy thì làm sao dòng thơ này có thể phát triển? Mặt khác, nền giáo dục đã tạo nên con người có những cái nhìn một chiều – không giống như giáo dục phương Tây, mục đích hướng học sinh tìm kiếm, khám phá trong khoa học kỹ nghệ, và sáng tạo trong nghệ thuật – nên đa số đều dị ứng và xa lìa cái mới. Và mặc dù xã hội có đổi khác, thì cũng cần phải có thời gian cả thế kỷ, con người mới có thể làm quen với cuộc sống mới. Tôi nghĩ, khi nào có sự thay đổi thể chế, và trong thời đại Internet, nhà nước từ từ cũng phải nương theo ý dân, tự do ngôn luận sẽ từ từ mở rộng. Lúc đó, thơ Tân Hình thức mới có tương lai. Thật sự, tôi không hề quan tâm tới chuyện đó, vì thơ tự nó, không có mục đích gì cả.

VB: Theo anh, làm thi sĩ có phải hy sinh đời sống bình thường như người ta vẫn nghĩ không? Làm thế nào để cân bằng nội tâm với cuộc sống đời thường, không cần phải hy sinh bên nào, mà vẫn cho ra đời những tác phẩm nghệ thuật sáng giá?

 

KI: Đó là quan điểm thời trước. Bây giờ thì khác, người làm thơ cũng giống như mọi người bình thường, phải làm việc kiếm sống, càng vất vả, càng làm giàu thêm cảm xúc và cảm thông với sự khó khăn của cuộc sống. Người làm thơ có trầm luân trong khổ đau, mới nhận biết lẽ vô thường và vô ngã trong kiếp nhân sinh. Vì nếu trải nghiệm và vượt qua mọi hoàn cảnh, từ đáy cùng của xã hội, sẽ nói lên được phong cách và đặc tính của một đất nước và con người. Sau đó là tiếp nhận vốn kiến thức từ mọi nguồn, sách vở và thực tại, để có thể trở thành nhà thơ đích thực. Thời nào cũng vậy, có thể có nhiều người làm thơ, nhưng nhà thơ thì hiếm.

 

VB: Xin cảm ơn nhà thơ Khế Iêm. Chúc anh thành công trên con đường mà anh chọn lựa.

 

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Văn xuôi tốt là cửa sổ trong suốt. Từ ngữ phải vô hình, để người đọc nhìn thẳng vào hiện thực mà văn xuôi tiết lộ. Vẻ đẹp có đó, nhưng nó chỉ làm cho cửa sổ trong sáng hơn, không làm cho người đọc nhìn vào chính tấm kính. Nghi lễ của thánh lễ không phải là đức tin; nó sắp đặt các đam mê. Sự hài hòa của từ ngữ, vẻ đẹp của chúng, sự cân bằng của các cụm từ, sắp đặt các đam mê của người đọc mà anh ta không biết và sắp xếp chúng như thánh lễ, như âm nhạc, như khiêu vũ.
Tam canh ngồi niệm Phật Quan Âm | Trước mắt gương treo vừa đúng tầm | Sáng rực bên này sông Bất Nhị | Tám phương chợt hiểu Phật là Tâm
Bạn nghe một người nói, nhưng không lên tiếng, bạn suy nghĩ nhưng không bộc lộ. Bạn nén sự giận dữ xuống, bạn bôi xóa sự khinh bạc, bạn chờ cho những lời ca tụng giả dối lắng xuống, bạn giữ lại lời khen ngợi đối với một người xứng đáng thêm một ngày nữa, để nó được nung chín trong lòng.
Cầm cuốn sách mới trong tay, tôi lại nhớ có lần ở quán cafe, Trịnh Y Thư băn khoăn, không biết chúng mình in sách vào thời này có phải là chuyện vô ích không, có phải là quá mơ mộng không. Với đa số, nhất là thế hệ trẻ hơn thì có lẽ là cái gật đầu, nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi yêu quý cái vô ích, cái mơ mộng ấy. Tôi xin chia sẻ với quý vị cảm xúc rất riêng của tôi về sách. Nếu không có sách làm sao ta có thể cầm được trên tay cái vật thể nhỏ bé này, một thành quả nhìn bắng mắt cầm bằng tay, chứa đựng trong đó những con chữ đồng hành cùng những phút giây cảm hứng. Không có sách làm sao tôi có thể cảm nhận được trọn vẹn cái sức nặng của hạnh phúc hữu hình trên trang giấy với những dòng chữ ký tặng này? Và khi đọc sách, nghe được tiếng sột soạt khi lật trang giấy, ngửi được mùi giấy mới và cả mùi hương của sáng tạo. Một khi không còn ai in sách nữa thì những tủ đựng sách đẹp đẽ sẽ là món đồ cổ chứng nhân một thời kỳ sách huy hoàng. Và nếu không có sách thì làm sao chúng có được nhữn
Một truyện ngắn kinh điển của văn hào André Maurois, qua bản dịch của nhà văn Thân Trọng Sơn.
Không phải ngẫu nhiên mà Viết Về Nước Mỹ được nhà thơ Nguyên Sa gọi là “Lịch Sử Ngàn Người Viết.” Mà nếu tính cho đến ngày hôm nay, con số “ngàn” ấy chắc đã lên tới chục ngàn, trăm ngàn. Viết Về Nước Mỹ năm nay là năm thứ 25.
Trong không gian tĩnh lặng của một buổi sớm mùa thu tại thủ phủ Sacramento. Trời đã se lạnh, gió mùa vừa sang và những cơn mưa cũng đang bắt đầu nặng hạt, con chắp tay hướng về phương trời xa, nơi pháp thân Thầy vẫn tỏa rạng giữa hư vô. Bao nhiêu lời muốn nói, rồi bỗng hóa thành im lặng, vì làm sao dùng được lời phàm để nói hết công đức, trí tuệ và từ bi của một bậc Thạc đức như Thầy, người mà bốn chúng gọi là bậc minh sư, bậc long tượng Phật Giáo Việt Nam – Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ – người đã hiến trọn đời mình cho đạo pháp, dân tộc và nhân loại.
Khi nói tới những dòng thơ không bao giờ chết, nơi đây chúng ta chỉ muốn nói rằng có những dòng chữ sẽ vẫn được lưu giữ trong ký ức một dân tộc, bất kể là những trận mưa bom, đạn, mìn, đại bác không ngừng bắn vào họ. Và ngay cả khi những tập thơ, các trang giấy có bị đốt ra tro, những dòng thơ đó sẽ vẫn được lưu truyền từ đời này sang đời kia của một dân tộc, nếu họ còn sống sót. Chúng ta may mắn sống trong thời đại của điện thoại thông minh và Internet, nên được nhìn thấy những hình ảnh, đoạn phim, được nghe những tiếng kêu đau đớn từ dưới những đống gạch vụ, và được đọc những đoạn thơ ngắn được gửi ra rất vội từ những người sống sót sau các trận thảm sát. Thế giới này đầy những trận mưa tội ác, từ thảm sát Ukraine tới gạch vụn Gaza...
Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.