Hôm nay,  

Trở Về Đảo Guam 44 Năm Sau

08/10/201900:00:00(Xem: 4268)
BuiVanPhu_20191002_TroVeDaoGuam44NamSau_H01_TSHenry
Thượng sĩ Hải quân Henry, bên trái, từng đón tiếp người Việt tị nạn đến Guam năm 1975 và cựu Phó Đề đốc Frank Thorp hướng dẫn đoàn người Mỹ gốc Việt thăm những nơi từng là trại tị nạn (Ảnh: Dân Sinh Media)
BuiVanPhu_20191002_TroVeDaoGuam44NamSau_H02_VuongTheTuan
Cựu Thiếu tá Hải Quân Vương Thế Tuấn trong buổi chiếu phim tài liệu về chuyến trở về Guam tại San Jose hôm 21/9/2019 (Ảnh: Bùi Văn Phú)
BuiVanPhu_20191002_TroVeDaoGuam44NamSau_H03_PhaiDoanViet
Phái đoàn người Mỹ gốc Việt tại tượng đài Lone Sailor ở Guam hôm 30/4/2019. Đứng bên bìa phải là Phó Đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn (Ảnh: Vương Thế Tuấn)
BuiVanPhu_20191002_TroVeDaoGuam44NamSau_H04_ChanTroiMoi
Báo Chân Trời Mới phát hành trong trại tị nạn ở Guam, số đầu tiên ngày 2/5/1975 (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 Một tượng đài Lone Sailor – Người Thuỷ thủ Cô đơn – đã được đặt ở công viên Ricardo J. Bordallo Governor's Complex, Hagatna trên đảo Guam. Công trình này được thực hiện qua sự đóng góp của cộng đồng người Mỹ gốc Việt để ghi nhớ những giúp đỡ mà người lính hải quân Hoa Kỳ đã dành cho dân Việt tị nạn đến đảo vào tháng Tư 1975.

Khi biến cố 30/4/1975 xảy đến, với sự đầu hàng của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, 130 nghìn người Việt được di tản bằng máy bay và tầu bè các loại ra khỏi Việt Nam. Trong số đó, 110 nghìn được đưa vào Guam qua “Chiến dịch Đời sống Mới” (Operation of New Life) của chính phủ Hoa Kỳ để làm thủ tục nhập cư trước khi được chuyển vào các trại tị nạn trong nội địa tại California, Arkansas, Florida và Pennsylvania chờ được bảo trợ định cư.

Đến cuối tháng 10/1975 thì người Việt tị nạn cuối cùng rời trại đi định cư ở nhiều tiểu bang, đông nhất là ở California, Washington, Texas, Virginia, Louisiana để từ đó hình thành những cộng đồng người Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ.

Thời gian qua mau. Bốn mươi bốn năm sau mới có một phái đoàn người Việt trở lại Guam, đúng vào dịp 30/4 vừa qua, trong chuyến thăm tượng đài Lone Sailor vừa được dựng trên đảo.

Hai năm trước dự án xây tượng đài này ra đời. Cô Phạm Thanh Nga, một người ủng hộ dự án từ những ngày đầu, trong một lần trả lời phỏng vấn hồi đầu năm 2018 cho biết Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn là người có ý tưởng xây tượng đài Lone Sailor ở Guam để nhớ đến những thủy thủ đã giúp đỡ người tị nạn Việt hơn bốn mươi năm trước, trong đó có Đại tá Huấn đến Guam lúc ông mới 14 tuổi vào năm 1975.

Đại tá Huấn, vừa chính thức được lên chức Phó Đề đốc Hải quân từ ngày 1/10/2019, là người con duy nhất sống sót trong biến cố Tết Mậu Thân khi một đặc công Việt Cộng giết cả gia đình ông gồm bố là Trung tá Thiết giáp Nguyễn Tuấn, mẹ, bà nội và 5 anh em.

Trong một dịp gặp CEO của U.S. Navy Memorial Foundation (www.navymemorial.org), Đại tá Huấn ngỏ ý muốn xây dựng tượng đài ở Guam và đề nghị của ông được chấp thuận. Từ đó đã có những buổi gây quĩ xây dựng tượng đài.

Đóng góp tiên khởi cho dự án có các mạnh thường quân như ông bà Roger Quan, bà Phạm Thanh Nga mỗi người 25 nghìn đôla. Nhiều hoạt động gây quỹ trong cộng đồng người Việt đã được tổ chức ở California với sự tham dự của cựu Phó Đề đốc Frank Thorp là CEO của U.S. Navy Memorial.

Cuối năm 2018 tượng Lone Sailor được dựng ở Guam, trong khuôn viên dinh thống đốc. Mới chỉ có bức tượng, còn toàn cảnh công viên sẽ được hoàn tất với phần đặt những băng ghế, những viên gạch ghi tên các mạnh thường quân đã đóng góp tài chánh xây dựng tượng đài.

Cuối tháng 9 vừa qua Dân Sinh Media và cơ quan IRCC ở San Jose đã tổ chức chiếu phim tài liệu về chuyến đi Guam của phái đoàn người Mỹ gốc Việt ra thăm tượng đài. Trên ba trăm người tham dự buổi chiếu phim xen kẽ với những tiết mục văn nghệ phụ diễn. Một số người đã từng sống ở Guam cũng đã lên kể lại trải nghiệm trong thời gian tạm trú trên đảo.

Phái đoàn người Việt đến Guam thăm tượng đài, được sự hướng dẫn của cựu Phó Đề đốc Frank Thorp, gồm mười người, đa số đi từ California. Có những người đã đến Guam năm 1975 như Phó Đề đốc Nguyễn Từ Huấn, cựu Thiếu tá Hải quân Vương Thế Tuấn, cựu Đại úy Hải quân HQ-1 Phạm Tiến Cương và vợ từ tiểu bang Rhode Island, ông Nguyễn Văn Sâm là cựu sinh viên Đại học Sài Gòn; và những người chưa từng ở Guam như bà Phạm Thanh Nga, bà Tuyết từ Texas, ông Lê Đình Bì là giám đốc Truyền hình VietToday, ông Phạm Phú Nam là giám đốc Dân Sinh Media và vợ cùng con trai.

Phỏng vấn ông Phạm Phú Nam, người làm phim tài liệu về chuyến đi, ông nói điều nhớ nhất là đoàn gặp được Thượng sĩ Hải quân tên Henry, ông đã từng làm việc giúp người tị nạn vào năm 1975. Ông Henry hỏi có ai mang số an sinh xã hội bắt đầu với 586, đó là ba con số đầu trong chuỗi số an sinh xã hội dành cho người tị nạn Việt Nam đến Guam năm 1975. Thượng sĩ Henry rất vui và phấn khởi khi gặp lại người Việt, nhất là những ai đã ở Guam.

Tuy nhiên ông Nam có nhận xét là dù đã có đông người Việt từng ở Guam, nhưng chưa mấy người có dịp trở lại đây và cũng quên cám ơn người dân Guam. Lý do, theo ông, có lẽ vì đường xá xa xôi. Từ California đi Hawaii trước, mất gần 5 tiếng đồng hồ, rồi từ Hawaii đến Guam thêm 7 tiếng nữa và giá vé không rẻ, đi vào tháng Tư mà 1700 đôla cho một vé đi và về.

Ông Nam nói: “Đến được đây là cho mình cơ hội cám ơn chính quyền và người dân Guam đã giúp đỡ người tị nạn vào năm 1975. Mình phải nhớ là ngày xưa đảo là lãnh địa tự trị, họ có quyền từ chối nhận mình. Chính phủ Hoa Kỳ cũng không làm gì được nếu họ không nhận. Chính người dân Guam đã cứu giúp dân mình.”

Qua chuyến đi một tuần, phái đoàn người Việt đã được cựu Phó Đề đốc Frank Thorp đưa đi thăm những nơi từng là trại tị nạn, từ Tent City Orote Point, Asan Beach nay chỉ còn là bãi cỏ cho đến căn cứ không quân Andersen AFB vẫn còn hoạt động.

Nhìn lại chuyến đi, ông Nam chia sẻ: “Điều tôi học hỏi được là chính mình đã đến tận nơi để mình có cơ hội kể lại cho mọi người biết về lịch sử người tị nạn Việt Nam khởi đầu từ nơi đây. Người mình đói rách, dơ dáy và đã được những thủy thủ, những người lính Thuỷ quân Lục chiến Mỹ đón, nâng đỡ mà họ không có bất cứ hành động hay cử chỉ nào coi thường người mình.”

Với ông Phạm Phú Nam và gia đình, đây là chuyến đi Guam lần đầu tiên.

Còn đối với cựu Thiếu tá Hải quân Vương Thế Tuấn, nguyên hạm trưởng đi di tản từ Côn Sơn vào ngày 30/4/1975 thì đây là chuyến trở về Guam lần thứ ba của ông.

Gặp ông trong buổi chiếu phim, hỏi chuyện và được nghe ông kể: “Năm 1970, lúc đó là trung úy hải quân, làm sĩ quan đệ tam, tôi đến Guam để được huấn luyện và nhận chiến hạm do Hải quân Hoa Kỳ bàn giao cho Hải quân Việt Nam Cộng hoà. Phiá Việt Nam có Đề đốc Lâm Ngươn Tánh đại diện. Sau khi nhận chiến hạm về, tôi lập gia đình. Lúc đó cuộc đời tôi coi như thăng hoa nhất.”

Cuối tháng Tư 1975 ông Tuấn là thiếu tá hạm trưởng của chiến hạm HQ-229 đang công tác ngoài khơi Côn Sơn. Không có vợ con ở bên, ông đã cho tàu quay về Sài Gòn nhưng nửa đường thấy thuyền bè đang kéo nhau đi hết nên ông theo đoàn chiến hạm Hải quân Việt Nam Cộng hoà đi Subic Bay, Philippines. Sau đó ông được đưa bằng thương thuyền do chính phủ Mỹ thuê bao, đến Guam ngày 13/5/1975.

Không vợ con, nên ông xin hồi hương, như 1600 người đã trở về trên con tàu Việt Nam Thương Tín vào tháng 10/1975, được mệnh danh là “Con tầu định mệnh”.

Về đến Việt Nam, Thiếu tá Vương Thế Tuấn và mọi người trên tầu bị đưa vào trại học tập cải tạo. Sau 6 năm, ông được thả, rồi vượt biển đến Hồng Kông và được định cư tại Mỹ từ năm 1982.

Hỏi cảm nhận của ông trong những lần khác nhau đến Guam, ông Tuấn cho biết:

“Năm 1970 là trung úy, trẻ măng, đến Guam nhận lãnh chiến hạm thì thật là vui vẻ. Sau chuyến đi, về nhà làm đám cưới, binh nghiệp và cuộc đời đang nở hoa.”

“Năm 1975 là thiếu tá hạm trưởng, vợ con thất lạc, tôi đến Guam với tâm trạng não nùng. Lúc đó chưa có ý định trở về ngay, nhưng rồi người tị nạn dần dần được đưa vào Mỹ. Những người không vợ con cùng hoàn cảnh nằm chung lều với nhau, nhiều khi không muốn ra xếp hàng ăn nữa. Đến tháng 8, tháng 9 cũng không có tin vợ con đi lọt, tôi quyết định xin về. Hầu hết những người xin trở về là vì vợ con hay cha mẹ kẹt lại.”

Trở về trên con tàu Việt Nam Thương Tín, cựu Thiếu tá Tuấn được thuyền trưởng là cựu Trung tá Hải quân Trần Đình Trụ phân công tác làm “chief navigator” cho con tàu. Khi hỏi quyết định quay về có là điều đáng tiếc, ông Tuấn nói với giọng đầy xúc động:

“Nhìn lại chuyến trở về và giờ được kết quả như vầy là điều tôi thích thú vô cùng. Vì đời mình đã trải nghiệm qua những lúc cao nhất và thấp nhất mà mình vượt qua được để trở lại đất nước này. Bởi vậy tôi yêu quí đất nước này hơn ai hết. Đến được Guam rồi, mình đòi về, quấy rầy chương trình tị nạn của người ta. Chuyện mình muốn về là chuyện riêng tư mà làm họ đã tốn gần một triệu đôla để trang bị cho con tầu đầy đủ để đưa người trở về. Đó là tính nhân đạo của người Mỹ.”

Được trở lại Guam lần nữa, được đứng trước tượng đài Lone Sailor bên bờ biển ông Tuấn có cảm nhận:

“Đó là chỗ đẹp nhất. Nó nằm trong khu complex của những toà nhà chính phủ, văn phòng thống đốc, phó thống đốc, tất cả các ban ngành đều nằm trong đó. Tượng đứng sát bên bãi biển Asan, nhìn ra biển. Đây là vị trí đắc địa nhất, phong thuỷ rất tốt. Đến nay có tất cả 16 tượng Lone Sailor đặt ở nhiều nơi trên nước Mỹ, nhưng đặt ở ngoài nội địa Mỹ thì tượng ở Guam là tượng dành để ghi nhớ làn sóng người Việt tị nạn đầu tiên.”

“Ngay từ khi biết có dự án dựng tượng ở Guam, tôi nhất quyết là phải đi. Tôi sung sướng vô cùng vì tôi đã tìm lại dĩ vãng xưa. Kỳ này tôi đi với tâm trạng peaceful, bây giờ 75 tuổi rồi, được về lại nơi đó thì hạnh phúc lắm.”

Tượng đài tại Guam do tổ chức U.S. Navy Memorial Foundation thực hiện và đã chính thức khánh thành vào tháng 12 năm 2018.

Buổi lễ giới thiệu tượng đài Lone Sailor và kỷ niệm 44 năm người Việt tị nạn đến Guam được tổ chức vào đúng ngày 30/4/2019 ngay tại Dinh Thống đốc, với sự hiện diện của Thống đốc Đảo Guam Lourdes A. Leon Guerrero, các vị dân cử Guam, Phó Đề đốc Shoshana Chatfields là Tư lệnh Hải quân Hoa Kỳ ở Quần đảo Mariana, Phó Đề Đốc hồi hưu Frank Thorp, Đại tá Hải quân Hoa Kỳ Nguyễn Từ Huấn, nhiều quân nhân Hải quân và Không quân, 15 người Việt hiện là cư dân của đảo và 10 vị khách người Mỹ gốc Việt đến từ nhiều tiểu bang trong nội điạ Hoa Kỳ.

Năm 1975 đã có hai nghìn người chọn Guam định cư, nay chỉ còn 200 sinh sống tại đây cùng với 160 nghìn cư dân hải đảo. Trong đó có bác sĩ Nguyễn Văn Hoà, nguyên Trung tá Y sĩ Không quân Hoa Kỳ cũng là người từng đến Guam 44 năm trước. Ông được quý mến vì luôn giúp đỡ người thiếu thốn. Tuy ít người Việt, ở đây cũng có hơn chục nhà hàng ăn Việt và mấy tiệm làm đẹp móng tay do người Việt làm chủ.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.