Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trang Sử Việt: Nguyễn An Ninh

09/05/201700:01:00(Xem: 5896)
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của mỗi nhân vật. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt. Trang Sử Việt đăng trên Vietbao Online vào thứ Ba và thứ Sáu hàng tuần).
________________ 
 
NGUYỄN AN NINH           
(1900 - 1943)
 
Nguyễn An Ninh quê huyện Hóc Môn (nay thuộc Sài Gòn). Thân phụ là ông Nguyễn An Khương là một nhà văn có tinh thần yêu nước, thông thạo nho và chữ Quốc ngữ. 
      Nguyễn An Ninh học ở trường Taberd, rồi Trường Chasseloup Laubat. Năm 1915 (15 tuổi), ông được nhận làm biên tập cho tờ Courrier saigonnais. Năm sau, tốt nghiệp trung học với bằng ưu, ông ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược. Học được nửa năm, ông lại quyết định chuyển sang học luật và chính trị với hy vọng biết để đấu tranh sau này. Năm 1918, ông sang Paris, học đại học ngành luật tại Đại học Sorbonne. Hai năm sau, ông được cấp bằng Cử nhân Luật hạng ưu.
 
Tại Pháp, ông liên lạc với các nhà yêu nước Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường... tìm cách giúp quê hương. Ngày 5-10-1922, ông về nước, ngày 25-1-1923, ông diễn thuyết bằng tiếng Pháp với đề tài: "Une culture pour les Annamites" (Chung đúc một nền học thức cho dân An Nam); kêu gọi mọi người dân Việt hãy mau mở mang dân trí, mau thoát ách nô lệ. 
     Ngày 22-2-1923, ông sang Pháp lần thứ hai, mục đích hoàn tất bằng Tiến sĩ Luật, rồi trở về nước, dịch 5 chương đầu cuốn “Khế ước xã hội” (Contrat social) của Jean-Jacques Rousseau nhằm truyền bá tư tưởng tự do: "Người ta sinh ra tự do, chính quyền là một tổ chức cai trị theo khế ước xã hội, vì thế chính quyền phải phục tùng ý chí của toàn dân".
 
     Ngày 15-10-1923, ông diễn thuyết đề tài: "L’ideál de la Jeunesse Annamite" (Cao vọng của thanh niên), tại Hội Khuyến Học Nam Kỳ ở Sài Gòn. Ông nói: "Cứ suy tôn Khổng Tử chúng ta khó tiến bộ. Tự do không phải là một món vật mà ta có thể chuyền tay, có thể cho hay bán. Ai cũng có thể được tự do. Hỡi thanh niên hôm nay, không ai cấm chúng ta phác họa ước mơ và cao vọng!”. Và ông nhấn mạnh: "Vì sao để thực dân Pháp khai thác và bóc lột đến tận xương tủy cả Đông Dương!" Đã được nhiều người nhiệt liệt tán thưởng. Bài diễn thuyết như tiếng chuông cảnh tỉnh thân phận người dân mất nước. 
      Thống đốc Pháp là Cognacq mấy lần gọi ông đến hăm dọa và cấm ông không được diễn thuyết cho dân chúng nghe. 
 
      Ngày 10-12-1923, ông lập tờ báo Pháp văn La cloche fêlée (Tiếng chuông rè) ở Sài Gòn, chỉ trích thực dân pháp, đề cao các nhà yêu nước và truyền bá tư tưởng tự do, ông làm chủ bút, biên tập, xếp chữ, còn tự ôm báo đi rao bán dạo. Thực dân Pháp thấy vậy, cấm các nhà in không nhận in; người bán báo, đọc báo đều bị theo dõi. Vì vậy, đến ngày 14-7-1924, báo Tiếng chuông rè đình bản. 
      Ngày 10-1-1925, ông sang Pháp lần thứ ba, tại Pháp ông viết: “Nước Pháp ở Đông Dương”, nội dung chống thực dân quyết liệt, đòi hỏi các quyền tự do dân chủ căn bản. Ngoài ra, ông còn diễn thuyết tại Khách sạn Hội Bác học (Hôtel des Sociétés Savantes), Paris, đề tài “Tinh thần dân chủ của nước Việt Nam”.
 
     Sau đấy, ông cùng Phan Chu Trinh về nước. Cuối năm 1925, ông cộng tác với Luật sư Phan Văn Trường (1875-1933), mở lại tờ báo Tiếng chuông rè. Ngày 21-3-1926, ông diễn thuyết trước 3000 người nghe, kêu gọi chống chủ nghĩa thực dân, ba hôm sau, ông bị nhà cầm quyền Pháp bắt kết án 18 tháng tù nhưng giam 10 tháng thì được thả.
     Ông qua Pháp lần thứ tư, đến ngày 6-1-1928, ông về nước, vào cuối năm 1928, ông bị Pháp bắt lần thứ hai về vụ “Hội kín Nguyễn An Ninh” và bắt một số người ủng hộ ông. Ông bị kết án 3 năm tù, ra tù ngày 3-10-1931. ông tiếp tục viết báo chỉ trích thực dân, nên đến tháng 4-1936, lại bị bắt về tội “phá rối trị an”, đến tháng 11 năm 1936 thì được thả.
 
     Đến tháng 7-1937, Pháp lại bắt giam ông lần thứ tư. Đến tháng 1-1939, ông ra tù và tiếp tục đấu tranh. Tháng 9-1939, Thế chiến thứ hai bùng nổ ở châu Âu; tại Đông Dương, thực dân Pháp thiết quân luật và truy lùng bắt các nhà yêu nước để ngăn ngừa dân bị trị vùng lên tự giải phóng mình. Ngày 5-10-1939, ông bị bắt lần thứ năm bị kết án 5 năm tù, lưu đày Côn Đảo. Trên đảo, ông bị hành hạ, bị đói khát nên kiệt sức qua đời vào ngày 14-8-1943, hưởng dương 43 tuổi.
 
Ông chẳng những là nhà chính trị kiên cường, còn là nhà văn thơ sâu sắc, ông để lại: Nước Pháp ở Đông Dương (La France en Indochine, 1925); Hai Bà Trưng (tuồng hát, 1928); Tôn giáo (1932); Dân ước (dịch những đoạn chính trong quyển Contrat social của Rousseau, 1923). 
 
      Bài thơ “Sống và Chết” của ông, nhiệt huyết yêu nước nồng nàn (trích 2 đoạn):
 
Sống mà vô dụng sống làm chi?!
Sống chẳng lương tâm sống ích gì?
Sống trái đạo người, người thêm tủi
Sống quên ơn nước, nước càng khi!
  
        Chết sao cho tiếng vẫn còn hoài
        Chết đáng là người đủ mắt tai
        Chết được dựng hình tên chẳng mục
        Chết đưa vào sử chữ không phai!
  
 *- Thiết nghĩ: Nguyễn An Ninh là người học thức uyên bác, được Pháp mến mộ và ưu ái ngay buổi ban đầu, nhưng ông không thể hưởng “vinh hoa phú quí” chỉ riêng cho bản thân và gia đình nên không hợp tác với Pháp, dứt khoát từ chối để dấn thân vì quốc gia dân tộc. Ông là một chính khách hoạt động chính trị kiên cường, đã nhiều phen bị thực dân Pháp bắt và giam cầm, nhưng lòng son sắt của ông không thể quên quê hương và dân tộc. Ông là người am hiểu đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng. Riêng Khổng giáo, ông đã thẳng thắn: "Cứ suy tôn Khổng Tử, chúng ta khó tiến bộ?!”.
 
     Nguyễn An Ninh là người luôn bôn ba lo nước nhà, trong những bài báo chống Tây của ông, nếu độc giả chỉ đọc hời hợt thì chỉ thấy lời lẽ nhẹ nhàng, nếu ngẫm nghĩ kỹ càng thì mới thấy ý tứ chặt chẽ, nội dung chống Tây sắc bén. Người đời còn lưu truyền: “Nhìn ông thể chất yếu ớt, nhưng khi nghe ông diễn thuyết qua các đề tài: ‘Cao vọng của thanh niên. Tinh thần dân chủ của nước Việt Nam...’ Giọng ông vang vang khắp hội trường. Lời lẽ hào hùng và tuyền cảm đã gây cho khán giả nhiệt liệt tán thưởng. Khi đấy mới hiểu tâm tư ông đã chứa chan tình non nước tự bao giờ?!”
     Nguyễn An Ninh trong 2 thập niên (1923 đến 1943) là nhân vật của thời đại và ngày nay là nhân vật của lịch sử.  
 
Cảm phục: Nguyễn An Ninh
  
Nguyễn An Ninh, chí khí hăng say!
Tranh đấu sắt son, dẫu đọa đày!
Du học Ba Lê, còn chống Pháp?!
Hồi hương đất Việt, vẫn trừ Tây! 
 
Nguyễn Lộc Yên  


Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Nền âm nhạc Việt Nam đã mất đi những khuôn mặt tài hoa, nhân cách… nhưng, rất may đã gởi lại những ca khúc bất tử. Nhạc sĩ tài hoa của nhân loại Johann Sebastian Bach (1865-1750) cho rằng “Âm nhạc có thể giúp tinh thần rũ sạch mọi bụi trần của cuộc sống thường ngày” nên khi “đầu óc vẩn đục” hãy lắng nghe ca khúc của tác giả đã quý mến để rũ sạch bụi trần.
Tôi đã được đọc rất nhiều bài trong “Hoa Cỏ Bên Đường” trước khi chúng được chọn cho vào tuyển tập này. Mấy năm nay, cô Kiều Mỹ Duyên luôn dành cho Bút Tre hân hạnh đăng những bài viết ngắn của cô. Bài nào cũng được độc giả khen tặng, đặc biệt bài “Cho Nhau Thì Giờ” gây tác động sâu sắc đến người đọc.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa ở trong Nam, chuyện tranh luận giữa Chính quyền và người dân về những ưu, khuyết điểm của chế độ chính trị là việc bình thường. Các Dân biểu và Nghị sỹ tại lưỡng viện Quốc hội có quyền chất vấn Thủ tướng và các Bộ trưởng Chính phủ bất kỳ lúc nào thấy cần. Nhưng ở Việt Nam Dân chủ Công hòa miền Bắc trước năm 1975 thì khác. Phê bình đảng cầm quyền là tự mở cửa vào tù. Đại biểu Quốc hội và các Hội đồng Nhân dân các cấp chỉ biết làm việc theo lệnh của Bộ Chính trị và cấp trên.
Nước Úc đã bước vào tiết Thu, khí trời lạnh, những chiếc lá đang đổi sang màu, cơn mưa đầu mùa làm lòng người se lại. Nhận tin báo từ quê nhà Thầy đã viên tịch, lòng con đau nhói vì không về được để đảnh lễ Kim Quan nhục thân Thầy, thọ tang Ân Sư Giáo Dưỡng. Nơi phương trời viễn xứ, con hướng về ngôi Chùa Bình An, Giác Linh Đài tâm tang thọ phục.
Tôi tin vào những điều không thể. Tưởng tượng bạn đang rất căm ghét một con người hay một con vật nào đó. Rồi bỗng dưng một ngày bạn thấy họ là chính mình. Bạn có cảm giác mình biết về họ rõ như biết về những đường chỉ trên bàn tay của mình. Thậm chí, bạn cảm được cái khát khao và thương nó như thương nỗi khát khao của mình ngày nào - đó là cái tình cảm lạ lùng mà tôi dành cho con chuột của con trai tôi.
Nước tìm chỗ trũng thì tiền cũng biết chạy vòng quanh thế giới kiếm lời. Thị trường nhà đất ở Nhật bị sụp vào đầu thập niên 1990 nên tiền chạy sang Đông Nam Á và Đông Âu tìm các con rồng sắp cất cánh. Khi Đông Á và Đông Âu bị khủng hoảng vào cuối thập niên 1990 tiền lại đổ vào Mỹ và Nam Âu bơm thành hai bong bóng địa ốc rồi vỡ tung năm 2007 (Mỹ) và 2010 (Nam Âu).
Tôi tình cờ tìm được ấn bản Lá Thư Về Làng của nhạc sỹ Thanh Bình, do nxb Lúa Mới phát hành, năm 1956. Vào thời điểm đó, tuy chưa đủ tuổi để cắp sách đến trường nhưng tôi cũng đã thuộc lời của nhạc phẩm này rồi vì nghe mấy bà chị và radio hay hát
Thới gian vẫn không ngừng trôi, hết xuân lại hạ, ngày tháng dần qua như nước chảy mây bay, sóng sau đè sóng trước, từng thế hệ lần lượt nối tiếp nhau. Ba chẳng mấy chốc giờ đã lên nội, ngoại. Tóc ba đã bạc trắng mái đầu, mỏi gối chồn chân… Thương ba nhưng đành chịu thôi, quy luật sinh – lão – bệnh – tử có chừa ai đâu!
Khi vừa nhận chức, Tổng thống Joe Biden đã phát biểu rằng dân chúng Mỹ sẽ có thể tụ họp ăn mừng Lễ Độc lập 4/7 trong hè sắp tới. Điều đó chắc sẽ xảy ra vì còn một tháng nữa là đến ngày 4/7, trong khi tiểu bang California là nơi đã có những giới hạn khắc khe nhất nước trong việc phòng chống Covid thì cũng đang mở cửa ra. Nhiều trường phổ thông và đại học đang tổ chức lễ tốt nghiệp, trong giãn cách xã hội và giới hạn khách tham dự là dấu hiệu đáng mừng cho sinh viên học sinh. Giờ N sắp điểm với Covid-19 ở California. Chiến thắng cơn đại dịch trên nước Mỹ cũng đã thật gần.
Nhưng ngặt nổi, cả 3 Văn kiện Cương lĩnh, Điều lệ đảng và Hiến pháp đều tập trung vào một mục tiêu là bảo vệ tuyệt đối quyền cai trị độc tôn và độc tài cho đảng. Cho nên, khi tình trạng “tự diễn biến, tự chuyển hóa” của cán bộ đảng vẫn “tưng bừng hoa lá cành” đe dọa vị trí cầm quyền của đảng và sự sống còn của chế độ thì “bảo vệ nội bộ” cũng chính là giữ cho đảng khỏi vỡ từ trong lòng Chế độ.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.