Hôm nay,  

Từ sau cuộc chiến

29/04/201709:34:00(Xem: 7551)

Từ sau cuộc chiến

Sean Bảoblank
 ​Sau 4 năm nội chiến khốc liệt, phe miền Nam chấp nhận thua trận. Tướng Grant thảo vội những điều khoản đầu hàng trao cho tướng Lee: "Những binh lính miền Nam sẽ không bị coi là phản quốc. Họ sẽ không bị đi tù. Chính phủ không được đụng tới hoặc phiền hà nếu họ chấp hành tốt luật lệ nơi cư ngụ. Kỵ binh được quyền mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình họ cày cấy vào mùa xuân. Binh lính được quyền giữ lại khí giới cá nhân để giúp họ bảo vệ gia đình." Tướng Lee đọc xong và nói: "Điều này sẽ làm quân lính của tôi vui lắm."
 

Một vài giờ sau khi Abraham Lincoln bị ám sát, phó tổng thống Andrew Johnson tuyên thệ nhậm chức vào ngày 15 tháng 4, 1865. Hơn 3 tuần sau, Andrew và phe miền Bắc đối diện với thử thách lớn: dùng chiến thắng của mình như thế nào cho việc hàn gắn đất nước và tái thiết sau chiến tranh? Mặc dù có một khoảnh khắc chớm lên muốn trả thù cho Abraham Lincoln và xữ phạt những kẻ phản loạn. Nhưng không có một ý tưởng và chính sách trừng phạt nào đối với miền Nam. Cái khó nhất là làm sao khôi phục lại các tiểu bang thua trận để cùng chung trong một liên bang, lấy được lòng dân trong cả nước.
 

Hai năm trước, sau chiến thắng quyết định ở Gettysburg và Vicksburg, Lincoln đã bày tỏ rằng các bang miền Nam chưa bao giờ ly khai hợp pháp cả; họ đã bị một số công dân phản loạn lừa dối dẫn tới việc thách thức không tuân phục Chính quyền Liên bang. Và vì chiến tranh là hành động của các cá nhân nên Chính phủ Liên bang sẽ xử lý những cá nhân này chứ không phải với các bang. Do đó, vào năm 1863, Lincoln lên Kế hoạch 10%: bất kỳ bang nào mà có 10% cử tri trung thành với Hiến pháp nước Mỹ thì sẽ được thu nhận lại trong liên bang. Trong khi đó phe Cộng hòa cấp tiến đã phản đối và đòi nâng lên 50% số cử tri. Tổng thống Lincoln đã phủ quyết. Dù vậy quốc hội đã lập Cục Phụ Trách Nô Lệ Được Tự Do tháng 3, 1865, nhằm trợ cấp thức ăn, dụng cụ, bảo vệ và chia đất cho người da đen.
 
Mùa thu 1865 Tổng thống Johnson đã ân xá toàn bộ binh lính sĩ quan miền Nam, trả lại đất đai cho chủ cũ, sử dụng và bổ nhiệm thống đốc và phục hồi hầu hết các bang miền Nam, không thừa nhận mọi khoản nợ đã dùng để trợ giúp cho phe ly khai trong thời gian chiến tranh và phê chuẩn bổ sung Tu Chính Án thứ 13 của Hiến pháp: bãi bỏ chế độ nô lệ. Cho đến cuối năm 1865, với một vài ngoại lệ, quá trình tái thiết và hòa giải tiến triển dù gặp nhiều chống đối trong quốc hội. Nhiều lãnh đạo chính phủ và tướng lãnh của phe thua trận được vào ghế quốc hội. Alexander Stephens, phó Tổng thống Confederate được bầu vào thượng viện,
 
Trong khi đó vài bang miền Nam lợi dụng sự khoan nhượng của Johnson đã áp dụng một loạt các luật gọi là Black Codes nhằm giới hạn quyền lợi của người da đen được giải phóng và tiếp tục dùng "lực lượng đen" cho công việc lao động. Hành động này làm phe miền Bắc và vài thành viên trong Quốc hội nổi giận, họ từ chối những chiếc ghế trong chính quyền từ phe miền Nam. Ngày 9 tháng 4, 1866 Quốc hội thông qua dự luật Nhân quyền, dự luật đầu tiên trong lịch sử về quyền con người bình đẳng trước pháp luật. Sau đó Tu Chính Án thứ 14 cho phép các nô lệ trở thành công dân Hoa Kỳ vào ngày 30 tháng 4, 1866.
 


Nhiều người da trắng miền Nam lo ưu thế chính trị và xã hội của họ bị đe dọa nên đã dùng những biện pháp bất hợp lệ đề ngăn chặn người da đen giành được quyền bình đẳng. Tổ chức cực đoan Ku Klux Klan ra đời ở Pulaski, Tennessee ngày 24 tháng 12, 1865 và trở nên ngày càng tàn bạo. Tháng 3, 1867 Quốc hội thông qua Đạo luật tái thiết đầu tiên, tạm thời chia miền Nam thành 5 vùng quân sự, mỗi khu vực do một viên tướng của Liên bang điều hành. Đồng thời thành lập các chính phủ dân sự phê chuẩn bổ sung sửa đổi Tu Chính Án thứ 14 và chấp nhận quyền bầu cử của người da đen. Những người ủng hộ phe ly khai và không tuyên thệ trung thành với nước Mỹ sẽ không được đi bầu cử. Ngày 24 tháng 7, 1866 Tennessee là tiểu bang miền Nam đầu tiên gia nhập trở lại với liên bang. Trong khi các bang miền Nam khác tiếp tục chống đối Tu chính án thứ 14. Tổng thống Johnson tiếp tục phủ quyết các Đạo luật tái thiết nhằm kiểm soát các bang phản loạn, bãi nhiệm Bộ trưởng chiến tranh Edwin M. Stanton, dẫn đến Quốc hội lần đầu tiên đàn hặc Tổng thống Johnson vào tháng 3, 1868. Johnson thoát được chỉ nhờ 1 phiếu bầu. Năm 1868 Oscar J. Dunn, một nô lệ da đen đầu tiên được bầu làm Thống đốc Louisiana. Tháng 8 năm đó Arkansas, North Carolina, South Carolina, Louisiana, Alabama và Florida tái nhập liên bang sau khi thừa nhận Tu Chính Án 14. Một tháng sau thì bạo động chống đối ở Opelousas, Louisiana làm 300 người da đen bị chết. Ulysses S. Grant, người hùng của cuộc nội chiến lên làm Tổng thống thứ 18, hủy bõ Cục Phụ Trách Nô Lệ và Tu chính án thứ 15 được Quốc hội thông qua vào năm 1870, quyết định quyền đi bầu cử của công dân Hoa Kỳ sẽ không bị phủ nhận hay hạn chế bởi Chính phủ Hoa Kỳ hay chính phủ bất kỳ bang nào vì lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đây. Tất cả các bang miền Nam còn lại đều gia nhập liên bang. Tháng 5, 1872 Tổng thống Grant ký Đạo luật ân xá phục hồi quyền đi bầu và ứng cử cho hơn 150 ngàn sĩ quan binh lính của phe thua trận. Tuy vậy phải đến khi Tổng thống thứ 19 Rutherford B. Hayes rút quân đội ở S. Carolina và Louisiana thì Thời kỳ tái thiết sau nội chiến mới thực sự kết thúc.
 blank

Một cựu chiến binh Bắc quân Hoa Kỳ bắt tay một cựu chiến binh Nam quân Hoa Kỳ trong buổi lễ ở Gettysburg tại Pennsylvania năm 1913.
 

Trải qua 3 đời tổng thống với 3 Tu Chính Án thay đổi hiến pháp cho một đất nước đất nước sau cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Bốn triệu người da đen tự do làm thay đổi nhanh chóng thời kỳ tái thiết bằng cách thể hiện quyền lợi công dân của mình trong chính quyền và nền kinh tế. Với 12 năm xung đột vì mâu thuẫn quyền lợi Nam - Bắc và nhiệt huyết từ các nhà lãnh đạo đất nước, nền dân chủ được phát huy tối ưu. Các nguồn lao động từ miền Nam cùng sự phát triển công nghiệp tiên tiến ở miền Bắc. Các chất xám và nhiệt tình xây dựng đất nước ở cả hai miền. Lần đầu tiên hệ thống giáo dục của tiểu bang miền Nam được tài trợ, chính sách thuế má công bằng, luật cấm kỳ thị chủng tộc ở các phương tiện vận chuyển và sinh hoạt nơi công cộng, liên bang trợ giúp đầu tư cho ngành hỏa xa và các tập đoàn công ty lớn...

Người Mỹ nhìn lại và xem thời kỳ tái thiết là một thất bại. Sau nội chiến thì chiến trường tiếp tục xãy ra ở chính trường. Người da đen vẫn còn vất vả để có được một đời sống công bằng trong tự do, tổ chức cực đoan Ku Klux Klan làm ung nhọt xã hội dân chủ, sự lũng đoạn và cơ hội đầu tư trong nền kinh tế làm bất công gia tăng, vai trò của chính quyền liên bang bao trùm lên các tiểu bang và kỳ thị da màu vẫn đậm nét cho đến 1960 với làn sóng phản đối để có được một ước mơ "I have a dream" của Martin Luther King. Thế nhưng 3 Tu Chính Án ra đời của một Hiến pháp dân chủ tối ưu đã đặt nền móng cho sự phát triển của đất nước ngày càng hùng mạnh. Nước Mỹ thống nhất và có được lòng dân từ miền Nam thua trận.

Người ta gọi thỏa thuận đầu hàng của tướng Grant và tướng Lee là Thỏa thuận của những người quân tử - The Gentlemen’s Agreement. Chính xác thì đó là thỏa thuận giữa các gentlemen, các người đàn ông hào hùng trong chinh chiến, nhân ái trong hòa bình, trọng chữ tín và đầy viễn kiến.

 

Sean Bảo



Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.