Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Thăm Nhà Văn Già Xứ Dừa

09/12/201500:00:00(Xem: 5693)

blank
Nhà văn già xứ dừa.

Men theo ký ức đã mù mờ do năm tháng và những đổi thay của khung cảnh đường phố, tôi đến chỗ con rạch nhỏ gần một nghĩa trang bề thế ở ven châu thành Bến Tre, vô quán nước hỏi đường đến tư gia nhà văn Trang Thế Hy. Năm sáu cao bồi vườn xồn xồn đương hội họp nhâm nhi bia sớm hững hờ về cái tên xa lạ. Vài người lơ đảng nhúng môi vô ly tiếp tục chầu vui. Sắp thất vọng trở ra thì tiếng một cô gái lui cui bỏ dừa vô bao cà-ròn cách đó không xa hỏi vọng lại “Phải chăng bác hỏi Ông Ba nhà văn?”. Tôi gật đầu cầu may và được chỉ đi dọc theo con kinh vào chừng 100 thước. Cô gái còn mách lẽo thêm ông Ba trong dịp Tết nầy mới lãnh giải thưởng văn nghệ cao cấp của tỉnh nhà. Mừng thầm cho nhà văn mình mến mộ, ít ra giải thưởng cũng đem lại chút ít vật chất cho người có công với văn nghệ khi về già, cũng như đem lại phần nào sự hãnh diện cho xứ sở đã sanh thành ra ông. Nhớ lại khi tôi còn rất trẻ đã đọc tác phẩm của ông, và những người nổi tiếng đồng thời như Lưu Nghi, Khổng Nghi... trên những số báo Nhân Loại in tại một nhà in trên đường Bến Chương Dương mà tôi nao nức đón đợi từng số một từ vài ngày trước khi số báo mới được phát hành. Sau nầy lớn hơn một chút, thỉnh thoảng đọc ông trên tạp chí Bách Khoa, cái rộn ràng chờ mong của thời mới lớn không còn nhiều nhưng sự thích thú thưởng thức không hề suy giảm. Ông viết ít nhưng mỗi bài đưa ra một vài vấn đề vang dội trong tâm trí người đọc. Truyện có dư vị đăng đắng, không ở trạng huống bi thảm trên số phận của nhân vật mà ở những cách thế suy nghĩ, ở thái độ hành xử đặc biệt của nhân vật. Tất cả đều bước ra ngoài sự bình thường đơn điệu hằng cữu, khác xa với những phản ứng thường nhật thấy ở con người tiêu biểu, chung chung. Với tôi, truyện của ông nặng về lý trí hơn tình cảm, không dễ đọc một mạch để cho ta biết cốt lỏi của vấn đề, truyện ông kén người thưởng thức, nhưng khi người đọc đã chịu thì ông là một tác giả không thể quên trong bao nhiêu người viết mà mình từng hâm mộ.

Vào tới cửa ngỏ nhà ông, nhìn khu vườn không nhiều chăm sóc, cỏ phủ kín khoảng sân và hàng ba lót gạch tàu mốc rêu xanh dờn. Mấy con chó sủa vang dội. Một phụ nữ trung niên ra mở cái cổng khép hờ, la đàn chó và mời khách vào. Chúng tôi được mời vào căn chái bên hông nhà, có lẽ đó là nơi tiếp khách tươm tất nhất của chủ nhơn với chậu vạn thọ trong góc hè còn vương màu Tết. Ra tiếp chúng tôi với cặp mắt già nhấp nháy nhìn khách, ông cố lôi trong trí nhớ coi khách là ai. Dáng chậm chạp từ tốn pha trà, thong thả đặt khay mứt còn lèo tèo mấy miếng gừng, mấy cục thèo lèo xanh đỏ lên bàn mời khách như để kéo dài thời giờ đào sâu trong ký ức về một hình ảnh đã nhạt nhòa. Sau những câu thăm hỏi xã giao, chủ khách đã phá tan được lớp băng giá e dè khi nhà văn nhớ lại khách đã đến đây hàn huyên vài lần, câu chuyện trở nên thân tình hơn, vào trong tâm sự hơn khi khách nhắc đến vài bạn văn xưa đương thời với ông.

Nhà văn năm nay đã 86 tuổi, đương sanh sống trên mãnh vườn nhỏ với hai người con cũng xấp xỉ 60, với chút ít huê lợi cây trái đắp đổi qua ngày,sức khỏe có suy nhược do tuổi già nhưng trí nhớ thì rất phi thường. Bặp bặp một hơi thuốc theo thói quen, ông chậm rải kể chuyện xưa, chuyện nay, thỉnh thoảng trầm ngâm về dĩ vãng, nhớ lại những biến cố trong đời hay những nhận định có nhiều giá trị. “....Tôi vào rừng Tây Ninh giữa năm 1963. Bị người tố cáo nên sau khi ở tù ra thì đi liền. Vào đó cùng sinh hoạt chặt chẽ với anh Lý Văn Sâm. Anh Sâm người hiền từ, ốm như tôi, lớn hơn tôi 4 tuổi, chúng tôi coi nhau là bạn văn, chia sẻ những suy nghĩ văn nghệ. Sau nầy về Sài Gòn, chúng tôi vẫn còn thân thiết. Điều lạ là ở trong đó tên tôi là Tư Sâm. Tại sao hả? Tình cờ thôi, đặt là đặt vậy, không có lý do gì trong cái thứ và cái tên. Anh Lý Văn Sâm vào đó trước tôi sau khi phá khám, Dương Tử Giang bị chết trong vụ nầy...” Hoặc vài chi tiết vui vui: Năm 1989 tôi được Hội Nhà Văn đề cử đi Liên Xô cùng với một người nữa, đi 10 ngày, mà xứ sở của người ta minh mông quá xá nên mình cũng chẳng thấy được bao nhiêu. Đời sống lúc đó chưa ổn định, cái áo veston thì mượn của Lý Văn Sâm, cái quần thì mượn của người khác. Lúc đó.... Nhà văn ngừng ngang, không nói hết ý, vài phút sau mới tiếp. “Bây giờ anh Lý Văn Sâm nằm ở nghĩa trang Thành phố, mã đá hoa cương rất đẹp...”

Tôi tìm trong ánh mắt nhà văn một tình cảm gì đó khi nói mấy chữ sau cùng, thoáng ao ước hay khen tặng.. Cặp mắt ông như xa vắng sau làn khói thuốc mỏng.

Người nghe ghi nhớ những chi tiết cần thiết, những chi tiết không phải dễ được nghe từ người có dính dáng đến những nhân vật thế thời.. Cuộc chiến vừa qua đã cuốn lôi bi thiết biết bao nhiêu người vào cuộc. Kẻ đúng người sai trong sự lựa chọn, kẻ tự nguyện kẻ bị dòng đời đẩy xô vào, nhưng tấm lòng vì nước của từng người, từng trường hợp cho đến giờ vẫn chưa được đánh giá đúng mức. Tôi nhìn lại nhà văn, móm mém chậm chạp, phong trần theo dấu thời gian tuy nét thanh nhã xưa vẫn còn có thể nhìn thấy phưởng phất trong ánh mắt thiệt hiền từ và trong sáng.


Tôi nhắc về bức họa chân dung rất có thần treo trên vách mà mình thấy lần trước cách đây mấy năm, ông xác nhận chân dung đó do danh họa Nguyễn Trung, trong nhóm Họa Sĩ Trẻ của Sài Gòn thập niên 60, vẽ tặng. Nguyễn Trung ít vẽ chân dung nam, dường như là chỉ vẽ có hai người thôi, còn đều vẽ chân dung phụ nữ. Tôi nghĩ lơ mơ về chỗ dựng xứng đáng của bức tranh nầy khi nhà văn nằm xuống, như bức tranh chân dung nhà văn Sơn Nam, chiếm một vị trí trang trọng ở nhà lưu niệm Sơn Nam nơi cống Bảo Định Tiền Giang, do họa sĩ thời danh Nhốp múa cọ...

Nhắc đến số lượng truyện ngắn của hai người, về những sáng tác gần đây, tôi phàn nàn rằng mình mất quá nhiều thời giờ cho những bài biên khảo và chuyện phiên âm chữ Nôm nên phần văn nghệ thuần túy không được phong phú như ý muốn, ông lý giải rất thuyết phục về sự đa dạng của văn chương. Có loại làm người đọc động lòng, có loại khiến độc giả động não. Loại nào cũng thể hiện được bản lĩnh của người cầm bút. Nhận định sâu sắc của nhà văn khiến tôi nhớ đến một truyện ngắn mà ông đăng trên tạp chí Nhân Loại ngày xưa, trong đó nhân vật chánh, một cô xẩm trẻ đã chê nhà văn nhát gan khi không dám cho nhân vật mình chết khi đáng chết.

Tôi bắt gặp ánh mắt trầm tư của nhà văn, vừa xa vắng vừa mỉm cười hóm hỉnh: Truyện đó mang tình cảm sâu đậm của tôi. Sự thật trong truyện đó thiệt là nhiều. Cô xẩm trẻ sau đó chịu chết cháy vì không muốn làm đồ chơi cho một trọc phú đã đặt mua cô ngay khi cô tuổi mới 12, 13. Tôi không dám trơ trẻn hỏi về sự thật liên hệ giữa nhà văn và nhân vật nữ nầy ở ngoài đời. Có những điều bạn đọc, bạn viết muốn hỏi nhà văn lắm nhưng phải cố dằn lòng bỏ qua dầu biết rằng chi tiết đó sẽ đem lại một cái nhìn rõ ràng hơn về tác phẩm nào đó của nhà văn.

Hình như nhắc đến truyện ngắn nầy nhà văn nhớ đến chuyện tình yêu, ông đề nghị hai người chúng tôi, mỗi người đọc cho ông nghe về một bài thơ của Tagore mà ông đã dịch từ một bản Pháp ngữ mới in trong tập thơ mỏng Đắng và Ngọt.

Tôi đọc, cố rõ từng chữ một vì là lần đầu tiên mình đọc bài thơ nầy. Bài thơ như đa số những bài khác của Tagore, thuộc loại ẩn dụ, không dễ gì thông hiểu khi chưa có nhiều thời giờ suy nghĩ:  Em đã xếp tôi vào chỗ dành cho những người thua trận/ Tôi biết rằng quyền chiến thắng cũng như quyền rút ra khỏi cuộc chiến không thuộc về tôi/ Tôi lao xuống vực thẳm, quyết chạm cho được cái đáy của vực thẳm ấy/ Tôi chơi canh bạc của người thua trận/ Tôi ném vào canh bạc ấy tất cả những gì tôi có, và khi đã mất tất cả mọi thứ rồi, tôi sẽ ném luôn vào đó tấm hình hài xương thịt của tôi....

Nhà văn góp ý: Kẻ thua bạc nầy đã đặt tới số vốn cuối cùng của đời mình. Đó là hình hài mình. Không còn diễn tả nào cặn kẻ hơn, tận cùng hơn về hình ảnh kẻ thua. Tận cùng!. Nhà văn thốt ra hai tiếng ngắn gọn và lại trầm ngâm trong tư tưởng gợi ý từ lần nghe mới. Tôi thông hiểu tâm trạng đó. Bài thơ tuyệt phẩm là bài thơ khiến ta mỗi lần đọc lại khám phá ra thêm ý mới và dễ kéo ta vào những suy tư bất tận mới. Lâu lắm ông mới lên tiếng. Bài thơ đưa ẩn dụ về tình yêu. Kẻ thua cuộc là kẻ không được yêu lại nhưng vẫn hết mình đối với tình yêu đó, kể cả cái chết. Yêu là vậy!

Nhìn ông già móm mém hom hem bàn luận về chuyện yêu đương, về thơ ca diễm tuyệt, tôi thấy mình thật may mắn, thật hạnh phúc khi lắng nghe: Đời người không phải dễ có những phút giây như vậy. Duyên văn nghệ chăng, cơ may chăng? Cao hứng tôi xin phép đọc bài thơ mình vừa khai bút đầu Xuân mấy hôm trước, tặng bạn văn già:

Sãy chân lạc bước xuống đời,/ Xin chào thế giới bằng lời u-oa./ Lưng còng mắt kém, sần da,/ Tay run gậy trúc, trí dần dà quên./ Thở hơi không nỗi nằm tênh. /Bao nhiêu chủng tử lềnh bềnh phổi gan./ Uổng công nắm bắt thời gian,/ Sá gì dẫu có triệu ngàn kiếp sanh /Ta bà vây khổn quanh mình,/An nhiên tự tại rẽ khinh mọi điều.

Nhà văn nhắc lại hai câu cuối và chép miệng. An nhiên tự tại không phải dễ gì. Rẽ khinh mọi điều còn khó hơn. Trước khi từ giã, tôi đề nghị chụp một bức hình lưu niệm. Ông đứng sát vô tôi, nhỏ nhoi, nhẹ hỏng, nói như dặn dò nghiêm nghị: Tốt khoe xấu che nha, hình chụp làm kỷ niệm nha, không nên đưa ra công chúng lúc nầy.

Tôi hiểu lời dặn như sự né tránh đám đông của người già. Tới tuổi nào đó sự đơn giản, hiu quạnh lại là thói ưa; ồn ào, hình thức phô trương nào về mình cũng làm mình thấy khó chịu... Trên đường về lại Sài Gòn, gặp một tấm bảng quảng cáo lớn bằng cả một tòa nhà đập vào mắt hàng chữ: “Chào mừng sự kiện tiêu thụ kỷ lục 1 tỷ lít bia X..”, tôi xúyt xoa với bạn đồng hành: Phải chi một vài tấm bảng kia là hoan nghinh tim óc của của nhà văn già hết đời với xứ dừa thơ mộng thì hay biết mấy!.Con đường về đượm nhiều nét âm u của buổi chiều tà, tự dưng tôi thấy buồn lòng với ý nghĩ đó.

Nguyễn Văn Sâm (Sài-thành, đêm Nguyên Tiêu Tân Mão, 2011)

Ý kiến bạn đọc
10/12/201507:04:23
Khách
Ai bị bệnh sùi mào gà thì liên hệ với mình theo sđt : 0966156557
Mình cũng từng bị căn bệnh nay đi viện đốt mấy lần không khỏi cuối cùng mình được một người bạn giới thiệu một phương thuốc nam gia truyền thế là khỏi được mấy năm nay không bị lại nữa,bạn nào bị căn bệnh này thì liên hệ với mình,mình chia sẻ cho.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.