Hôm nay,  

Ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa

29/09/201500:00:00(Xem: 11842)

Dịch: Trần Văn Minh
Tác giả: David Lamb - LA Times

Đôi lời: Tưởng niệm 14 năm ngày ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống VNCH, qua đời (29-09-2001), xin được giới thiệu bài viết của ông David Lamb, phóng viên báo LA Times, viết về ông Thiệu ngay sau khi ông qua đời. David Lamb đã từng có nhiều năm làm việc ở Việt Nam, tường thuật sự kiện 30-4-1975, ngày Sài Gòn rơi vào tay CS Bắc Việt. Đây là quan điểm của một ký giả nước ngoài 14 năm về trước, nên có thể có những thông tin không chính xác, như vụ mang theo 16 tấn vàng (bài này ghi 15 tấn hành lý) mà nhiều năm sau mới được tiết lộ trên báo Tuổi Trẻ.

* * *

Ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống trong giai đoạn chiến tranh ở Nam Việt Nam, đã phải đi lưu vong chỉ vài ngày trước khi đất nước ông rơi vào tay quân đội Cộng sản Hà Nội vào năm 1975, đã qua đời hôm thứ Bảy, từ lâu tin rằng ông bị đồng minh Mỹ phản bội trong những tháng cuối cùng của cuộc chiến. Ông thọ 78 tuổi.

Ông Thiệu, ra đi tại nhà riêng ở Foxboro, ngoại ô Boston, hôm thứ Năm, đã để lại nhiều câu hỏi chưa được trả lời.

Một trong số những câu hỏi: Tại sao ông bỏ ngỏ cao nguyên Trung phần cho quân xâm lược Hà Nội vào tháng 3 năm 1975? Quyết định đó đã dẫn đến sự sụp đổ của Sài Gòn một tháng sau.

Ông Thiệu giữ vai trò quan trọng trong mọi sự kiện lớn tại Việt Nam trong suốt một thập niên, từ việc lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm năm 1963, đến Hiệp định Hòa bình Ba Lê năm 1973, là điều mà ông chống lại một cách cay đắng, cho đến những ngày hỗn loạn cuối cùng của Sài Gòn. Ông đã rời khỏi nước khi xe tăng Bắc Việt cán qua cổng Dinh Độc Lập vào ngày 30 tháng 4, kết thúc một cuộc chiến đã lấy đi 3 triệu sinh mạng người Việt Nam và 58.000 người Mỹ.

Nhưng những bí mật đã theo ông xuống mồ. Ông chưa bao giờ viết hồi ký, mà chỉ cho phép vài cuộc phỏng vấn và tiếp nhận một vài khách viếng thăm. Hàng xóm thấy ông dẫn chó đi bộ xung quanh hồ Neponset, nhưng họ biết rất ít về ông.

“Tôi không đi ra ngoài nhiều”, ông cho biết vào năm 1992. “Tôi không…, nói thế nào nhỉ, đi dạo”.

Các thành viên của cộng đồng người Việt tại Quận Cam có cảm xúc lẫn lộn về cái chết của ông. Ông bị chỉ trích do lãnh đạo một chính phủ tham nhũng và bất tài.

“Cảm giác là một chương khác của lịch sử được giở sang trang”, ông Tony Lâm, nghị viên hội đồng thành phố Westminster và là dân cử người Mỹ gốc Việt đầu tiên, nói.

Ông Lâm cho biết, ông có một “lập trường rất trung dung” khi nói đến những tranh cãi xung quanh ông Thiệu, người mà ông đã gặp ở Việt Nam ba thập niên trước, khi ông Lâm làm việc cho Tòa Đại sứ Mỹ. Ông nhớ rằng ông Thiệu là một người thân thiện, luôn khuyến khích những người khác giúp đỡ dân chúng và nạn nhân trong những trường hợp ngoài tầm kiểm soát của ông.

Ông Lâm nói: “Ông ấy đã điều khiển một con tàu chật hẹp trong thời gian đó. Tôi có cảm tưởng rằng ông đã được dẫn vào một con đường thơ mộng ảo bởi chính sách của Mỹ”.

Bà Mai Công, chủ tịch tổ chức Cộng đồng Việt Nam ở Quận Cam, cho biết: “Có rất nhiều tranh cãi về nhiệm kỳ tổng thống Việt Nam của ông. Ông ấy đã qua đời. Tôi không muốn nói bất cứ điều gì”.

Ông Thiệu, trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi, thừa nhận có những lời chỉ trích từ những người đồng hương của ông.

“Thú thật, tôi đã nói chuyện với họ rất thẳng thắn, nghiêm túc”, ông nói với tờ Boston Globe vào năm 1992. “Ông đổ lỗi cho tôi làm sụp đổ miền Nam Việt Nam, ông chỉ trích tôi, tất cả mọi thứ. Ông được phép làm điều đó. Tôi muốn nhìn thấy ông làm tốt hơn tôi”.

Nguyễn Văn Thiệu (tên có nghĩa là lên cao) sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923, người con út trong năm người con của một thị trấn nghèo ở Phan Rang thuộc tỉnh Ninh Thuận, thời đó là một phần của xứ bảo hộ thuộc Pháp [Trung Kỳ]. Cha ông là một ngư dân-nông dân khá giàu có và là người chủ đất nhỏ.

Ninh Thuận bị người Nhật chiếm đóng vào năm 1942, với rất ít kháng cự, và ông Thiệu đã làm việc cày cấy một cách yên bình bên cạnh cha ông trong 3 năm. Khi chiến tranh thế giới thứ Hai kết thúc, giống như nhiều thanh niên đồng lứa, ông đã tham gia vào phong trào dân tộc chủ nghĩa chống Pháp là Việt Minh (sau này gọi là Việt Cộng) và lên tới chức quận trưởng.

“Đến tháng Tám năm 1946, tôi biết rằng Việt Minh là Cộng Sản. Họ bắn người. Họ lật đổ ủy ban xã. Họ chiếm đất”. Ông Thiệu từng nói với tạp chí Time, giải thích lý do vì sao ông rời bỏ phong trào sau một năm và bí mật vào Sài Gòn để hỗ trợ chính phủ miền Nam Việt Nam.

Ông Thiệu, với sự giúp đỡ của anh trai, ông Nguyễn Văn Hiếu, một luật sư học ở Paris và là viên chức cao cấp trong chính phủ, đã ghi danh vào Học viện Hàng hải và Học viện Quân sự Quốc gia ở Đà Lạt. Ông được phong thiếu úy vào năm 1949, và với chức vụ trung đội trưởng bộ binh trong chiến dịch chống Việt Minh, ông nổi tiếng là một nhà chiến lược giỏi và là một lãnh đạo có khả năng, nếu không muốn nói là táo bạo. Ông đã được lên chức một cách nhanh chóng.

Năm 1954, là chỉ huy trưởng tiểu đoàn với cấp bậc thiếu tá, ông dẫn đầu một cuộc tấn công vào Việt Minh, buộc quân du kích phải rút lui khỏi ngôi làng của ông.

Ông Thiệu tiếp tục lên chức để trở thành chỉ huy trưởng của sư đoàn và quân đoàn hai lần, năm 1957 và năm 1960, được gửi sang Mỹ để được huấn luyện quân sự. Vào tháng 11 năm 1963, ông đã chỉ huy một cuộc tấn công vào doanh trại của quân bảo vệ phủ tổng thống Diệm, góp phần vào việc lật đổ chế độ quân sự và vụ ám sát ông Diệm.

Như là một phần thưởng, ông được giữ chức Tổng thư ký của Hội đồng Quân Nhân Cách Mạng, nắm giữ quyền lực ở miền Nam Việt Nam.

Nam Việt Nam đã có 10 chính phủ trong vòng 19 tháng sau đó. Hoa Kỳ, tuyệt vọng trong việc muốn có một lãnh đạo chống Cộng thống nhất các thành phần xã hội, đã hỗ trợ sau lưng ông Thiệu, một Phật tử cải sang đạo Công giáo và một người không thuộc về phe nhóm quân sự hay chính trị nào.

Với sự hỗ trợ của Mỹ, ông Thiệu đã được bầu làm tổng thống vào tháng 10 năm 1967. Ông hứa hẹn một chế độ dân chủ và cải cách xã hội và “luôn mở rộng cánh cửa hòa bình”. Ông tái đắc cử vào năm 1971; cả hai cuộc bầu cử đều bị xem là có gian lận về phía có lợi cho ông.

Chính quyền của ông Thiệu đầy dẫy tham nhũng, tham lam, bất tài và ghen ghét chính trị nhỏ nhặt, và chính ông cũng thường bị Phó Tổng thống sáng chói, Nguyễn Cao Kỳ, che khuất. Nhưng Washington đã hỗ trợ sau lưng ông Thiệu là người tốt nhất để điều hành cuộc chiến, và ông đã chứng tỏ là một đồng minh trung thành và biết nghe lời.

Ông ủng hộ quyết định của Tổng thống Lyndon Johnson vào tháng 3 năm 1968, chấm dứt đánh bom Bắc Việt để khởi sự các cuộc đàm phán hòa bình. Nhưng ông luôn tin tưởng – và đã được chứng minh là đúng – rằng mục tiêu của Hà Nội là chiến thắng, không phải là một thỏa thuận hòa giải.

Chỉ dưới áp lực không ngừng của Washington, ông mới đồng ý ký hiệp ước hòa bình Paris vào tháng 1 năm 1973, dẫn đến sự rút lui của quân đội Mỹ, nhưng cho phép Hà Nội giữ quân tại chỗ ở miền Nam. Ông Thiệu nói rằng, Tổng thống Richard Nixon hứa Hoa Kỳ sẽ phản ứng mạnh mẽ đối với bất kỳ nỗ lực nào của Bắc Việt để chiếm lãnh thổ miền Nam.

Nhưng một năm sau đó, Tổng thống Gerald Ford đã không làm gì khi Hà Nội phát động một cuộc tấn công lớn trên địa bàn tỉnh Bình Long. Đối với cả Hà Nội và ông Thiệu, tín hiệu đã rõ ràng: Hoa Kỳ đã chán ngấy với chiến tranh.

Ông nói sau này: “Người Mỹ đã hứa với chúng tôi – chúng tôi tin tưởng họ. Tôi đã giành được một cam kết vững chắc từ đồng minh lớn của chúng tôi, lãnh đạo của thế giới tự do, rằng khi nào và nếu Bắc Việt tái xâm lăng, Hoa Kỳ sẽ tích cực và mạnh mẽ can thiệp”.

Vào đầu năm 1975, Bắc Việt đã phát động một cuộc tổng tấn công vào miền Nam Việt Nam, xua toàn bộ các sư đoàn qua biên giới. Lần lượt hết thị trấn này đến thị trấn khác thất thủ hầu như không có giao tranh.

Tại quê hương của ông, các đơn vị người nhái và biệt kích ưu tú của miền Nam hoảng sợ và bỏ chạy. Quân của Hà Nội ủi bằng khu lăng mộ gia đình ông, chôn vùi các mộ bia xuống đất. Đó là sự xúc phạm cực độ trong một xã hội lấy sự thờ cúng tổ tiên làm sự hòa hợp tâm linh.

Ông Thiệu chỉ tư vấn có hai thuộc chức trước khi ra lệnh cho quân đội rút khỏi vùng cao nguyên Trung phần, cho họ 6 tiếng đồng hồ để bắt đầu rút quân – mà sau đó biến thành một vụ giẫm đạp điên loạn của dân chúng và binh lính hoảng hốt. Lực lượng của miền Nam Việt Nam không bao giờ có thể tập hợp lại một cách hiệu quả xung quanh Sài Gòn.

Tuy nhiên, ông Thiệu đã không từ chức, bất chấp sự thúc giục của Washington. Ông dường như không chấp nhận thực tế về những gì đã xảy ra cho đến khi chỉ huy trưởng Sài Gòn, Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, sau khi quan sát các cuộc pháo kích vào quân đội miền Nam ở phía đông thủ đô, đã nói với ông Thiệu [bằng tiếng Pháp] rằng: “Thưa Tổng thống, chiến tranh đã kết thúc”.

Vào ngày 21 tháng 4, với nước mắt giàn giụa, ông Thiệu đã đọc một bài diễn văn mà trong đó ông đổ lỗi cho Hoa Kỳ đã không thực hiện lời hứa của họ và bỏ rơi đồng minh.

“Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ”, ông nói.

Năm ngày sau đó, ông ra đi, hướng tới Đài Loan trên máy bay vận tải C-118 của Mỹ, mang theo 15 tấn hành lý và – theo nhiều bài báo, mà ông Thiệu luôn chối bỏ – số lượng vàng trị giá 15 triệu USD.

Trong suốt hơn 25 năm sống lưu vong, ông dự đoán rằng cộng sản sẽ không tồn tại lâu ở Việt Nam và cảnh báo rằng Hoa Kỳ không nên “bị dụ” vào chuyện thiết lập quan hệ ngoại giao với Hà Nội, là điều Washington đã làm vào năm 1995. Cộng đồng người Việt ở Mỹ ít chú ý đến ông và chất vấn ông trong một bài phát biểu hiếm hoi tại Quận Cam vào đầu thập niên 1990.

Ông nói với tờ Boston Globe vào năm 1992: “Khi dân chủ được phục hồi ở Việt Nam, tôi có thể nói rằng giấc mơ của tôi đã trở thành sự thật. Tôi có thể trở lại với cuộc sống của tôi. Tôi muốn trở về quê của tôi, nơi đã sinh ra tôi. Đó là nơi đẹp nhất“.

Seema Mehta và Dennis McLellan, là ký giả của báo L.A. Times, đóng góp cho bài viết này.

Chống Tàu Diệt Việt Cộng (http://chongtaudvietcong.com/2015/09/29/ong-nguyen-van-thieu-tong-thong-viet-nam-cong-hoa/#more-759)

Ba Sàm (https://anhbasam.wordpress.com/2015/09/29/5258-ong-nguyen-van-thieu-tong-thong-viet-nam-cong-hoa/)

Ý kiến bạn đọc
30/09/201518:06:39
Khách
Neu ba nguoi do con song, thi Mien Nam VN con te hon HN.
30/09/201503:13:19
Khách
Buồn thay cho nguyện ước cuối cùng của ông, hy vọng được trở về và được chết trên quê hương nơi sinh ra và đẹp nhất, một ước nguyện đơn sơ nhưng không thực hiện được, không phải chỉ riêng ông cựu tổng thống NVT mà đối với nhiều vị người Mỹ gốc Việt cũng nằm trong hoàn cảnh tương tự, đành gởi nắm xương tàn nơi đất khách, Tại sao chúng ta không cố gắng tìm ra một giải pháp có hậu như người Nhật đã làm sau khi họ thua trận thế giới thứ hai, phải chấp nhận bỏ qua quá khứ để cùng hướng đến tương lai, mọi thù hận được hóa giải thì ý nguyện đơn giản nhưng thiêng liêng ấy sẽ trong tầm tay chúng ta.
30/09/201500:21:13
Khách
Thiệu là do thời thế tạo ra ( trước đó vô danh ) - sau khi thời thế xuay vần Thiệu trở về chỗ cũ .
29/09/201523:38:08
Khách
Diệm Nhu Cẩn đã ra hàng nhứng gián tiếp ( bật đèn xanh ) Mỹ cho giết .- đối với Hiệp Chủng Quốc Siêu Cường Hoa Kỳ hầnh động đó đúng hay sai hoặc anh hùng mã thượng hay không thì chưa biết được . Tình hình có khác hơn không nếu 3 người đó còn sống .
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.