Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trang Sử Việt: Nguyễn Bỉnh Khiêm

19/05/201500:00:00(Xem: 4023)

Nguyễn Lộc Yên
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của đề tài. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt.)
__________

NGUYỄN BỈNH KHIÊM (1491 - 1585)

Nguyễn Bỉnh Khiêm quê Hải Dương, tên huý là Nguyễn Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, các môn sinh tôn ông là Tuyết Giang phu tử.

Tương truyền, lúc ông còn trẻ được thân mẫu là bà Nhữ Thị Thục, con gái út Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan thời Lê Thánh Tông, bà học rộng biết nhiều, giỏi tướng số, văn chương; dạy ông rất kỹ. Sư phụ của ông là Lương Đắc Bằng là Thượng thư dưới triều Lê sơ, ông là học trò xuất sắc trong các môn sinh, được thầy cho quyển “Thái Ất Thần kinh”. Từ đấy, ông rất giỏi về: Y, lý, số.

Ông thi đỗ Trạng nguyên năm 1535, đời Mạc Thái Tông (Mạc Đăng Doanh), được bổ nhiệm làm Đông Các hiệu thư, sau đấy giữ các chức: Tả thị lang bộ Hình, Tả thị lang bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ. Ông tính cương trực, đã chỉ trích và hạch hỏi 18 cường thần trong triều, nhưng vua không thuận tấu trình. Năm 1542, ông xin về trí sĩ sau 8 năm làm quan tại triều đình.

Ông về Bạch Vân Am ở ẩn, mở trường dạy học và lập “Trung tân quán” để giúp đỡ người nghèo khó và chấn chỉnh đạo đức, cảnh tỉnh bọn phú hào, quan lại địa phương nếu sách nhiễu dân chúng.

Khi nhà Mạc sắp bị diệt vong, sai sứ đến hỏi ý kiến Trạng, Trạng Bảo: “Cao Bằng tuy thiểu, khả diên sổ thế” (Cao Bằng tuy đất hẹp, nhưng có thể giữ được vài đời). Quả đúng như vậy. Khi họ Trịnh muốn soán ngôi nhà Lê, cho sứ giả đến thỉnh ý của Trạng, Trạng bảo: “Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”, nên họ Trịnh không đám soán ngôi. Đến khi Nguyễn Hoàng biết người anh rể muốn hãm hại mình, lại đến nhờ Trạng chỉ cách giữ thân, Trạng bảo: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” nhờ vậy mới thoát thân được.

Mặc dù Trạng về trí sĩ, nhưng nhà Mạc mỗi khi gặp khó khăn, đều sai sứ đến gặp Trạng xin ý kiến. Thấy Trạng thông thạo lý số, giống như Trình Di, Trình Hạo ở Trung Hoa, nên vua nhà Mạc gọi ông là Trình Quốc Công, do đó dân gian gọi là Trạng Trình. Tuy nhiên, có một số tài liệu chứng minh rằng chữ Trạng Trình là bắt nguồn từ tên địa danh của làng Trung Am nơi quê quán của Nguyễn Bỉnh Khiêm mà thôi.

Học trò của ông có nhiều người hiển đạt như: Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh, Trương Thời Cử, Đinh Thời Trung, Nguyễn Văn Chính (con trai cả ông).

Ngày 28 tháng 11 Ất Dậu (1585), ông tạ thế tại quê nhà hưởng thọ 95 tuổi. Vua nhà Mạc (Mạc Mậu Hợp) cử Phụ chính đại thần Ứng vương Mạc Đôn Nhượng cùng văn võ bá quan về lễ tang để tỏ sự tôn kính.

Ông đã để lại: Bạch Vân quốc ngữ thi (100 bài thơ), và sấm Trạng Trình còn lưu truyền khắp dân gian.

*- Thiết nghĩ: Nói đến ông Nguyễn Bỉnh Khiêm, người ta nghĩ ngay đến “sấm Trạng Trình”, vì người ta coi ông là nhà tiên tri số một của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, có lẽ: “Trạng Trình đã hiểu được huyền cơ của tạo hóa”. Sấm Trạng Trình ứng nghiệm từng giai đoạn lịch sử đã qua, đang và sẽ tới. Có nhiều lời sấm ký đã được giải mã, các dự đoán ứng nghiệm đúng chính xác. Lý học của ông đã tiên đoán về nhà Lê Trung Hưng; chỉ cho nhà Mạc tái dựng nghiệp ở Cao Bằng; khuyên họ Trịnh dựa vào vua Lê để cùng tồn tại; chỉ cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá để dung thân, kiểm nghiệm đều đúng. Những dự đoán của ông có cơ sở vững vàng nên gọi Trạng Trình là nhà tiên tri rất xứng đáng.

Trạng Trình là người đầu tiên đã gọi tên nước là “Việt Nam” trong lịch sử, ông đã xác định qua các dòng văn thơ của ông còn lưu lại đến nay “Việt Nam khởi tổ xây nền”. Thơ gửi Trạng nguyên Giáp Hải: “Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại. Tiền hậu quang huy chiếu Việt Nam” (Bầu trời cùng ngắm trông sao sáng. Rực rỡ trước sau rọi Việt Nam). Thơ gửi Thư quốc công Nguyễn Thiến: “Tiền trình vĩ đại quân tu ký. Thùy thị phương danh trọng Việt Nam” (Tiền đề rộng lớn nên ghi nhớ, Danh tiếng cho ai trọng Việt Nam?).

Cảm mộ: Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm, yêu nước lo dân
Quán thông kim cổ, bậc cao nhân
Mến thương nòi giống, dù dân dã
Hạch hỏi đồng liêu, nếu loạn thần
Họ Trịnh hỏi han, thôi soán nghiệp
Nguyễn Hoàng vấn kế, để dung thân
Nghìn sau, sấm Trạng còn danh tiếng
Sơn thuỷ thảnh thơi, lánh bụi trần!

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
Gần đây, chỉ một tấm ảnh của nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ – Nicole Gee – ôm em bé người Afghan với thái độ đầy thương cảm thì nhiều cơ quan truyền thông quốc tế đều phổ biến và ca ngợi! Nhân loại chỉ tôn trọng sự thật, trân quý những tâm hồn cao thượng và những trái tim biết rung động vì tình người – như nữ trung sĩ TQLC Hoa Kỳ, Nicole Gee – chứ nhân loại không bao giờ thán phục hoặc ca ngợi sự tàn ác, dã man, như những gì người csVN đã và đang áp đặt lên thân phận người Việt Nam!
Tôi vừa mới nghe ông Trần Văn Chánh phàn nàn: “Cũng như các hội nghề nghiệp khác, chưa từng thấy Hội nhà giáo Việt Nam, giới giáo chức đại học có một lời tuyên bố hay kiến nghị tập thể gì liên quan những vấn đề quốc kế dân sinh hệ trọng; thậm chí nhiều lần Trung Quốc lấn hiếp Việt Nam ở Biển Đông trong khoảng chục năm gần đây cũng thấy họ im phăng phắc, thủ khẩu như bình…”
Thế giới chưa an toàn và sẽ không an toàn chừng nào các lực lượng khủng bố trên thế giới vẫn còn tồn tại, một nhà báo, cựu phóng viên đài VOA từ Washington D.C. nói với BBC News Tiếng Việt hôm thứ Năm. Sự kiện nước Mỹ bị tấn công vào ngày 11 tháng 09 năm 2001 đã thức tỉnh thế giới về một chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan đang tồn tại trong lòng các nước Trung Đông. Giờ đây, sau 20 năm, liệu người Mỹ có cảm thấy an toàn hơn hay họ vẫn lo sợ về một cuộc tấn công khủng bố khác trên đất nước Hoa Kỳ hay nhằm vào công dân Mỹ ở nước ngoài.
Vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, những kẻ khủng bố Hồi giáo thuộc tổ chức mạng lưới Al-Qaida đã dùng bốn phi cơ dân sự làm thành một loại vũ khí quân sự để tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới ở New York và Lầu Năm Góc ở Washington D.C. Các sự kiện không tặc loại này là lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh của nhân loại và đã có hậu quả nghiêm trọng nhất trong lịch sử cận đại.
Thứ Bảy, ngày 11/09/2021, nước Mỹ tưởng niệm 20 năm vụ tấn công khủng bố thảm khốc nhắm vào tòa tháp đôi World Trade Center ở New York, bộ Quốc Phòng Mỹ ở gần Washington và ở Shanksville tại Pennsylvania. Gần 3.000 người chết, hơn 6.000 người bị thương. Hai mươi năm đã trôi qua, vẫn còn hơn 1.000 người chết đã không thể nhận dạng. Chấn thương tinh thần vẫn còn đó. Mối họa khủng bố vẫn đeo dai dẳng. Lễ tưởng niệm 20 năm vụ khủng bố gây chấn động thế giới diễn ra như thế nào, nhất là trong bối cảnh Hoa Kỳ triệt thoái toàn bộ binh sĩ khỏi Afghanistan sau đúng 20 năm tham chiến ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn với nhà báo Phạm Trần từ Washington.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.