Hôm nay,  

Việt Nam Di Cư 1954

3/10/201500:00:00(View: 9133)

Năm ấy tôi 10 tuổi, đang học lớp Nhì trường Ngô Quyền, Hải Phòng. Môt hôm, me tôi bảo:

- Con vào trường xin phép Thầy cho con đi di cư.

Tôi lẳng lặng tuân theo, vì hai tiếng “di cư” đã xôn xao từ lâu trong xóm rồi. Các cậu tôi ở đâu mà tôi không từng biết cũng đột nhiên xuất hiện đầy nhà tôi, nói chuyện, hút thuốc lào, nhả khói ngập phòng. Tối đến thì nằm tràn lan dưới đất. Cả nhà có một cái quạt máy cũ, các cậu chiếm luôn để ngay đầu mình nằm, có lẽ để che tiếng ngáy của các cậu, y hệt tiếng bánh xe lửa, “kẹt, kẹt, hú.. hú.. kẹt, kẹt…”

Khi tôi đến lớp học, môt không khí buồn thảm đã chăng đầy làm cho những thằng quậy nhất lớp cũng im lặng. Tôi tiến lên bàn thầy, khoanh tay, cúi đầu:

- Thưa Thầy, con xin phép Thầy cho con nghỉ học. Con đi di cư.

Thầy ngước cặp mắt kính dầy như cái đít chai, nhìn tôi, hiền từ:

- Ừ! Thì con đi nhé.

Tôi quay trở lại bàn, lục trong cặp ra lấy hết những cái hình Tạc Dăng mà tôi cắt trong sách báo, với một bó dây cao su và mấy viên bi ve khổng lồ, mầu xanh biếc, to bằng ngón chân cái mà tôi quý lắm, đưa hết cho thằng Thắng, bạn thân nhất của tôi. Nó im lặng, chẳng nói gì, buồn buồn nhìn tôi. Hai đứa lặng lẽ chia tay. Tôi đi xuống thang mà lòng như rỗng hẳn đi.

Về đến nhà, me tôi bảo:

- Con đi đằng này với me.

Tôi gật đầu ngay. Me tôi dẫn tôi đi ra các phố xem thiên hạ nhộn nhịp chuẩn bị di cư. Trên các vỉa hè, người ta bán tống bán tháo mọi thứ cho nhẹ người mà đi. Đồng hồ đứng, đồng hồ bàn, ghế, bàn, lồng chim, quần áo, chai lọ, tranh ảnh, sách vở..đủ thứ lỉnh kỉnh. Tiếng người ồn ào, gay gắt. Những người không đi di cư thì hoặc đứng hoặc ngồi bệt xuống đất mà trả giá rồi khệ nệ ôm ôm, xách xách, kéo lê đồ mới mua được về nhà. Kẻ bán xong được thì phủi đít đứng dậy, vừa thở dài vừa mừng. Nhưng có một điều ai cũng giống ai là khuôn mặt mọi người đều mang một vẻ ưu tư, trầm uất, không thấy có môt nụ cười nào tươi nở, ngay cả những cô thiếu nữ trong chiếc áo dài trịnh trọng, thường ngày vui tươi, hớn hở, mà nay cũng đăm chiêu như các cụ già. Mấy thằng bé trạc tuổi tôi, vẫn chạy nhẩy nhốn nháo mà nay cũng ngơ ngác, xỏ tay túi quần, đứng nhìn mọi sinh hoạt chộn rộn kia như nhìn người của thế giới khác.

Hai mẹ con đi mãi đến mỏi chân mới trở về nhà. Thực ra, đây chỉ là nhà mà me tôi thuê tạm mà thôi. Chúng tôi vốn ở xa mới dọn tới đây được gần hai năm. Me tôi vốn quê Thái Bình, còn Thầy tôi quê Hà Đông. Thầy tôi vốn là ông đồ nho, được dân làng bầu làm Tiên Chỉ, một chức vụ lớn nhất làng, nên được trọng vọng nhưng không có tiền nhiều vì không có thực quyền như ông Lý Trưởng. Với địa vị Tiên Chỉ, mỗi lần họp hành, ăn nhậu thì Thầy được ngồi chiếu trên, và nếu có chặt gà, thì Thầy tôi được cái đầu gà, nếu giết lợn thì Thầy tôi được nguyên một cái “thủ” lợn! Nếu có cãi nhau, thì ý kiến Thầy tôi là ý kiến chung cuộc, không ai dám cãi, chỉ biết cúi đầu nói:

- Vâng, nếu ý kiến cụ Chỉ đã như thế, thì chúng tôi xin vâng. Cụ Chỉ dậy sao, chúng tôi làm vậy!

(Để tỏ lòng tôn trọng, người làng đều bớt đi chữ Tiên, mà gọi ngắn là cụ Chỉ!)

Dân làng mà thấy Thầy tôi đi qua, thì phải ngả nón chào: “Lạy cụ Chỉ ạ!” Nhưng chỉ có thế thôi! Thầy tôi có “tiếng” nhưng không có “miếng”. Nhưng, như người xưa nói: “Của Trời cho, thì tự khắc nó bò vào nhà!” Thầy tôi lại rất giầu, vì có may mắn là được bà Nội tôi chia cho mấy mẫu ruộng ở miền thượng du, cho tá điền cấy rẽ, nên chẳng phải làm gì mà vẫn sống huy hoàng. Nếu không có Việt Minh nổi lên, dán cho Thầy me tôi cái bản án: “Nợ máu với nhân dân” rồi tịch thu hết đất đai, bắt Thầy tôi ra khảo của, thì chúng tôi còn ở quê mãi. Khi Thầy tôi sắp sửa bị đem ra đấu tố, những tá điền thương Thầy tôi, cõng Thầy tôi chạy. Cả nhà tôi lúp xúp chạy theo, hai chị kế tôi thì được cho vào hai cái thúng cho một anh tá điền gánh, còn tôi thì được me tôi cột chặt vào sau lưng, chạy băng ruộng về Hà Nội.

Thầy me tôi về Hà Nội, mua căn nhà thật lớn ngay tại phố Khâm Thiên, hai tầng, mà thang đi lên tầng hai đặt ở giữa phòng khách, có tay vịn hai bên bằng đồng sáng chói. Tưởng thế là hạnh phúc mãi. Ai ngờ, lại gặp trắc trở. Thầy tôi về đấy lại gặp ngay những “cô đầu” gần nhà, dụ dỗ đi hát “ả đào” hoài. Từ đó, mà Thầy me tôi xích mích nhau trầm trọng. Trong một lần cãi nhau nặng lời, me tôi đùng đùng kéo mấy đứa con về Bùi Chu, một tỉnh xa lắc xa lơ, hẻo lánh. Me tôi mua ngay căn nhà đầu đường sát với nhà thờ Bùi Chu, rồi đi buôn đủ thứ. Vì bà rất bạo gan, và muốn làm giầu để cho Thầy tôi “biết mặt”, nên chuyến buôn nào của bà cũng là nguy hiểm, chín chết một sống. Lúc thì bà buôn đá lửa, thuốc cảm Aspirin vào trong vùng Việt Minh đóng. Bà thuê thuyền đinh chở đi, và cho người đục rỗng mái chèo ra, rồi đổ đá lửa, thuốc men vào trong ấy rồi khằn lại. Tới khu Việt Minh, bà khôn khéo nộp tiền mãi lộ, nên bọn chúng cho qua. Nhưng rồi thấy nguy hiểm quá, có thể bị Việt Minh bổ cuốc vào đầu bất cứ lúc nào, bà đi buôn gỗ từ trên rừng thượng xuống đồng bằng. Bà mua gỗ ngay từ đầu nguồn rồi thuê người đóng thành bè, cho thả xuống sông, thuê người đẩy gỗ đi, còn bà thì đi thuyền theo. Đến bến dưới bình nguyên, bà bán từng bè gỗ như thế cho thương lái, lấy tiền chênh lệch, nhưng rồi nguy hiểm chập chùng trong suốt đường đi, nào cướp, nào tai nạn, có những bè gỗ dạt vào bờ, hay đâm vào đá, bể tung, muốn đi vớt lại cũng “chằng ăn, trăn cuốn”. Bà lại bỏ. Rồi đi buôn thuốc lào. Từng bánh thuốc lào Vĩnh Bảo được nén chặt trong các thùng nhôm tròn, cao khoảng gần một thước, đường kính cũng gần một thước. Bà cho chở lên xe “ca”, loại xe chở hành khách ngày xưa, mang đi các tỉnh. Xe ca hồi đó chỉ có ghế gỗ, ngồi trên đường xóc muốn đứt cả ruột, giữa đám bụi đỏ mù trời. Nhưng vì xe ca hay bị dính mìn của bọn Viêt Minh, nổ tung xác pháo nên bà lại đi tầu thủy, loại tầu từ thế chiến thứ 2, do gia đình họ Bạch đấu thầu, chạy chậm rì, phun khói mù trời. Tầu thủy thì không sợ bị mìn, nhưng lại sợ đắm! Mấy cái tầu ấy cũ xì, gỗ và sắt làm đáy tầu chỉ mấy năm là rỉ sét, nếu chở nặng quá thì bể tung, người chết hàng lũ như đàn cá bị trúng thuốc độc.

Trong tất cả các chuyến đi ấy, me tôi vất vả lắm, nhưng ngược lại, tôi thì khoái vô cùng vì bà cho tôi, thằng Út, đi theo, còn các anh chị khác thì ở nhà, thèm nhỏ giãi... Nhưng thôi, trở lại chuyện di cư 1954.

Một buổi sáng lạnh, me tôi đánh thức chúng tôi dậy và hấp tấp leo lên một chiếc xe nhà binh đậu trước cửa. Gia tài chúng tôi mang theo chỉ là hai cái hòm gỗ. Cùng với một số gia đình gần bên, chúng tôi được chở tới “căng con cóc”, là một nơi tập trung tạm dưới những cái lều nhà binh mầu xanh dầy, khổng lồ chứa được vài chục gia đình. (Gọi là “căng con cóc” vì có 4 cái tượng con cóc ngồi chồm hổm, chĩa miệng vào trong, phun nước vào một cái hồ cạn.) Mỗi gia đình, tùy theo số người mà nhận những chiếc ghế bố xếp của nhà binh, và chăn. Mỗi ngày chúng tôi được phát đồ ăn hai lần. Chiều chiều, máy phóng thanh đặt tại bốn góc “căng” phổ biến tin tức và phát bài “Sáng trăng sáng cả vườn chè...anh chưa thi đỗ, thì chưa động phòng” do ca sĩ Xuân Sơn hát. Ngoài ra, còn các bài “Thuyền Viễn Xứ” do Mai Hương ca, và bài “Ô Mê Ly” do cả ban nhạc Thái Thanh, Thái Hằng, Hoài Trung, Hoài Bắc trình bầy. Hoài Trung giả tiếng Ngưa hí “hí.. hí.. í. í..í” nghe giống hệt tiếng ngựa!

Ở đấy được vài ngày, chúng tôi lại phải di chuyển về “căng xi măng”, một nơi tập trung lớn gấp nhiều lần “căng con cóc”. Ở đây được ăn nhiều hơn, nhưng lại gặp trở ngại là vì ở gần nhà máy sản xuất xi măng nên bụi xi măng lúc nào cũng nghẹt cả không gian. Mũi chúng tôi lúc nào cũng trắng xóa. Lúc đó lũ trẻ chúng tôi chẳng biết hiểm họa của bụi xi măng khi vào phổi thì làm sao, mà chỉ ham vui, thích đứng ngắm một cái cầu “rút”, gần nhà máy, khi có tầu lớn đi ngang, thì chiếc cầu từ từ nứt ra ở giữa, rồi từ từ mở lên cao, cho tầu đi quan xong thì lại từ từ gập xuống.

Rồi buổi sáng ấy cũng đến. Máy phóng thanh kêu gọi mọi người thức dậy, mang hết hành lý lên xe, ra bến tầu. Chúng tôi lần lượt leo lên xe, tương đối gọn gàng, nhưng cũng có nhiều người lại mang theo những bó chiếu dài, có lẽ sợ miền Nam không có chiếu! Một bà cụ giắt đầy khăn măt vào giải lưng quần, bay phất phới, lại khệ nệ bưng một cái rổ to đầy, chất nặng những thứ lỉnh kỉnh gì đó, mà đến khi lên tầu, bị buộc phải vất lại, bà khóc nức nở, cứ “Giê ma lạy Chúa tôi! Giê Ma lạy Chúa tôi!”

Tới bến tầu, mọi người phải sắp hàng đi theo những cái cọc chăng giây, và lần lượt mọi người phải vạch bụng ra cho một người cầm bình xịt thuốc DDT vào bụng trắng xóa, để diệt chấy rận. Đi hết hàng xịt thuốc, thì lên tầu “há mồm” là chiếc tầu đổ bộ nên không có phòng ốc gì, chỉ là môt khoảng sàn trống cho người di cư nằm ngồi tùm lum. Không có phòng vệ sinh, chỉ có mấy cái khung sắt hàn dính vào hai bên sườn tầu ở trên cao, ngồi trong cái khung sắt ấy mà thả “bom” xuống biển! Đi khoảng nửa ngày ra tới tầu lớn như một cái thành phố có nhiều tầng. Từ tầu “há mồm”, mọi người phải leo lên cầu tầu là một cái cầu treo rất cao bắt tuốt tới boong tầu. Đến đầu cầu thang, từng người môt được phát một cái khăn mặt, một hộp kẹo xô-cô-la, môt cái bàn chải đánh răng, môt hộp kem đánh răng, loại hộp tròn, mở ra, dùng bàn chải chà chà vào lớp bột cứng bên trong. Me tôi lôi từng đứa vào phòng, chiếm mấy cái giường tầng liền nhau. Tôi hào hứng leo lên tầng cao nhất, mà không biết rằng, khi tầu chạy, tôi say sóng, nôn thốc tháo xuống đầy mặt người nằm dưới! Vì tính tò mò, sau khi cả nhà an vị, tôi chạy lung tung, lên khoang này, xuống khoang kia, có lẽ đến 7,8 tầng, rồi lại chạy lên boong, ngó người ngồi nằm la liệt. Điều buồn cười nhất là việc đi vệ sinh. Phòng vệ sinh ở trên tầu là môt dẫy bàn cầu trống huyếch hoác, không có cửa. Mọi người đều quen ngồi kiểu nước lụt, nên khi đi vệ sinh, cứ leo lên ngồi chồm hỗm bên trên, phơi hết đồ lòng ra. Mấy anh lính thủy Mỹ cười bò lăn rồi kéo từng người ngồi bệt xuống bàn cầu. Nhiều cụ già không chịu, vì vừa xấu hổ, vừa dốt nát, nên cự cãi um xùm, mà lính Mỹ dễ tính, không cãi lại.

Đến bữa ăn, thì xếp hàng đi lãnh cơm, táo, bánh mì.. Mấy cụ bà gốc quê thấy trái táo thì chẳng biết là cái gì, cứ trố mắt ra mà xăm xoi. Còn những ông tham ăn, vơ vét cho đầy khay, nhét vào đầy bụng để lúc say sóng thì trả lại sàn tầu, nhơ nhớp kinh khủng.

Tầu chạy chừng 3, 4 ngày thì tới bến Saigon. Khi tầu ngừng và nghe tiếng người la ó um xùm, tôi chạy lên boong để thấy môt khung cảnh thật lạ. Lạ nhất là cảnh bán đồ ăn, trái cây từ dưới sông lên tầu. Những chiếc thuyền con kẹp sát thành tầu, giơ cao những cây gậy thật dài lên tới boong, trên đầu gậy là cái rổ nhỏ, trong đó đựng trái cây, bánh, kẹo. Ai ở trên boong mà mua, thì cứ việc bốc ra rồi bỏ tiền vào trong đó, không mặc cả gì hết. Người ở dưới từ từ rút cái rổ xuống, nhặt tiền ra rồi lại bỏ đồ vào trong rồi đẩy cây lên… Tầu ngừng một thời gian rồi thả thang xuống cho mọi người lên bờ. Gia đình chúng tôi xuống sau hết để tìm người quen đến đón: ông anh rể của tôi, đã đi theo Sở vào Nam trước cả tháng rồi. Khi chúng tôi xuống đến bến, thì thấy trên bờ có giăng một cái biểu ngữ mầu vàng dài cả chục thước, đề chữ: “Hân hoan đón chào người di cư thứ 1 triệu!”. Dưới cái biểu ngữ là một dẫy hai, ba cái bàn, trên đó, chất đống đầy tiền mới. Cứ mỗi đầu người đi qua, thì được đưa cho 800 đồng! Mấy nhân viên làm việc cho Tổng Cuộc Di Cư hồi đó, cứ bốc tiền ra mà đưa, chẳng hỏi tên tuổi gì. Sau khi lãnh tiền, thì có loa gọi, hỏi ai muốn về các trại định cư thì xếp hàng, lên xe nhà binh, chở về chỗ định cư, có thể là Hố Nai, Gia Kiệm, Xóm Mới, Bùi Môn hay đi xa hơn nữa, tới tận Rạch Giá, Hà Tiên. Vì đa số dân di cư là Công Giáo nên có các linh mục đứng đón, đưa về từng vùng thích hợp với địa phương cũ của mình ở Bắc. Còn chúng tôi, có ông anh rể đến đón, nên đi riêng về khu tạm cư ở Khu Cầu Sắt, Khánh Hội, nơi dành riêng cho công chức miền Bắc di cư. Chúng tôi chỉ ở tạm đó có một tháng, rồi me tôi kéo chúng tôi về ngay trung tâm Khánh Hội. Bà thuê một căn nhà sàn, dựng trên đống sình lầy quanh năm, đường đi trước nhà là những cây cầu gổ ọp ẹp. Dưới chân cầu, chuột cống to đùng chạy qua chạy lại ăn rác và những thứ phóng uế do con người thải xuống…

Tới giai đoạn này là chấm dứt cuộc di cư của gia đình chúng tôi. Tại đây, các anh chị em tôi đã cắp cặp đi học và bắt đầu một cuộc đời mới tại miền Nam “đất lành, chim đậu”, để hòa nhập với đời sống Nam Kỳ, ăn hột vịt lộn, giá sống, mắm chua và hủ tiếu.

Đời sống cứ thế mà trôi đi. Đến nay, nhìn lại ngày di cư năm ấy đã đúng 60 năm! Nhanh quá! Như Cao Bá Quát đã viết: “Nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ. Có bao lăm ba vạn sáu nghìn ngày. Như thoi đưa, như bóng sổ, như gang tay…”

Chu Tất Tiến

Reader's Comment
1/3/201612:52:42
Guest
Thời đó Trăng sáng vườn chè do ca sỹ Ánh Tuyết hát. Đến cái đoạn "động phòng" thì rất nũng nịu...
1/3/201606:25:26
Guest
Tôi vốn sinh sau 1954 nên rất mù mờ về chuyện đi cư . Chỉ bố mẹ tôi là những người trong thời gian.đó, bài viết rất hay đã cho tôi hiểu về những nă tháng đó
3/11/201519:09:14
Guest
Hay quá, nhưng lúc di cư 1954, ca sĩ Xuân Sơn với Trăng Sáng Vườn Chè mới lên 3 lên 4 mà thôi! Có thể là ca sĩ nào khác chăng?
3/11/201501:32:13
Guest
Thời gian tác giả di cư năm 1954 làm gì có ca sỉ Xuân sơn hát bài Trăng sáng vườn chè và ca sỉ Mai hương hát bài Thuyền viển sứ..có chăng là ban Thăng long với gia đình Thái Thanh
3/10/201519:39:37
Guest
Bài viết thật sống động. Cảm ơn tác giả đã chia sẻ vì lớp người sinh sau để muộn như chúng tôi không biết gì về di cư năm 1954 cả.
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.



Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.