Hôm nay,  

Ngược Dòng Khổng Tử Viện

22/01/201500:00:00(Xem: 4412)

Sau đây là diễn trình ra đời của các viện Khổng Tử trong kế hoạch "quyền lực mềm" của giới lãnh đạo đảng CSTQ.

Năm 2004, giới lãnh đạo Bắc Kinh vận động mở một viện Khổng Tử đầu tiên ở Hàn quốc (Nam Hàn) dưới danh nghĩa phổ biến văn hóa, văn học Trung quốc cũng như để giao lưu với người dân Nam Hàn, chủ yếu là giới sinh viên. Sở dĩ Bắc Kinh chọn quốc gia này để làm thí điểm đầu tiên là vì vào thời gian đó Hàn quốc có mối liên hệ tốt với Trung quốc để trao đổi mậu dịch và nhờ Bắc Kinh áp lực Bình Nhưỡng ngưng chế tạo tên lửa, ngưng thử nghiệm vũ khí hạt nhân. Hơn nữa Hàn quốc là nước có nhiều người theo đạo Khổng hay tôn kính những giá trị của đạo này nhất thế giới.

Khi thấy sự xuất hiện của viện Khổng Tử ở Hàn quốc không có gì trở ngại, qua năm sau (2005) Bắc Kinh với tay sang Nhật, giao thiệp với một số trường đại học để ngỏ ý mở viện Khổng Tử trong khuôn viên của các trường. Vào thời điểm này, vấn đề bang giao giữa hai nước Trung-Nhật chưa căng thẳng và vì tin vào cử chỉ hiếu hòa của Bắc Kinh, nên ý định lập các viện Khổng Tử chẳng gặp sự chống đối nào. Viện Khổng Tử còn là nơi dạy tiếng Trung quốc miễn phí cho sinh viên.

Sau sự xuất hiện suông sẻ tại Nhật, Bắc Kinh bắt đầu lan nhanh đến các đại học tại Bắc Mỹ, Âu châu,... Trong bài bản báo cáo nội bộ, lãnh đạo Bắc Kinh bắt đầu dùng chữ "Quyền lực mềm" (một ý niệm do Giáo sư Joseph Nye thuộc Đại học Harvard khai triển) để mô tả chủ đích và hiệu năng của các viện Khổng Tử ở hải ngoại, đặc biệt trong mặt trận tuyên truyền. Theo con số mà Bắc Kinh công bố thì tính đến giữa năm 2014 có tất cả 440 viện Khổng Tử tại 120 quốc gia trên thế giới.

Trong số 440 viện Khổng Tử tại thời điểm đó, chưa có viện nào tại Việt Nam. Có người cho rằng Bắc Kinh không có nhu cầu tuyên truyền trực tiếp tại Việt Nam vì toàn bộ hệ thống truyền thông, tất cả báo đài đều nằm trong tay lãnh đạo đảng CSVN. Do đó Bắc Kinh chỉ cần đưa chỉ thị cho lãnh đạo CSVN là đủ. Người ta đã từng thấy loại lệnh này như chỉ thị của tỉnh ủy Quảng Đông cho Bộ Ngoại Giao Việt Nam vào tháng 6.2014

(http://xuandienhannom.blogspot.com/2014/06/chi-thi-cua-bi-thu-tinh-uy-quang-ong.html).

Và ngay cả khi Bắc Kinh chưa cần lên tiếng, đã có những người như Bộ Trưởng Quốc Phòng Phùng Quang Thanh lo trước giùm họ. Ông bức xúc: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”. Người nghe ông Thanh nói cứ tưởng Bắc Kinh đã trả lại cho Việt Nam các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu và thề hứa sẽ chẳng bao giờ đưa giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam nữa.

Cũng vào khoảng từ giữa năm 2014, các viện Khổng Tử tại Hoa Kỳ, Canada, Âu châu cũng như tại Nhật Bản bắt đầu bị nhận dạng và phản đối công khai. Sau nhiều nỗ lực dàn xếp âm thầm với các viện này, thành phần trí thức, giáo sư, sinh viên tại các quốc gia chủ nhà đều phải thừa nhận công khai rằng các viện Khổng Tử chỉ đóng vai trò cơ sở tuyên truyền cho chế độ Cộng sản Trung quốc và tại nhiều nơi còn là những ổ gián điệp trá hình của Bắc Kinh, đặc biệt trong lãnh vực đánh cắp các phát minh công nghệ của các chương trình nghiên cứu cao cấp tại các đại học.

Đại học Chicago ở Hoa Kỳ là nơi bắn "phát súng lệnh" đầu tiên. 108 giáo sư tại đây ký tên chung trong một bản kiến nghị cảnh báo nhà trường đã tham gia vào một dự án sư phạm mang tính chính trị, hoạt động trên toàn thế giới; đó là một dự án về nhiều mặt đi ngược với giá trị học thuật của một trường đại học.

Sau đại học Chicago, đến đại học Pennsylvania State, rồi lan sang đại học McMaster, đại học Sherbrooke ở Canada,... Tin tức phản đối các viện Khổng Tử ở Mỹ và Canada được truyền đi nhanh chóng khiến cho nhiều quốc gia có viện Khổng Tử phải xét lại vấn đề.

Sự kiện lớn đến độ Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Quốc hội Hoa Kỳ đã mở cuộc điều trần về mục tiêu của Bắc Kinh qua các viện Khổng Tử. Tại buổi điều trần này, có lẽ Giáo sư Perry Link, chuyên gia về Trung quốc của đại học California, là người cung cấp nhiều dữ kiện cụ thể nhất. Ông cho biết các nhân viên phải là đảng viên đảng Cộng sản mới được Bắc Kinh tuyển chọn cho sang làm việc tại các viện Khổng Tử ở hải ngoại. Sau đó, những người được tuyển chọn phải qua một khóa huấn luyện về tuyên truyền, sao có lợi nhất cho chế độ và các lãnh tụ Cộng sản Trung quốc. Tiền lương của những nhân viên này đều do nhà nước Trung quốc trả nên không bị ràng buộc gì bởi những luật lệ của các trường đại học.

Nhiều dẫn chứng được trình bày tại buổi điều trần. Chẳng hạn như khi nói đến lịch sử Trung quốc các nhân viên viện Khổng Tử chỉ nói tốt cho đảng Cộng sản, và không đề cập đến vấn đề Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông hay biến cố đẩm máu Thiên An Môn.…Theo các giáo sư, đây không phải là truyền thống truy cứu khoa học và đạo đức nghề nghiệp của các trường đại học.

Đại diện Hiệp hội Giáo sư Hoa Kỳ (AAUP) tại buổi điều trần cũng kể rằng: "Chúng tôi không hiểu tại sao vào ngày 20 tháng 11 vừa qua, tờ Nhân Dân của Trung Quốc lại dành nguyên cả trang báo viết rằng chúng tôi, tức là Hiệp hội AAUP, cần có thêm nhiều viện Khổng Tử hơn nữa tại các trường đại học Hoa Kỳ. Rồi tờ báo này yêu cầu luôn chính phủ Trung quốc cần phải đáp ứng nguyện vọng đó". Vị đại diện AAUP khẳng định rằng viện Khổng Tử là bàn tay nối dài của chính quyền đảng Cộng sản Trung quốc. Các viện này xem thường mọi giá trị của quyền tự do học hỏi.

Dân biểu Chris Smith, Chủ tịch Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoa Kỳ, cũng đồng ý việc học Hoa ngữ là điều tốt, nhưng không phải vì thế mà phải mang cả cái gánh nặng viện Khổng Tử. Sau cuộc điều trần này, Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoa kỳ đã yêu cầu viện Giám sát chính phủ Mỹ của Quốc hội Hoa Kỳ (gọi tắt là GAO) điều tra xem các viện Khổng Tử hiện nay có cản trở đến quyền tự do học hỏi của sinh viên Hoa Kỳ hay không, và điều tra xem các trường đại học Hoa Kỳ với các viện Khổng Tử có bị Trung quốc chi phối hay không?

Điều đáng buồn là trong lúc khắp thế giới báo động về các viện Khổng Tử, nhà cầm quyền Việt Nam lại long trọng khai trương một viện Khổng Tử mới tinh ngay tại thủ đô Hà Nội vào ngày 27/12/2014. Lễ khai trương diễn ra trong dịp ông Du Chính Thanh, Ủy viên bộ Chính trị kiêm Chủ tịch Chính hiệp Trung quốc, sang Việt Nam ngay trước Hội nghị Trung Ương đảng CSVN để định các nhân sự lãnh đạo cho Đại Hội kỳ tới. Hiện tượng Bắc Kinh cử người đem chỉ thị về nhân sự sang Việt Nam trước các kỳ chọn người lãnh đạo mới đã trở thành một truyền thống khá công khai.

Chính vì vậy mà việc mở viện Khổng Tử mới tại Hà Nội sau bao năm vắng bóng được nhiều người kết luận là động thái cúi đầu nhận lệnh của giới lãnh đạo CSVN. Các ghế cao nhất tại Đại Hội Đảng XII đã được thiên triều đóng ấn.

Ngô Văn@S:

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.