Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Trang Sử Việt: Nguyễn Trãi

13/01/201500:00:00(Xem: 2258)

Nguyễn Lộc Yên
(Lời tâm tình: Bài viết về “Sử Việt” chỉ khái quát, không đi sâu từng chi tiết của đề tài. Cuối mỗi bài viết, phần “Thiết nghĩ” nếu có chỉ là góp ý của tác giả, không ngoài mục đích làm sáng tỏ thêm về nội dung đã biên soạn. Trang Sử Việt luôn mong mỏi nhúm nhen tình tự dân tộc, niềm yêu thương quê hương và giữ gìn Việt ngữ cùng văn hóa Việt.
________________

NGUYỄN TRÃI
(1380 - 1442)

Nguyễn Trãi quê ở Hà Tây, hiệu Ức Trai, cháu ngoại Tư đồ Trần Nguyên Hãn. Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh, lúc 20 tuổi.

Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, nhân cơ hội ấy quân Minh xâm lược nước ta. Năm 1407, cha của ông là Nguyễn Phi Khanh cùng bị bắt với các vua quan nhà Hồ lúc ấy. Ông tiễn cha đến ải Nam Quan, thấy cha bị xiềng xích, ông đau lòng rơi lệ. Cha ông thấy vậy bảo: “con hãy trở về lo phục hận cho nước, phục thù cho cha, như thế mới là đại hiếu?!”

Nguyễn Trãi trở về viết “Bình Ngô sách”. Năm 1421, ông đến Lỗi Giang gặp Lê Lợi dâng kế sách diệt Minh, chúa tôi thảo luận rất tương đắc, Lê Lợi mời ông làm tham mưu. Thời ấy lòng dân còn tin “Cơ trời, vận nước”, nên ông dùng kế, lấy mỡ viết lên lá cây “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trãi làm thần) kiến ăn mỡ, hiện ra chữ ấy trên lá cây, dân chúng tin là chữ của than linh chỉ điểm vì vậy hào kiệt theo Bình Định Vương ngoài việc phục quốc vì chính nghĩa, còn tin ý trời đã định sẽ thành công nên càng ngày người theo về đông đảo hơn.

Nguyễn Trãi đưa phương thức đấu tranh “Tâm Công” là đấu tranh bằng tâm lý, bằng tư tưởng, dùng chính nghĩa để kết hợp toàn dân, quân dân cùng đoàn kết trên một mặt trận chung chống kẻ thù, nên nhiều tướng sĩ theo về chống giặc. Nghĩa quân được dân chúng che dấu và tiếp vận lương thực. Ông còn đưa phương thức đấu tranh “Địch vận”, nên năm 1427 nhiều tướng giặc mở cửa thành xin hàng. Sau mười năm, chúa tôi đồng cam cộng khổ đã đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi đất nước.

Giặc đầu hàng, ông tâu xin Bình Định Vương phát huy đức tính nhân nghĩa để chứng tỏ uy dũng của nước ta và xoa dịu sự thất bại nhục nhã của nhà Minh, để hai nước Việt, Tàu tránh sự chinh chiến tái diễn, gây tang tóc quân dân hai nước. Tù binh giặc được khoan hồng và cho lương thực, ngựa thuyền trở về Tàu. Năm 1428, đất nước hoàn toàn bình định, Lê Thái tổ phong ông Nhập nội Hành khiển (như Thủ tướng). Ông viết “Bình Ngô Đại Cáo”(a) ý sâu sắc là một áng văn bất hủ, như:

“Dẫu cường nhược có lúc khác nhau
Song hào kiệt thời nào cũng có”

Năm 1433, Lê Thái tổ băng hà, ông viết văn bia Vĩnh Lăng, ghi thịnh đức vào bia đá lưu truyền công đức của Lê Lợi. Sau này ông thấy quan trường đố kỵ nên cáo quan về Côn Sơn (Hải Dương) ở ẩn. Nhưng tâm hồn của ông luôn lo lắng cho quốc gia:

“Còn có một lòng âu việc nước
Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung”

Năm 1434, vua triệu ông ra lo việc văn hóa và chính trị cho triều đình. Trước khi vụ án Lệ chi viên xảy ra, ông đã linh cảm:

Họa phúc có mầm đâu một buổi
Anh hùng để hận mấy nghìn năm!

Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm tuất (19-9-1442), gia đình ông bị tru di tam tộc(b) (3 đời bị xử trảm), do hàm oan vụ án Lệ chi viên, vì có một số hoạn quan ganh ghét tài năng của ông, cố ý hãm hại. Trong thời Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi cũng đã bị hạ ngục. Trước khi xử trảm vụ án bi phẫn, ông thổ lộ tâm tình u uất ấy qua bài thơ “Tự thán” bằng quốc âm. Thật buồn và thấm thía:

Chiếc thuyền lơ lửng trên sông
Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay
Chắc chi thiên hạ đời nay
Mà đem non nước, làm rầy chiêm bao
Đã buồn về trận mưa rào
Lại đau về nỗi ào ào gió đông
Mây trôi nước chảy xuôi dòng
Chiếc thuyền lơ lửng trên sông một mình!!!

Nguyễn Trãi để lại nhiều tác phẩm có giá trị: Gia Huấn Ca, Quốc Âm thi tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai dư địa chí...

Nguyễn Trãi văn thơ phong phú, sâu sắc, nên tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa thế giới (UNESCO) bình bầu ông là văn nhân của Thế giới vào năm 1980.

Vụ án Lệ chi viên, vợ chánh Nguyễn Trãi là bà Trần Thị Thành với 3 người con trai: Hồng Tiệm, Hồng Lục và Hồng Qui đều bị thảm sát. Riêng bà Phạm Thị Mẫn là vợ thứ, đang mang thai Nguyễn Anh Võ 3 tháng, bà trốn kịp, nhưng không đem theo được người con gái lớn là Nguyễn Thị Đào. Tương truyền, Nguyễn Thị Đào, được một vị quan nuôi dưỡng, lớn lên thông minh nhưng bị câm. Vị quan ấy rất thương và kể về gốc gác của bà. Khi bà được 14 tuổi, vị quan ấy qua đời, bà lưu lạc vào nhà đào nương, tuy bị câm không hát được nhưng gõ phách rất giỏi. Một hôm Lê Thánh Tông sai nội giám đón ca nhi vào triều hát cho vua nghe. Vua nghe các ca nhi khác ca hát nhưng không hài lòng, còn bà thì chỉ ngồi gõ nhịp, vua hỏi: “Sao nhà ngươi không hát”, bà quá cảm xúc, bỗng ứng khẩu hát giọng du dương thánh thót:

Ví dù duyên chẳng nợ nần
Thì đem nhau xuống cõi trần làm chi?!

Thái hậu Ngô Thị Ngọc Giao, nhớ lại lúc mang thai Lê Tư Thành, thấy mộng Kim đồng và Ngọc nữ giáng phàm mà Thị Đào lại giống như Ngọc nữ trong mộng, nên rất thương cảm.

Lê Thánh Tông cũng mến yêu, phong Nguyễn Thị Đào chức Chiêu nghi. Dù vậy, bà vẫn chưa dám thổ lộ gốc gác của mình.

Vụ án Lệ chi viên, sau 22 năm vào năm 1464 (Giáp thân), mới được minh oan, Lê Thánh tông xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi, vua phê: “Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo” (Lòng dạ Ức trai sáng vằng vặc như sao khuê). Ba năm sau, vua lại xuống chiếu cho Trần Khắc Viện đi tìm di cảo thơ văn của Nguyễn Trãi, nhờ vậy thơ văn Nguyễn Trãi mới còn đến nay; khi đó bà mới lộ mặt. Vua và Thái hậu ngạc nhiên và hết lòng mến thương. Bà được phép về thăm mẹ và em là Nguyễn Anh Võ đang lẩn trốn ở quê ngoại tại Hà Đông (nay Hà Tây). Khi Lê Thánh Tông xuống chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi thì Anh Võ lúc ấy 19 tuổi ra mặt và thi đỗ Sinh đồ (Tú tài) được bổ làm Tri huyện Tây Châu thuộc Nam Định và được cấp ruộng tế tự. Sau này Anh Võ làm quan đến chức Tham chính và 2 người con của Anh Võ là Nguyễn Tô Giám và Nguyễn Tô Kiên đều đỗ Tiến sĩ.

*- Thiết nghĩ: Sự tru di tam tộc Nguyễn Trãi. Sử gia Trần Trọng Kim đã viết: “Nghĩ mà buồn thay, những vị công thần thời xưa, vì hai chữ công danh, mà đem lòng sắt son phù tá quân vương trong nguy nan, mong được chút hiển vinh cho thỏa chí trượng phu. Ngờ đâu hết chim bẻ ná, hết thỏ giết chó săn. Người ta khi đã thành công, thân mình khó giữ, mà có khi vạ lây đến họ hàng”. Tuy nhiên, chúng ta phải ngẫm nghĩ: “Giết hại công thần là đáng trách. Nhưng lòng nhiệt huyết gìn giữ hay sang sửa quốc gia, hoặc cao hơn là hy sinh cho tổ quốc; không phải chỉ vì công danh, mà còn tinh thần trách nhiệm và lương tâm". Vì vậy Bát Nàn Công chúa đã nói: Bẩm Trưng vương, công danh phú quí tôi không màng, lúc bình tôi vào chùa tu hành, nhưng khi có giặc ngoại xâm, tôi sẵn sàng ra trận giúp nước. Lê Lai xin ra trận vì tiết nghĩa; Vua Duy Tân bỏ cung vàng, xuất bôn vì dân tộc. Ai bảo, họ dấn thân vì công danh, mà vì tổ quốc đấy chứ?!!!”

Cảm phục: Nguyễn Trãi

Tiễn biệt cha già, nhẫn nhục trông
Tâm tư khắc khoải nước nguy vong
Hùng hồn hịch cáo, thâm trầm ý
Sâu sắc thơ văn, thấm thía lòng
Lo nước, giữ gìn canh cánh giữ
Thương dân, mong mỏi ấm no mong
Lam Sơn vang vọng, hồn non nước
Tha thiết đồng bào, nghĩ núi sông!
.
Tha thiết đồng bào, nghĩ núi sông!
Mải mê kháng chiến, mặc gai chông
Việt, Tàu lời lẽ, riêng ngôn ngữ
Nam, Bắc giống nòi, khác thổ phong
Luận chiến dùng mưu, hơn tử chiến
Xét công dụng võ, kém “tâm công”(b)
Hết chim bẻ ná, đời ganh ghét(c)
Con cháu vẻ vang, rạng tổ tông!
__________________

(a)- Bình Ngô Đại Cáo: Được coi là bảng tuyên ngôn độc lập thứ II của VN (bảng tuyên... thứ I là bài thơ Lý Thường Kiệt).

(b)- Tâm công: Mưu phạt Tâm công là chiến lược “đánh vào lòng người” quan trọng hơn “công thành, hãm trận”. Nêu cao chính nghĩa để “toàn dân kháng chiến, khiến địch đầu hàng”.

(c)- Hết chim bẻ ná: Do câu “Điểu tận cung tàn,” chim hết bẻ ná. Nguyễn Trãi là khai quốc công thần, mà bị oan bởi vụ án Lệ chi viên.

Nguyễn Lộc Yên

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Kính thưa mẹ, Cứ mỗi tháng 5 về, nước Mỹ dành ngày Chủ Nhật của tuần đầu tiên làm Ngày của Mẹ (Mother's Day), ngày để tôn vinh tất cả những người Mẹ, những người đã mang nặng đẻ đau, suốt đời thầm lặng chịu thương, chịu khó và chịu khổ để nuôi những đứa con lớn khôn thành người.
Khoảng 4.500 người đã được phỏng vấn, trong đó có khoảng 700 người gốc Á. 49% những người được hỏi có nguồn gốc châu Á đã từng trải qua sự phân biệt chủng tộc trong đại dịch. Trong 62 phần trăm các trường hợp, đó là các cuộc tấn công bằng lời nói. Tuy nhiên, 11% cũng bị bạo hành thể xác (koerperliche Gewalt) như khạc nhổ, xô đẩy hoặc xịt (phun) thuốc khử trùng.
Nguyệt Quỳnh: Anh còn điều gì khác muốn chia sẻ thêm? Trịnh Bá Phương: Trong cuộc đấu tranh giữ đất, nhóm chúng tôi đã tham gia các phong trào khác như bảo vệ cây xanh, bảo vệ môi trường, tham gia biểu tình đòi tự do cho các nhà yêu nước, tham gia các phiên toà xét xử người yêu nước bị nhà nước cộng sản bắt giam tuỳ tiện. Và hướng về biển đông, chống sự bành trướng của Bắc Kinh khi đã cướp Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam! Và mới đây là phản đối bè lũ bán nước đã đưa ra dự luật đặc khu và dự luật an ninh mạng.
Có một câu thần chú mới mà các nhân viên FBI đã khuyên tất cả chúng ta phải học thuộc và nên áp dụng trong thời đại này. Thời đại của cao trào xả súng đang diễn ra khắp nơi ở Hoa Kỳ. Xin giới thiệu cùng bạn đọc một bài viết hữu ích của nữ ký giả Alaa Elassar của đài CNN đang được đăng tải trên liên mạng. Cô đã nêu ra những lời khuyên rất cần thiết cho chúng ta, căn bản dựa trên những video clips huấn luyện và đào tạo nhân viên của FBI.
Since I arrived in the United States in “Black April” of 1975 (the Fall of Saigon) and had been resettled in Oklahoma City to date, I have had two opportunities to go back to schools. The first one I studied at Oklahoma City University (OCU) for 5 years and received my degree in 1981. Having to work during day time, I could only go to school in the evening.
Như vậy, từ hiện tượng đảng viên “quay lưng” lại với đảng đến chuyện dân bỏ mặc mọi việc cho nhà nước lo cho tới chuyện thanh niên, rường cột của Tổ quốc, cũng “khô đoàn” và “nhạt đảng” thì điều được gọi là “nền tảng Tư tưởng đảng” có còn gốc rễ gì không, hay trốc hết rồi?
Niềm vui trong Ngày Hội Ngộ, với đặc san được quý nương “khen” còn mấy ông già chồng chỉ gật gù “mầy giữ gìn sức khỏe để tiếp tục”. Tháng 5 năm 2020 và tháng 5 năm nay vì cái dịch Covod-19, không có cơ hội gặp nhau. Dù “ghét cay ghét đắng” mấy ông già chồng hành hạ “con dâu” nầy nhưng không được dịp hội ngộ với nhau, nhớ nhiều.
Khi đối với cha mẹ có thể cung kính mà vui vẻ, mới là tận Hiếu. Chữ “Kính” nhấn mạnh việc không để xảy ra sơ suất dù rất nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ già xuất phát từ nội tâm, với khuôn mặt vui vẻ, mới có thể nói là “Hiếu.” Người già không khác những đứa trẻ, nhiều khi hay tủi thân, hờn dỗi và dễ phiền muộn. Con cái có thể cho cha mẹ ăn uống, hầu hạ cha mẹ khuya sớm nhưng rất khó biết đến nỗi buồn của cha mẹ lúc về già.
Giáo hội xin tán thán tinh thần hộ đạo và tu đạo của quí Thiện nam Tín nữ trong hoàn cảnh tai ương đầy kinh hãi hiện nay. Tất cả năng lực và công đức lớn lao này của người đệ tử, chúng con xin dâng lên cúng dường đức Thế Tôn trong ngày Đản sinh. Hàng trăm ngàn trái tim, hàng vạn ngàn bàn tay siết chặt giữa những thương đau tràn ngập của nhân loại, chúng con nguyện quán chiếu thật sâu sự khổ nạn hiện nay để kiên nhẫn mà vượt qua.
Có lẽ cả Trung Cộng lẫn Hoa Kỳ đều không mong muốn việc khơi mào cho một cuộc xung đột vũ trang, nhưng trước thái độ xác quyết của tổng thống Joe Biden, Trung Cộng hiểu rằng họ đang đối đầu với một đối thủ nguy hiểm gấp bội lần so với những năm qua.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.