Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Chống Khủng Bố Hay Tránh Khủng Bố?

07/10/201400:00:00(Xem: 4332)

...muốn ngăn chặn khủng bố tại Trung Đông? Hay tại Nữu Ước, Hoa Thịnh Đốn...

Nước Mỹ trong hơn một thập niên qua đã bị nạn khủng bố Hồi giáo cuồng tín ám ảnh đến tận cùng. Vì thật sự nó đã là mối đe dọa cụ thể nhất và cũng lớn nhất cho an toàn của dân Mỹ, trong cũng như ngoài nước Mỹ, kể từ ngày lịch sử 9/11.

Có thể nói trong lịch sử hơn 200 năm của Đại Cường Cờ Hoa này, chưa khi nào có một lực lượng đối nghịch nào lại có thể trở thành một đe dọa lớn như những nhóm khủng bố này. Khi khối phát-xít Đức-Nhật chiếm được gần hết Âu Châu và Á Châu thì cũng chỉ lén đánh bom được hải cảng Hạ Uy Di, còn cách đất liền Mỹ cả mấy ngàn dặm. Ngay khi khối cộng sản chiếm được cả nửa thế giới, khối này cũng chưa bao giờ được coi như là một đe dọa trực tiếp đến lãnh thổ Mỹ, mà chỉ đe dọa được ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới thôi. Cuộc chiến Liên Xô-Mỹ, lạnh hay nóng, cũng vẫn chỉ là những cuộc chiến ủy nhiệm trên những miền đất Phi Châu hay Á Châu xa xôi, bên kia địa cầu đối với Mỹ.

Nhưng 9/11 đã thay đổi lịch sử. Nếu Ngũ Giác Đài còn có thể bị đánh thì tất cả các cơ sở, căn cứ Mỹ trên khắp thế giới đều bị trực tiếp đe dọa. Khủng bố Hồi giáo cuồng tín đã trở thành một kẻ địch nguy hiểm nhất trong lịch sử Mỹ.

Như vậy thì Mỹ phải đối phó như thế nào?

Năm 1993, một nhóm khủng bố Hồi giáo, sinh sống ở Mỹ từ lâu nay, đã đặt bom trong hầm để xe của hai cao ốc World Trade Center tại Nữu Ước. Gây thiệt hại vật chất lớn cho hầm để xe, và làm thiệt mạng một vài người. TT Clinton chứng kiến sự kiện, nhận định chính xác đây là hành động của một nhóm khủng bố mới xuất hiện, al-Qaeda, nhưng lại xếp vào loại đe dọa an ninh trật tự bình thường, để FBI lo là xong. Các thủ phạm mau chóng bị bắt, mang ra tòa, xử đúng luật. Hết chuyện, đóng hồ sơ.

Khi al-Qaeda cho cảm tử lái xe chất đầy bom tấn công cùng lúc hai toà đại sứ Mỹ tại Kenya và Tanzania, TT Clinton thả bom một cơ sở được gọi là nơi sản xuất bom của al-Qaeda tại Sudan, thật ra chỉ là một cơ sở bào chế thuốc của một công ty dược phẩm chẳng liên hệ gì đến al-Qaeda.

Khi al-Qaeda đặt bom chiến hạm USS Cole, ngoài khơi Yemen, TT Clinton ra lệnh chiến hạm Mỹ bắn hỏa tiễn từ ngoài khơi vào vài căn cứ đã đóng cửa từ lâu, bỏ hoang giữa sa mạc Afghanistan. Không chết một con lạc đà nào chứ đừng nói tới quân khủng bố.

Chính quyền Clinton chẳng những đã không ngăn cản được gì mà phản ứng cũng hoàn toàn là những thất bại. Hiển nhiên, TT Clinton và tất cả dân Mỹ, đều đã không đọc được thông điệp lớn của al-Qaeda. Hồi giáo cuồng tín đã chính thức khai chiến với Mỹ, khủng bố có thật và có khả năng đánh Mỹ ngay trên đất Mỹ, hay bất cứ đâu.

Phản ứng của TT Clinton, mà TT Bush sau đó gọi là “đập ruồi”, đưa đến thảm hoạ lịch sử 9/11. Ngay sau biến cố 9/11, trong bài diễn văn trấn an thiên hạ, TT Bush đã khẳng định ngay tầm vóc cuộc tấn công này và tuyên bố dứt khoát đây là “chiến tranh”, không phải là vấn đề an ninh trật tự công cộng. Chiến tranh tức là có thể huy động toàn thể các phương tiện an ninh, quân sự, kinh tế, chính trị, trong khi an ninh và trật tự chỉ là vấn đề của cảnh sát và toà án. Khác nhau rất xa.

Với tình trạng “chiến tranh” đó, TT Bush ra quân đánh Afghanistan coi như để trừng phạt cũng như truy diệt thủ phạm 9/11, rồi sau đó ra quân đánh Iraq luôn, coi như biện pháp “công trước để thủ sẽ hiệu nghiệm hơn”.

Sau này thiên hạ xúm vào tố cáo cuộc chiến Iraq với đủ lý do, nhưng trong bối cảnh hậu 9/11, một Iraq với kho vũ khí giết người tập thể mà khi đó ai cũng tin là có, dưới sự lãnh đạo của một lãnh tụ Hồi giáo cực tàn ác đã xử dụng vũ khí hoá học giết chính dân của mình, luôn luôn thề tiêu diệt Mỹ, thì việc đánh Iraq là chuyện cả nước khi đó chấp nhận. Cả hai viện quốc hội Mỹ đều bỏ phiếu cho phép TT Bush đánh, trong đó có phiếu của các thượng nghị sĩ Hillary Clinton và John Kerry, những người sau này lớn tiếng công kích TT Bush mạnh nhất. TT Bush sau này bị tố đã lừa họ và lừa cả nước. Thật ra, các thượng nghị sĩ này là những người đã đọc hồ sơ Iraq từ cả mấy năm trước, khi ông Bush còn đang mắc bận coi baseball suốt ngày ở Texas. Cựu TT Clinton hiểu rõ nguy cơ Iraq hơn ai hết, cũng là người đầu tiên lên tiếng ủng hộ quyết định đánh Iraq của TT Bush. Công bằng mà nói, nếu cần phải đi tìm thủ phạm, thì người đó chính là Giám đốc CIA George Tenet, do TT Clinton bổ nhiệm và được TT Bush lưu nhiệm. Tất cả tin tức tình báo về vũ khí của Saddam xuất phát từ tin tình báo của CIA, ngay từ thời TT Clinton.

Dù sao thì TT Bush cũng đã nhìn rõ và đánh giá đúng mức nguy cơ của khủng bố Hồi giáo cuồng tín. Cả hai nhiệm kỳ của ông đã hoàn toàn bị chi phối bởi cuộc chiến chống khủng bố, từ trong nước đến Afghanistan và Iraq. Khi tranh cử tổng thống, ông Bush đã đưa ra chương trình hoàn toàn dựa trên các cải tổ nội bộ như cải tiến ngành giáo dục, cải cách chương trình an sinh xã hội, và giải quyết vấn đề di dân bất hợp pháp. Kết quả cụ thể, chỉ thực hiện được một chuyện là cải tiến giáo dục trước khi xẩy ra vụ 9/11. Sau đó, tất cả nỗ lực, thời giờ, tiền bạc, đều đổ dồn vào cuộc chiến chống khủng bố Hồi giáo cuồng tín.

Cuộc chiến dai dẳng còn đang dở dang. Bước qua kỷ nguyên Obama.

Tân TT Obama khi còn tranh cử, đã công kích sách lược chống khủng bố của TT Bush một cách quyết liệt, từ A đến Z, không có điểm nào ông đồng ý, từ hai cuộc chiến Afghanistan và Iraq đến cách diệt khủng bố bằng máy bay không người lái –drones-, bắt nhốt tra tấn tù khủng bố tại Guantanamo, lén lút nghe điện thoại, đọc internet, v.v... Ngay cả chính sách đối ngoại với các xứ Hồi giáo và Ả Rập cũng bị chỉ trích.

TT Obama mở màn nhiệm kỳ bằng cách ký lệnh đóng cửa trại tù Guantanamo trong vòng một năm, cấm xử dụng tra tấn kiểu trấn nước (thực ra, trấn nước chỉ được áp dụng đối với đúng 3 tù nhân rồi bị TT Bush ra lệnh cấm ngay từ 2004 rồi!), bay qua Thổ Nhĩ Kỳ và Ai Cập, đọc hai bài diễn văn ca tụng Hồi giáo và văn minh Ả Rập, cúi rạp người trước Quốc Vương Ả Rập Saudi (quê hương của hầu hết các tên khủng bố 9/11), rồi xin lỗi về tất cả những sai lầm có thật hay tưởng tượng của Mỹ, kể từ ngày ông Adam và bà Eva còn sống tới nay.

Sách lược này phản ánh tư tưởng “hiếu hòa” của cá nhân TT Obama, đồng thời cũng phản ánh quan điểm của phe cấp tiến trong chính sách đối ngoại: thế giới ghét Mỹ vì Mỹ là loại “đế quốc” hung hãn chuyên đi đàn áp thế giới, vơ vét của cải các nước nghèo, v.v... Do đó chính sách đối ngoại cấp tiến là phải thay đổi, khiêm tốn hơn, tôn trọng thế giới hơn, nhất là thế giới Hồi giáo.

TT Obama cũng ra lệnh không được xử dụng danh từ “khủng bố Hồi giáo” –Islamist terrorist. Khi một anh thiếu tá Hồi giáo nổ súng giết hơn một tá quân nhân tại trại Fort Hood, trong khi hô to “Allah vĩ đại”, thì TT Obama ra lệnh truy tố anh này ra tòa về tội danh “bạo hành nơi sở làm” – workplace violence. Nội các cũng bị cấm không được dùng danh từ “chiến tranh chống khủng bố”, war on terror. Một chiến lược chống kẻ thù bằng cách không nhìn nhận sự hiện hữu của kẻ thù. Thế thì làm sao chống hữu hiệu được?

Sau khi truy lùng và giết được Osama Bin Laden, dàn nhạc hòa tấu của Nhà Nước Obama chưa khi nào ồn ào như bây giờ, công kênh thành quả lịch sử vĩ đại này mà lờ đi chuyện nhóm biệt kích truy lùng ra và tiêu diệt được Bin Laden được TT Bush thành lập ra ngay sau 9/11. Phe ta tung hô tính “can đảm” của TT Obama đã dám lấy quyết định tấn công, mà quên mất nếu ông quyết định không đánh, để Bin Laden sống thì không khác nào tự sát chính trị, bảo đảm ông sẽ không có cách nào đắc cử nhiệm kỳ hai. Cân nhắc cho kỹ, quyết định đánh hiển nhiên là lợi hơn nhiều, thà đánh mà hụt còn hơn là không đánh sẽ thân bại danh liệt ngay. Một quyết định “đương nhiên”, không phải là một lựa chọn, và thật sự không đòi hỏi “can đảm” hơn người gì hết.

Sau khi thành công, chẳng những khua chiêng trống về chuyện này, mà còn đi xa hơn nữa, khoe là al-Qaeda đang vắt chân lên cổ trốn chạy, và cái chết của Bin Laden đánh dấu sự cáo chung của khủng bố Hồi giáo cực đoan, không còn là một đe dọa gì nữa. Mấy tổ chức khủng bố khác chỉ là những nhóm lẻ tẻ tép riu, không đáng quan tâm.

Đối với hai cuộc chiến của Bush, TT Obama giữ lời hứa, triệt thoái toàn diện. Bất chấp mọi biến chuyển trên chiến trường, Nhà Nước khoe đã ổn định và rút quân trong huy hoàng để lại hai quốc gia “dân chủ, ổn định, và vững bền”. PTT Biden nhấn mạnh đó là “thành tích lớn nhất của TT Obama”.

Hết Bin Laden, hết khủng bố, hết chiến tranh Trung Đông, đó là những thành quả được quảng cáo rầm rộ nhất trong cuộc tranh cử tổng thống năm 2012, để khỏa lấp những chống đối về Obamacare. Đối với dân Mỹ dễ tin, tất cả nghe thật đáng mừng và đáng hoan nghênh. Và TT Obama tái đắc cử.

Nhưng sự thật không đẹp như vậy. Trái lại, tất cả chỉ là hoả mù, che dấu một sự thật xấu hơn nhiều. Khủng bố vẫn còn sống, Iraq và Afghanistan vẫn đánh nhau loạn xà ngầu.

Sách lược chống khủng bố của TT Obama nói tóm lại là sách lược cố cầm chân các hoạt động khủng bố này, cố giảm thiểu tiếng súng đạn quá ồn ào, để có thể khoe là đã triệt hạ được khủng bố, để có lý do tháo chạy khỏi các chiến trường Afghanistan và Iraq, tránh can dự, để tái đắc cử, rồi cò cưa đến ngày mãn nhiệm là thoát nạn.

Thực tế, sách lược này thất bại hoàn toàn. Giết Bin Laden hay các lãnh tụ khủng bố lẻ tẻ bằng máy bay không người lái chẳng đưa đến kết quả cụ thể nào. Khủng bố cứ như cỏ dại, nhổ cọng này thì ba cọng khác mọc lên. Rút quân khỏi Afghanistan và Iraq trong khi hai xứ này còn đang hỗn chiến chỉ giúp phá hủy mọi thành tích ổn định đã có được trước đây, và giúp tăng sức mạnh cho các tổ chức khủng bố.

Phong trào khủng bố Hồi giáo cuồng tín biến thể, từ những tổ chức lớn dễ bị truy diệt như al-Qaeda phân tán qua những tổ chức lẻ tẻ nhỏ, biệt lập dễ tránh truy lùng và khó tiêu diệt hơn gấp bội. Rồi biến thể lần nữa, lớn mạnh trở lại, lớn và nguy hiểm gấp bội al-Qaeda.

Nhưng sách lược của TT Obama vẫn không thay đổi, không nhìn nhận những thay đổi và lớn mạnh này, để có thể duy trì lập luận đã thành công diệt được khủng bố, biến các nhóm này thành những nhóm lẻ tẻ, tài tử vớ vẩn.

Thành công như giết Bin Laden luôn luôn là thành tích của tổng thống, thất bại luôn luôn là lỗi người nào đó, không phải là đối lập thì cũng là nhân viên thừa hành. Đó là mô thức Obama. Trước sự lớn mạnh của ISIS, TT Obama tuần rồi đổ thừa cho Bộ An Ninh Quốc Gia đã đánh giá quá thấp ISIS, và đã để cho ISIS lớn mạnh quá lâu. Thật ra, bà cựu bộ trưởng An Ninh Quốc Gia Janet Napolitano đã cảnh giác TT Obama ngay từ cuối năm 2013 rồi, nhưng TT Obama cố trốn tránh, không muốn nhìn nhận sự thật để khỏi phải có hành động.

Ngay sau khi TT Obama lên tiếng đổ thừa cho Bộ An Ninh, ông Giám Đốc James Clapper đã ra thông cáo ca ngợi các viên chức an ninh đã thi hành nhiệm vụ một cách hết sức xuất sắc, vạch trần nguy cơ khủng bố trong suốt hai năm qua. Đây là cách cụ thể ông Clapper trả lời TT Obama.

Sự thật không phải là Bộ An Ninh không báo cáo, mà TT Obama sợ đối diện với khủng bố đến độ tránh né không đọc báo cáo. Theo cơ quan Government Accountability Institute, TT Obama nhận được báo cáo an ninh mỗi sáng sớm, như tất cả các tổng thống khác, nhưng ông chỉ đọc khoảng 40% thôi. TT Bush con là tổng thống duy nhất từ thời TT Johnson với chiến tranh VN đã đọc 100% tất cả các báo cáo mỗi buổi sáng trong suốt 8 năm.

Ngay đầu năm 2014, ISIS chiếm thành phố Fallujah tại Iraq, cả nội các Obama đã báo động, từ Bộ An Ninh, đến Bộ Quốc Phòng, Bộ Ngoại Giao, ngay cả Bộ Tư Pháp của ông đệ tử ruột Eric Holder đều lên tiếng cảnh giác nguy cơ ISIS. Nhưng rồi TT Obama lên truyền hình ví ISIS với một đội bóng rổ trung học, JV, phản bác lại toàn thể nội các của chính mình.

Và quả bom mới nhất là... hồi ký của ông Leon Panetta. Theo ông Panetta, trước khi rút quân tại Iraq, các chiến lược gia Mỹ thấy cần duy trì một lực lượng nhỏ tại Iraq để kềm chế các nhóm khủng bố. Nhưng cuộc điều đình với thủ tướng al-Maliki gặp khó khăn vì vài điều kiện của Iraq. TT Obama thay vì tìm thỏa hiệp, lại lấy đó làm lý do, ra lệnh rút toàn diện càng nhanh càng tốt. Chuyện này trước đây đã bị ông Ryan Crocker tố rồi. Chắc chắn ít người biết rõ vấn đề hơn ông Panetta, là cựu Giám Đốc CIA và Bộ Trưởng Quốc Phòng của TT Obama, và ông Crocker, cựu Đại Sứ Mỹ của TT Obama tại Iraq.

Sách lược chống khủng bố kiểu tránh né khủng bố, trốn tránh sự thật, trốn tránh đụng độ đã đưa đến hậu quả cụ thể là khủng bố Hồi giáo cuồng tín ngày một lớn mạnh. Từ những nhóm lẻ tẻ đã biến thành một lực lượng quân sự mạnh nhất Trung Đông, chiếm được một nửa Iraq và một nửa Syria, trong đó có cả những mỏ dầu hỏa cung cấp cả triệu đô tiền dầu cho các tổ chức khủng bố mua súng đạn. Để rồi cuối cùng thì TT Obama đã phải trở lại Trung Đông, trực diện với khủng bố, hết cách vùi đầu dưới cát phủ nhận thực tế.

Cuộc chiến mới tại Trung Đông được đặt dưới quyền một ông tướng 4 sao với bộ tư lệnh đặt ở trung tâm du lịch Tampa tại tiểu bang Florida cách mặt trận nửa thế giới, dưới quyền một ông tướng hồi hưu, ông tướng hồi hưu này báo cáo lên một ông cựu trung úy Hải Quân bây giờ làm Ngoại Trưởng, ông cựu trung úy này tuân lệnh một ông cựu tổ chức cộng đồng bây giờ đang làm tổng thống. Càng ít kinh nghiệm, càng làm lớn. Một tình trạng hy hữu chỉ có ở Mỹ.

Đi xa hơn nữa, mối đe dọa khủng bố, sau cả chục năm bị cấm cung không đụng đến nước Mỹ được, đã trở thành một mối de dọa thực sự cho dân Mỹ trên đất Mỹ.

Hàng trăm thanh niên Hồi giáo Mỹ đã đi Syria và Iraq để được huấn luyện, tham chiến trong hàng ngũ ISIS và một số đã trở về Mỹ lại. Không ai biết có bao nhiêu người và khả năng như thế nào, nhưng nguy cơ rõ ràng hơn bao giờ hết.

Chính quyền Iraq vừa thông báo cho chính phủ Mỹ là đã khám phá ra một âm mưu đặt bom trong hệ thống xe điện ngầm trong các thành phố lớn của Mỹ.

Đồng thời, Nhà Nước Obama cũng loan tin một tổ chức khủng bố mới tên là Khorasan đã có kế hoạch tấn công khủng bố tại Mỹ, tất cả đã sẵn sàng thi hành trong thời gian ngắn, do đó đã buộc Mỹ phải đánh bom Syria khẩn cấp, vừa để đánh ISIS vừa để tiêu diệt Khorosan.

Khả năng thật sự của Khorasan như thế nào, ngay cả chuyện Khorasan có thực hay không, chẳng ai biết vì cả thế giới lần đầu tiên nghe thấy cái tên này. Theo các chuyên gia, Khorasan thật ra vẫn chỉ là al-Qaeda, nhưng Nhà Nước Obama đặt cho cái tên mới để cố bám víu vào huyền thoại “al-Qaeda đã bị tiêu diệt”.

Khủng bố thật sự có khả năng làm lại một 9/11 hay không cũng khó biết. Chỉ biết là vài phương pháp khủng bố đã được du nhập vào Mỹ rồi.

Tin báo chí cho biết một anh da đen Hồi giáo Mỹ tại Oklahoma chưa rõ vì lý do gì, đã cắt đầu một đồng nghiệp làm cùng sở theo kiểu ISIS cắt đầu con tin Mỹ. Cảnh sát cho biết anh này trong thời gian qua đã cố gắng đi vận động các đồng nghiệp theo về đạo Hồi, đồng thời phổ biến tài liệu tuyên truyền chống Mỹ của Hồi giáo cực đoan. Trên trang Facebook của anh này, toàn là hình ảnh của Bin Laden và cuộc tấn công 9/11. Dù vậy, cảnh sát Mỹ vẫn gọi đây là chuyện “bạo hành trong sở làm”. Dĩ nhiên! Theo đúng lệnh của tổng thống.

Nhiều người hoan nghênh chính sách Trung Đông hết sức dè dặt của TT Obama và cho rằng nhờ đó mà Mỹ đã không lún ngập trong cái bãi sình lầy này. Nhưng thực tế là chính sách đó đã giúp các lực lượng khủng bố lớn mạnh gấp bội, bây giờ đe dọa trực tiếp đến dân Mỹ và lãnh thổ Mỹ. Câu hỏi là chúng ta muốn ngăn chặn khủng bố tại Trung Đông? Hay tại Nữu Ước, Hoa Thịnh Đốn,...? (05-10-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: Vulinh11@gmail.com. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.