Hôm nay,  

Phụ Nữ Kỵ Cộng Hòa?

22/04/201400:00:00(Xem: 7732)

...hơn 70% các cố vấn, phụ tá, nhân viên nội các của TT Obama là nam giới...

Nếu quý độc giả theo dõi truyền thông, báo chí hay truyền hình ở cái xứ Mỹ này, thì sẽ có cảm tưởng đúng là vậy, phụ nữ Mỹ rất kỵ đảng Cộng Hòa cũng như những tư tưởng bảo thủ gọi là không thân thiện với phụ nữ. Như Cộng Hoà chủ trương không giúp “giải phóng” phụ nữ, giam hãm họ trong tư thế công dân hạng hai so với các đấng mày râu trong vấn đề lương bổng và trách nhiệm trong công việc làm, cũng như giam hãm phụ nữ trong trách nhiệm gia đình, không cho họ có quyền “tự do sở hữu thân xác” của họ, hay nói cho rõ hơn, không cho họ vui vẻ rồi tha hồ phá thai.

Khối cấp tiến cho rằng trong con mắt bảo thủ, đàn bà chỉ nên ở nhà lo cho con và phục vụ cho đức lang quân, cơm nước rồi đấm bóp cho mấy ông, sau một ngày mấy ông mệt mỏi kiếm tiền cho mấy bà đi shopping. Nếu có đi làm thì không đáng lãnh lương bằng mấy ông.

Thực tế, hình ảnh một người đàn bà theo kiểu nô lệ cho chồng chỉ có trong xã hội Việt Nam ta cách đây có lẽ nửa thế kỷ, mà cũng chỉ có trong những gia đình gọi là khá giả thôi. Như các quan rủng rỉnh tiền bạc, quyền thế, nên các bà vợ có quyền ngồi nhà đánh tứ sắc cả ngày chờ ông chồng về để phục vụ. Chứ trong giới bình dân hơn, phụ nữ Việt ta từ ngàn xưa đến nay, vẫn đầu tắp mặt tối làm việc, phần lớn là buôn bán lớn nhỏ, góp tiền nuôi gia đình, chắc chắn là đã không làm ít hơn mấy ông chồng, rồi về đến nhà lại còn phải quần quật làm đầu bếp, quản gia, “ô-sin”, vú em, cô giáo kèm con học, có khi còn phải hầu cả bố mẹ chồng,... chưa kể tối đến lại còn phải lo bổn phận “phòng the”.

Ngay cả trong xã hội “văn minh” Việt Nam ngày nay, dưới sự lãnh đạo “đại tài” của Nhà Nước ta, theo tuyên truyền của đảng thì thời buổi phong kiến trọng nam khinh nữ đã qua từ lâu rồi, nhưng trên thực tế thì lương các bà phải dành lo cho nhà cửa, chợ búa, quần áo, con cái,..., còn lương các ông thì chỉ để cúng vào các quán nhậu mỗi chiều với bạn bè, hay karaoke mỗi tối với các em chân dài thôi, các bà thắc mắc tới là... ăn đòn ngay, có gọi công an đến cũng như không vì chính mấy ông công an này đánh vợ còn mạnh hơn ai hết.

Dân tỵ nạn ta may mắn thoát được lối sống “văn minh XHCN” đó. Các bà tuy không bị đòn nữa, nhưng cật lưng làm việc chẳng thua gì mấy ông chồng, trong khi đồng lương mang về thì vẫn thua xa.

TT Obama mới đây có nêu vấn đề này lên và cho biết đồng lương của mấy bà theo thống kê, chỉ bằng 77% của mấy ông thôi. Con số thống kê do TT Obama đưa ra không chính xác lắm, có tính cách phóng đại vì so sánh một cách tổng quát mà không lưu ý đến chuyện có nhiều nghề lương cao mà không có sự hiện diện nhiều của mấy bà. Chẳng hạn như cấp lãnh đạo cao cấp của các công ty, hay những nghề nặng nhọc lương cao như thợ hầm mỏ, xây cất, thợ máy, v.v... mà phụ nữ, vì sức mạnh thể xác yếu hơn không kham nổi.

Đúng theo mô thức của một chính trị gia, TT Obama dùng những thống kê “ấn tượng” nhất để làm nổi bật vấn đề, rồi nhân tiện lái qua vấn đề phe phái, ám chỉ sai biệt là hậu quả của chính sách kỳ thị của các tài phiệt, các ông chủ hủ lậu, vẫn sống trong các quan điểm kỳ thị nam nữ của thiên niên kỷ trước. Ý muốn ám chỉ khối bảo thủ Cộng Hoà, trong khi khối cấp tiến Dân Chủ lo bênh vực quyền lợi phụ nữ mạnh hơn.

Theo các chuyên gia, một cách chính xác hơn thì trong điều kiện đồng đều, có thể so sánh được, phụ nữ lãnh lương bằng khoản 85%-90% lương của nam giới. Tuy cao hơn con số của TT Obama đưa ra, nhưng hiển nhiên, vẫn không bằng lương của mấy ông, tức là có khác biệt, thiên về nam giới.

Bà Gloria Steinem, một người cấp tiến cực đoan, chuyên tranh đấu cho bình đẳng nam nữ đến độ tuyệt đối, đã vận động chống lại mọi nghiên cứu về khác biệt nam nữ, vì bà quan niệm tuyệt đối chẳng có gì khác biệt giữa nam nữ để cần phải nghiên cứu.

Đây là quan niệm cực đoan thái quá đối với rất nhiều người. Giữa nam và nữ, hiển nhiên là có cả đại dương khác biệt. Không phải về thể xác không, mà về tinh thần cũng như về suy tư, về ưu tiên cũng như sở thích. Điều này chẳng cần bàn thêm, và bà Steinem nếu không nhìn thấy thì chỉ vì bà đúng là... quá khích, không muốn nhìn thấy thôi. Kiểu như đà điểu muốn vùi đầu dưới cát để tránh nhìn vào thực tế.

Ngay cả trong mấy đứa trẻ con mới bắt đầu tập tễnh biết đi, ta cũng thấy những khác biệt bẩm sinh. Như con gái thích quần áo đẹp trong khi con trai bất cần, con gái tự động thích chơi với son phấn, dày cao gót của mẹ, trong khi con trai chẳng thèm liếc mắt tới.

Đại khái, khác biệt có, nhưng nếu nói chuyện đó ra trong cái xứ Mỹ này, thế nào cũng bị coi là “không phải đạo chính trị” –politically incorrect. Cũng không khác gì chuyện da màu. Khác biệt giữa các sắc dân da trắng, da vàng, da đen, ai cũng nhìn thấy, ai cũng biết. Chỉ là không dám nói lên vì sợ mang trọng tội “không phải đạo chính trị”.

Trở lại vấn đề khác biệt lương giữa nam và nữ. Ngay cả trong cùng ngành nghề, cùng chức, cùng trách nhiệm, lương phụ nữ cũng thấp hơn lương nam giới.

Có nhiều nghiên cứu đã được thực hiện, cho thấy có nhiều lý do, chính đáng cũng như không chính đáng.

Lý do không chính đáng là... hồi nào đến giờ, đàn bà lãnh lương ít hơn là đương nhiên, truyền thống là như vậy, xét lại làm gì. Mấy ông chủ không có lý do gì xét lại, tự ý tăng lương cho nữ nhân viên khiến cho công ty của mình lời ít đi, tiền vào túi mình ít đi theo. Các bà đại đa số cũng chấp nhận cái tập tục quen thuộc đó, ít người muốn tranh đấu đòi tăng lương.

Cái lý do có lẽ chính đáng hơn là với phụ nữ, năng suất thường không bằng đàn ông. Trong khi các ông có thể tập trung suy tư 100% vào công việc, thì các bà không thể nào làm như vậy được. Đối với phụ nữ, việc làm công ty luôn luôn chỉ là ưu tiên thứ nhì hay thứ ba. Gia đình, con cái mới là ưu tiên số một. Họ đi làm nhưng đầu óc lúc nào cũng thắc mắc tối nay cơm nước như thế nào cho chồng, con cái giờ này đang ở trường làm gì, …. Nhất là phụ nữ Á Đông khi cái xã hội đó quan niệm trách nhiệm đi làm kiếm tiền nuôi gia đình là của mấy ông, mấy bà phải lo cho gia đình, kiếm tiền chỉ là chuyện kiếm thêm, có thì tốt hơn, không có cũng được.

Chính vì lý do gia đình mà khá nhiều phụ nữ tình nguyện nhận việc bán thời, hay làm việc tại gia, ít lương hơn mức lương toàn thời tại công ty.

Một nghiên cứu của một trường đại học cho thấy trong 500 đại công ty lớn nhất Mỹ, chỉ có 5% là do phụ nữ lãnh đạo. Nghiên cứu cũng cho thấy mấy ông tổng giám đốc mấy đại công ty này làm việc cho công ty không phải là 8 tiếng một ngày, mà trung bình 16 tiếng, hay thậm chí 20 tiếng, có khi ngủ cũng chỉ nằm mơ thấy công việc của công ty. Chuyện này khó có thể xẩy ra với các bà, thông thường chỉ làm đúng 8 tiếng là nhiều, để rồi mau mau chạy về nhà lo cho chồng con.

Đó là chưa kể phụ nữ đi làm lại còn có chuyện lỡ có bầu thì lại phải nghỉ, nghỉ “đầu óc” vì tinh thần dĩ nhiên bị cái bầu chi phối phần lớn, mà nghỉ làm thực tế khi bầu quá lớn, để đi đập bầu, và ở nhà dưỡng sức, nuôi con ít ra là trong vài tháng.

Làm việc và ưu tư ít hơn thì năng xuất cũng phải ít hơn, có thể phản ánh qua việc thăng chức chậm hơn, trách nhiệm ít hơn, và tiền thưởng ít hơn. Đây là một vấn đề có tính cơ bản, trong “máu” hay trong “din”. Khó có thể thay đổi để đòi hỏi phụ nữ phải lo cho công ty nhiều hơn là lo cho gia đình, hay ngược lại, đòi hỏi các ông lo cho gia đình nhiều hơn, bỏ bớt chuyện công ty đi.

Đó chính là lý do đơn giản và quan trọng nhất trong việc lương không đồng đều giữa nam và nữ, ít nhất là trong xã hội Mỹ ngày nay. Không có liên quan gì đến chuyện đảng Dân Chủ hay đảng Cộng Hòa như TT Obama và các chính khách Dân Chủ ám chỉ.

Một điều miả mai lớn là ngay chính trong Toà Bạch Ốc, dưới triều đại Obama, cách biệt nam nữ không phải nhỏ. Đại đa số - hơn 70%- các cố vấn, phụ tá, nhân viên nội các của TT Obama là nam giới. Các viên chức cao cấp đại đa số là nam, thư ký đại đa số là nữ. Nếu tính theo lương bổng thì tại đây, nam giới cũng lãnh lương cao hơn nữ giới, tương đương với cách biệt trong các ngành nghề trong kinh tế nói chung. Nếu muốn thay đổi như TT Obama kêu gọi, thì cần thay đổi ngay từ gốc, từ Toà Bạch Ốc trước.

Đi xa hơn Tòa Bạch Ốc, người ta cũng thấy trong cả nước Mỹ nói chung, tỷ lệ phụ nữ trong hàng ngũ công chức lên cao nhất là 45% dưới thời TT Bush con của khối bảo thủ “chống phụ nữ”. Sau đó dưới thời tổng thống cấp tiến Obama đã tuột dần xuống mức 43%, con số thấp nhất từ 16 năm qua. Những con số tất nhiên khó tin vì khó chịu đối với giới cấp tiến, nhưng lại là sự thật theo thống kê của cơ quan Office of Personnel Management, là cơ quan điều hành tất cả khối công chức Mỹ.

Một vấn đề lớn thứ hai được mang ra làm bằng chứng về chuyện Cộng Hoà kỳ thị phụ nữ là chuyện phá thai.

Khối cấp tiến chủ trương phụ nữ làm chủ thân xác, muốn phá thai là có quyền phá thai, không ai có thể thắc mắc về quyền tự do này. Và họ khua chiêng trống rầm rộ là ai chống lại quan niệm này là chống lại... phụ nữ.

Chuyện phá thai, dưới con mắt kẻ viết này, cũng không khác gì chuyện đồng tính. Đó là chuyện riêng tư của mỗi người, mỗi người đều có quyền có cách suy nghĩ và có tư tưởng riêng của mình. Vấn đề là không thể mang suy tư của mình áp đặt lên người khác.

Chống phá thai có nhiều lý do. Như phá thai là hành vi trốn tránh trách nhiệm. Như phá thai thả giàn là giúp phổ biến một cách sống buông thả trong sinh lý, thiếu tự chế. Và nhất là phá thai là đi ngược lại rời răn dạy của tất cả mọi tôn giáo vì không có một tôn giáo nào cổ võ hay cho phép phá thai. Có thể có nhiều người còn nhiều lý do khác chống phá thai. Nhưng tuyệt đối chống phá thai không phải là phát động chiến tranh chống phụ nữ -war on women- như khối cấp tiến hô hoán.

Cái nghịch lý của khối cấp tiến ủng hộ phá thai là họ tự cho họ là “pro-choice”, tức là đòi quyền tự do lựa chọn. Nhưng khi có người nào không lựa chọn giải pháp phá thai của họ thì người đó trở thành người “chống” phụ nữ ngay. Không còn quyền lựa chọn gì nữa. Cũng như ta đã bàn qua về vấn đề đồng tính trên cột báo này tuần trước, cái mâu thuẫn lớn nhất của khối cấp tiến là luôn luôn hô hào tự do, nhưng chỉ là tự do đi theo đường lối của họ thôi, còn đi ngược lại là bị đánh, bị tố bằng những lập luận lạ lùng, vô lý nhất.

Khối cấp tiến quên mất một chuyện là ngay trong hàng ngũ phụ nữ, cũng có một số lớn phụ nữ chống phá thai. Theo thăm dò của Gallup, trong 10 bà Mỹ thì đã có gần 6 bà (58%) chống phá thai, dưới mọi hình thức. Nếu đa số phụ nữ không chấp nhận phá thai thì làm sao có thể coi tư tưởng chống phá thai là chống phụ nữ được?

Câu chuyện bình đẳng nam nữ là một câu chuyện phức tạp, nhất là trong cái xứ tự do thả giàn, ai muốn nghĩ sao cũng được, ai muốn làm gì cũng được.

Ở Mỹ này, dưới áp lực của khối cấp tiến cực đoan tranh đấu cho bình đẳng tuyệt đối nam nữ, đã có nhiều chuyện oái ăm, quái gở xẩy ra.

Như có một thời, một số sở cứu hỏa hủy bỏ một số tiêu chuẩn về sức mạnh thể xác để giúp mở cửa cho phụ nữ vào làm nghề này, tránh tiếng sở cứu hỏa kỳ thị nam nữ. Nhưng thực tế sau một thời gian biện pháp này bị thâu hồi lại, vì những sở cứu hỏa này khám phá ra ngành này đòi hỏi một số tiêu chuẩn tối thiểu về sức mạnh cần thiết mà phụ nữ không có, gây trở ngại cụ thể cho công việc cực kỳ nguy hiểm của cái nghề cứu hỏa.

Hay chuyện có một vài trường học Mỹ để tránh mang tiếng kỳ thị nam nữ, cho phải đạo chính trị, cho phép nữ học sinh tham gia vào các đội đá banh kiểu Mỹ -american football- của trường, chỉ để khám phá ra chơi banh theo kiểu này đã gây ra hàng loạt tai nạn cho các nữ sinh với thể xác yếu hơn nam giới. Một điều mà chỉ cần ba giây đồng hồ xem football Mỹ trên truyền hình thì ai cũng thấy, không cần phải cho mấy cô vào chơi một thời gian, xẩy ra hàng loạt tai nạn mới biết được.

Đó là vài thí dụ cụ thể của chuyện nam nữ không thể nào hoàn toàn giống nhau như bà Steinem hô hào. Nhưng nói lên là bảo đảm bị tố ngay là đã có tư tưởng kỳ thị.

Và chính vì khối bảo thủ trong Cộng Hoà chống lại những chuyện vớ vẩn như vậy nên đã bị khối cấp tiến lớn tiếng tố giác là chống phụ nữ.

Và khối này, với sự phụ họa của truyền thông dòng chính, cũng đã đưa ra một bằng chứng họ cho là rõ ràng nhất là đảng Cộng Hoà chống phụ nữ là việc đảng Cộng Hòa đang bị mất phiếu phụ nữ.

TT Obama trong hai kỳ tranh cử vừa qua đã thu được từ 55% đến 60% phiếu của nữ cử tri. Kết quả này không có gì để tranh cãi. Nhưng những con số này đã che khuất một phần sự thật. Đại đa số những phụ nữ đi bầu thuộc giới trẻ, một số lớn là sinh viên chưa có gia đình, hoặc không chịu lập gia đình vì coi gia đình như là một định chế hủ lậu, thường có khuynh hướng cởi mở cấp tiến, ủng hộ mạnh chuyện nam nữ bình quyền, nhất là phá thai. Họ hăng hái đi bầu để ủng hộ TT Obama.

Phần lớn các bà tương đối lớn tuổi hơn, có gia đình thì lại ít chú ý đến chuyện chính trị, hay mắc lo chuyện công việc và gia đình, không đi bỏ phiếu. Ngày đầu phiếu là ngày thứ ba trong tuần theo Hiến Pháp ấn định, không phải là ngày nghỉ. Mấy bà đều đi làm, chẳng ai được nghỉ. Đi làm xong, mau mau chạy về lo cơm nước cho chồng con, ít người chịu ra xếp hàng mấy tiếng đồng hồ để bỏ phiếu.

Đó là lý do chính TT Obama hay các ứng viên Dân Chủ khác, đã thu được nhiều phiếu phụ nữ hơn các ứng viên Cộng Hoà. Chỉ vì mấy bà bảo thủ đi bầu ít hơn mấy cô cấp tiến. Chứ không phải vì đa số phụ nữ nói chung ủng hộ Dân Chủ và các tư tưởng cấp tiến của đảng này. Khác biệt là trong phòng phiếu, không phải là ngoài đời thực tế.

Cái khác biệt này không khác gì khác biệt chung trong giới đàn ông da trắng. Khối đàn ông da trắng nắm thế đa số tuyệt đối trong xã hội Mỹ, có thể lên tới hơn 60% dân số Mỹ. Nhưng cái khối này lại trở thành thiểu số trong phòng đầu phiếu chỉ vì đại đa số các ông da trắng không đi bầu. Đưa đến chuyện các khối dân trên nguyên tắc là thiểu số, như phụ nữ trẻ và giới trẻ nói chung, các dân da nâu, da đen, da vàng, lại có tiếng nói mạnh trong chính trường Mỹ.

Có thể nói là mạnh hơi quá khi họ đưa được một ông chính khách như ông Obama vào được Toà Bạch Ốc. (20-04-14)

Vũ Linh

Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.