Hôm nay,  
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật
Việt Báo Văn Học Nghệ Thuật

Thương Nhớ Lề Đường Sàigòn

15/04/201400:00:00(Xem: 3078)

blank
Chân dung Đào Như.

Về thăm nhà, có người thấy Lề-đường-Sàigon ngày nay bị kinh tế thị trường tăng tốc xâm lấn quá nhiều, trở nên xô bồ, xui lòng nhớ lề đường Sàigòn xưa.

Lề đường Sàigòn xưa có hàng me, có sông Sàigòn có Bến Bạch Đằng, có những quán kem, quán càfé, quán ăn vỉa hè, lúc nào cũng bu quanh bởi đám học trò, sinh viên, giới trí thức, các thầy, các cô, giới lao động, giới taxi, giới xích lô, ba gát, bang bù và cả lính tráng, sĩ quan nữa. Họ ăn đứng, ăn ngồi, những tô hủ tiếu, tô phở, bún riêu, bún ốc, bún bò, những đĩa ra-gu bánh mì, cà ri bánh mì thơm phức…Hay những chén Kem nhiều màu. Những ly cà phê đá. Những ly chè đậu xanh, đậu đỏ, sâm bổ lưỡng…vun đầy đá bào, đá nhận. Sàigòn mà không còn ba món này, không có mấy hình ảnh này thì không còn là Sàigòn nữa. Những sinh hoạt bình dị này nhiều lúc lấn át cả những nhà hàng, những hotels: Continental, Caravelle, Pacific, Pagoda, Imperial, Givral…vì những thực khách của những quán ăn sang trọng theo kiểu Tây này cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Saigòn. Ngoài những giới trí thức, nhà giàu người Việt, còn có cả những ‘ông Tây bà đầm’, những người ngoại quốc, Chà Và, Tàu, Campuchia. Họ đến ăn ở đây, không phải chỉ vì nơi này họ mới có thể thưởng thức những món ăn thuần túy Việt nam, thuần túy Á đông, mà chính tại đây họ còn khám phá ra được nét đặt thù của Saigòn, của người Sàigòn, ‘Saigonais’.

Lề đường Saigòn còn có những gánh hàng rong. Thương nhớ làm sao những tiếng rao hàng lúc nửa đêm trên lề đường của khu Bàn cờ, Nguyễn Thiện Thuật, Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên: ’bánh ú hột vịt lộn, hôn?’, ‘bánh bò giò cháo quẫy bánh tiêu, hề’. Mới nghe thì không hiểu món gì, khi mua rồi, ăn thì cũng không thấy gì là tuyệt vời lắm, nhưng hương vị thật là gần gũi thân thương. Người ăn và món ăn gặp nhau như sư kết nghĩa. Có người xa xứ lâu năm, khi trở lại Saigòn gặp lại những món ăn này mà hồn nhớ về những người bạn của tuổi học trò sau Chùa Kỳ viên, khu Nguyễn thiện Thuật, khu Bàn Cờ với những Kim Cúc, những Bich Hằng, những Quỳnh Liên(1)…những mối tình đầu của quá khứ xa xưa. Thế mới hay, những lề-đường-Saigon không kiêu sa, không hương sắc màu mè nhưng đậm đà tình nghĩa.

Xa Saigòn, không mấy ai xa được những ngã ba, ngã tư, ngã năm, ngã sáu, ngã bảy. Làm sao quên được lề đường của Ngã Tư Quốc Tế. Cái lề đường ấy Quốc tế thật. Quốc tế quá cỡ! Cứ vào lúc gần giờ giới nghiêm, các vũ trường Lido, Baccaret, Côte d’Ivoire… gần đó đóng cửa, các cô cava thoát ra chóan gần hết chỗ lề đường Ngã Tư Quốc Tế. Mặt còn bự son phấn hai tay bê tô cháo lòng, tô bún ốc nóng, thơm và cay mùi tiêu, các cô húp vội vào lòng để thỏa mãn cơn đói. Thế mới biết với các cô, ‘nhảy’ chì là một nghiệp dĩ lao động dành cho cuộc sống độ nhật nuôi thân.

Sàigòn có nhiều ngả. Đường Sàigòn có nhiều lề. Người Sàigòn đi trên nhiều lề đường. Sàigòn có nhiều ngả đi cũng như ngả đến. Người Saigòn chưa từng bị bắt buộc đi trên một lề đường bên trái hay bên phải. Người Sàigòn phóng túng đi trên đường Tự Do, Công Lý, Độc Lập, Thống Nhất….Lề đường Sàigòn xưa đã từng mang những tên nói lên niềm ước mơ của thời hiện tại.

Lề đường Sàigòn chịu đựng hai mùa mưa nắng. Nắng Saigòn trong như thủy tinh như Trịnh Công Sơn thường ngợi ca. Nguyên Sa-Trần Bích Lan đã từng đi dưới nắng của Saigòn mà cao hứng: “Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát- Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông..”. Ố hay! Thế mới biết có sự liên kết trong tâm tưởng của Nguyên Sa giữa cái nắng của Sàigòn và màu trắng của lụa Hà đông năm nào. Cả hai đều để lại trong lòng người xa xứ những hoài niệm. Sàigòn có những cơn mưa rào chợt đến chợt đi. Khi đến thì rạo rực như thác ngàn, như tình yêu ‘Em Sàigòn’, khi đi thì lăng lẽ như mơ, để lại những lề đường ướt át, một chút ủ dột trong lòng người. Lề đường Saigòn cũng tình tự Nhạc và Thơ: “Mưa Sàigòn mưa Hà nội” nghe như niềm thổn thức của Phạm Đình Chương, đứng dưới mưa, trên lề đường Sàigòn, nhớ về năm cửa Ô Hà nội. Thế mới hay, các nhà thơ, các văn nghệ sĩ đã nhìn thấy một Hà nội giữa Saigòn thuở ấy… Cũng như Hà Nội, Saigòn, nơi ‘lắng hồn núi sông’. Nói đến lề đường Sàigon mà không nói đến Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, Chu Tử, Duyên Anh…thì coi như trớt quớt. Những ông này đã hóa ra người thiêng cổ. Nhiều người Saigon không tin là mấy ổng đã chết. Mấy ổng còn đâu đó ngày ngày đi lại với họ trên lề đường Sàigòn bán sách sol. Nhất là ông già Vương Hồng Sển, ông già này mới thật là ngộ. Ăn ở đời với Cô Năm SaĐéc hơn nửa thế kỷ mà chưa phỉ tình, ông còn bóng bẩy viết thành truyên ký: “Năm Mươi Năm Mê Hát”. Duyên Anh thấy vây mới bảo ông này già mà còn ham...Duyên Anh và cụ Sển đã về trời. Không hiểu họ đang ở đâu đâu? Mấy đời mà hai ông này chịu xa Saigòn. Biết đâu họ đang ngồi chồm hỏm trên lề đường Saigòn bàn chuyện thế tục: “Sàigòn Ngày Dài Nhất”, “Sàigòn Tạp Pín Lù”,“ Saigòn 31 tháng Tư” ”. Mấy ‘Cha’ ở Hà Nội nghe mấy cái này chắc giận. Họ sẽ la bài hãi đâu có “31 Tháng Tư”…Nói đến lề đường Saigon thì nhớ cụ Phạm Duy. Mỗi khi nhớ cụ Phạm Duy thì phải nhắc tới lề đường Saigòn. Cụ Phạm, nếu cụ còn sống đến giờ, cụ nghe chắc Cụ sẽ rầy rà: “bỏ đi Tám- ‘tao’ mà thuộc bọn lề đường hả? ”. Xin lỗi cụ Phạm, Cụ ắt hẵn là người của lề đường Saigon rồi. Mời cụ nghe lại chính Cụ: “Nghèo mà minh không ham. Xin cô em đừng nên quá đáng. Nghèo mà mình không ham. Xin anh hai đừng nên làng chàng…”. Sau khi xa xứ hơn 30 năm, có đứa hơn 35 năm, đã hơn hai thứ tóc trên đầu, tụi nầy thỉnh thoảng vẫn nghêu ngao bài hát này của cụ, đôi khi thấy mắt mình cay xè, không hiểu tại nhớ cụ hay nhớ nhớ lề đường Sàigòn.

Lề đường Saigon có những hình ảnh đẹp khó quên, có bác xích lô ngủ trưa ngay trên chiếc xích lô của mình dưới bóng cây me trên lề đường Sàigòn, sau khi uống chai la de Trái Thơm-La Rue, và loáng thoáng nghe những bản nhạc tình cảm “Mùa Thu Chết” hay “Gái Lội Qua Khe” từ một quán cóc hay quán càfé gần đâu đó. Có người khách nhìn bác xich lô đang ngủ, họ lắc đầu, họ không dám đánh thức bác xich lô mặc dầu họ đang cần bác…Đó là tinh thần của lề đường Saigòn xưa. Đó là phong cách của người Saigòn xưa.

Cuộc sống trên lề đường Sàigòn siêu thoát, phàm tục, trắng đen, xanh đỏ, chan hòa màu sắc và cảm xúc tạo thành bức tranh Lề đường Saìgòn ngộ nghĩnh không giống ai hết, cũng không chịu cho ai giống mình. Saigon trước 75, Sàigòn thời chiến tranh, có biết bao biến động lịch sử xảy ra trên vùng đất quê hương này. Ấy thế mà mỗi khi chúng ta nhớ lại những kỷ niệm ở Saigon, những lề đường Saigòn chúng ta cứ như nhớ về một vùng đất nước thanh bình, thời vàng son của một đời người trong một xã hội ổn định. Nhớ về Sàigòn, nhớ đến sông Sàigòn như giải khăn sô vắt ngang vầng trán, đêm đêm chảy vào lòng người Việt xa xứ./.

Đào Như

Oak park. ILL. USA

thetrongdao2000@yahoo.com

GHI CHÚ

(1)-Tên những nhân vật nữ này hoàn toàn hư cấu, nếu có trùng hợp xin đừng ngộ nhận-Tri ân-Đào Như

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
Như vậy là bao trùm mọi lĩnh vực quốc phòng, an ninh xã hội có nhiệm vụ bảo vệ đảng và chế độ bằng mọi giá. Nhưng tại sao, giữa lúc tệ nạn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, suy thoái đạo đức, lối sống và tình trạng “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn ngổng ngang thì lại xẩy ra chuyện cán bộ nội chính lừng khừng trong nhiệm vụ?
Nhật báo Washington Post của Mỹ ghi nhận là: “Tổng thống Pháp Macron vốn dĩ đã rất tức giận khi được tham vấn tối thiểu trước khi Mỹ rút khỏi Afghanistan. Điều đó bây giờ đã tăng lên. Chính quyền Biden nên xem xét sự không hài lòng của Pháp một cách nghiêm túc. Hoa Kỳ cần các đối tác xuyên Đại Tây Dương vì đang ngày càng tập trung chính sách đối ngoại vào cuộc cạnh tranh cường quốc với Trung Quốc. Và trong số này, Pháp được cho là có khả năng quân sự cao nhất.
Sau khi tấm ảnh người đàn ông đi xe máy chở người chết cuốn chiếu, chạy qua đường phố của tỉnh Sơn La (vào hôm 12 tháng 9 năm 2016 ) được lưu truyền trên mạng, Thời Báo – Canada đã kêu gọi độc giả góp tay ủng hộ gia đình của nạn nhân. Số tiền nhận được là 1,800.00 Gia Kim, và đã được những thân hữu của toà soạn – ở VN – mang đến tận tay gia đình của người xấu số, ở Sơn La.
Công bằng mà nói, ngày càng có nhiều sự đồng thuận là chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn các hành động của Trung Quốc trong khu vực. Sự răn đe đòi hỏi những khả năng đáng tin cậy. Liên minh mới này phù hợp với lý luận đó.
Liên quan đến cuộc bầu cử Quốc Hội Đức 2021 trước đây tôi đã giới thiệu lần lượt ba ứng cử viên: Scholz của SPD, Laschet (CDU) và Baerbock (Xanh). Nhưng trong những tháng qua có khá nhiều tin giật gân nên để rộng đường dư luận tôi lại mạn phép ghi ra vài điểm chính bằng Việt ngữ từ vài tin tức liên quan đến cuộc bầu cử 2021 được truyền thông và báo chí Đức loan tải.
Năm 17 tuổi, đang khi học thi tú tài, tôi bỗng nhiên bị suyễn. Căn bệnh này – vào cuối thế kỷ trước, ở miền Nam – vẫn bị coi là loại nan y, vô phương chữa trị. Từ đó, thỉnh thoảng, tôi lại phải trải qua vài ba cơn suyễn thập tử nhất sinh. Những lúc ngồi (hay nằm) thoi thóp tôi mới ý thức được rằng sinh mệnh của chúng ta mong manh lắm, và chỉ cần được hít thở bình thường thôi cũng đã là một điều hạnh phúc lắm rồi. If you can't breathe, nothing else matters!
Một người không có trí nhớ, hoặc mất trí nhớ, cuộc đời người ấy sẽ ra sao? Giả thiết người ấy là ta, cuộc đời ta sẽ như thế nào? Ai cũng có thể tự đặt câu hỏi như vậy và tự cảm nghiệm về ý nghĩa của câu hỏi ấy. Sinh hoạt của một người, trong từng giây phút, không thể không có trí nhớ. Cho đến một sinh vật hạ đẳng mà chúng ta có thể biết, cũng không thể tồn tại nếu nó không có trí nhớ. Trí nhớ, Sanskrit nói là smṛti, Pāli nói là sati, và từ Hán tương đương là niệm, cũng gọi là ức niệm, tùy niệm. Nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện đại, niệm là ký ức. Đó là khả năng ghi nhớ những gì đã xảy ra, thậm chí trong thời gian ngắn nhất, một sát-na, mà ý thức thô phù của ta không thể đo được.
Ba mươi năm trước tôi là thành viên hội đồng quản trị của một cơ quan xã hội giúp người tị nạn trong khu vực phía đông Vịnh San Francisco (East Bay) nên khi đó đã có dịp tiếp xúc với người tị nạn Afghan. Nhiều người Afghan đã đến Mỹ theo diện tị nạn cộng sản sau khi Hồng quân Liên Xô xâm chiếm đất nước của họ và cũng có người tị nạn vì bị chính quyền Taliban đàn áp. Người Afghan là nạn nhân của hai chế độ khác nhau trên quê hương, chế độ cộng sản và chế độ Hồi giáo cực đoan.
Bà Merkel là một người đàn bà giản dị và khiêm tốn, nhưng nhiều đối thủ chính trị lại rất nể trọng bà, họ đã truyền cho nhau một kinh nghiệm quý báu là “Không bao giờ được đánh giá thấp bà Merkel”.
Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp. Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư.
TIN TỨC
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.