Hôm nay,  

Mùa Vàng Rơi

18/10/201300:00:00(Xem: 5987)
Này em, hẳn em còn nhớ những vần thơ của Rabidranath Tagore anh chép tặng em thời niên thiếu; một Tâm Tình Hiến Dâng, một Tặng Vật như ngày ấy chúng mình trao nhau. Và sáng nay, khi những tiếng chim thôi xôn xao trước hiên nhà gợi nhớ Strays Bird - Những con chim bay lạc thật đẹp:

Stray birds of summer come to my window
to sing and fly away.
And yellow leaves of autumn,
which have no songs,
flutter and fall there with a sigh.

Những con chim mùa hè bay lạc
đến cửa sổ tôi
để hót lên rồi lại bay đi.
Còn những chiếc lá thu vàng
không lời ca tiếng hát,
chỉ run rẩy và thở dài rơi xuống.


Những chiếc lá thu vàng như tiễn đưa một mùa hè nóng bức, như lo âu một mùa đông băng giá chưa đến, mà thảng thốt một tiếng thu làm đắm say, lay lắt lòng mình. Những chiếc lá thu sáng nay và vần thơ đó theo giai điệu tuyệt vời man mác của Autumn Leaves trở về. Từ những chiếc lá khô Les Feuilles Mortes của Jacques Prévert.

Ôi, anh mong rằng em vẫn còn nhớ
Những ngày hạnh phúc khi chúng mình vẫn còn làm bạn.
Thời ấy cuộc đời đẹp hơn
Và Mặt Trời rực rỡ hơn giờ đây.
Những chiếc lá khô vun lại thành từng xẻng.
Em thấy đấy, anh nào có quên…
Những chiếc lá khô vun lại thành từng xẻng.
Những ký ức, những luyến tiếc cũng vậy.
Và những cơn gió từ phương Bắc mang chúng đi
Trong màn đêm lạnh lẽo của quên lãng.
Em thấy đấy, anh nào có quên
Khúc ca mà em vẫn thường hát cho anh.


Những nuối tiếc vắng xa một tình yêu, khi mùa vàng héo hon, khi gió bắc se lạnh, khi sóng biển mùa hè đã qua xóa đi dấu tình ngày nao sắt son. Không tan tác tuyệt vọng, không vĩnh viễn xa mùa, khi Johnny Mercer viết lời tiếng Anh cho bài "Autumn leaves" thì vẫn giữ được cái ý chia lìa như trong bài thơ của Prévert, sự ngăn cách vẫn có thể mới chỉ là một sự tạm biệt, sự ngăn cách vẫn hoài vọng một niềm yêu mượt mà thủy chung không mộng mị. Chỉ là nỗi nhớ miên man và nhẹ nhàng như gió thu, đưa giai điệu chậm buồn thật đẹp của Joseph Kosma trở thành ca khúc mùa thu đẹp nhất.

The falling leaves drift by the window
The autumn leaves of red and gold
I see your lips, the summer kisses
The sun-burned hands I used to hold
.
Since you went away the days grow long
And soon I'll hear old winter's song
But I miss you most of all my darling
When autumn leaves start to fall
Lá rơi từng chiếc bên song
Những chiếc lá úa mùa thu đỏ vàng
Nhớ môi em, nụ hôn hè
Và tay rám nắng, nâng niu một thời
.
Từ em xa khuất ngày dài
Bài ca đông cũ sớm về trong anh
Nhưng lòng nhớ nhất mình em
Khi những chiếc lá mùa thu lìa cành.


Phải không em khi ngày của tháng Mười ngắn hơn, nắng thưa hơn bên bờ giậu cũ. Nhưng lại quá dài khi ta xa nhau. Những chiếc lá uá ngập bước chân ngày, vỡ giòn dưới gót chân thưa, nghe như đốt trong lòng một ngọn lửa vàng thu. Anh không còn trẻ để đợi chờ một mùa tình đến muộn, để đuổi bắt em quanh cây phong già, để ngã cùng em trên đống lá khô, nghe tháng Năm trôi vào tháng Chín thật nhanh như câu hát của Frank Sinatra:


Oh it’s a long long while from May to December
But the days grow short when you reach September
When the autumn weather turns the leaves to flame
One hasn’t got time for the waiting game. (September Song)


Anh không còn trẻ mãi để đợi tình em khi mùa thu về. Như câu thơ ai đó năm nào, không nhớ trọn:

Khi em lớn thì tôi đã già cỗi
Tóc còn đen nhưng hồn đã trắng phau
Tim còn đập nhưng lòng đà mệt mỏi
Biết đường tình ta có đuổi kịp nhau.


Phải chăng em khi mùa thu đời người là lúc anh qua tuổi năm mươi. Đã chín chắn để thấy cây đời mình đến lúc thay áo vàng, tạm biệt một mùa hè ân ái tuổi hoa để chuẩn bị cho một mùa đông già cỗi. Trong Hán tự, chữ sầu có chữ thu nằm trên chữ tâm. Có trái sầu rụng rơi khi thu về trên tâm cảnh đời mình? Cớ sao người Mỹ gọi mùa thu là fall? Mùa vàng rơi hay tiếng lá rơi, giọt mưa rơi rả ríc hay nắng nhạt thưa rơi. Ngọn gió mát nhẹ rơi hay tiếng đập cánh của con chim bay lạc vào khung cửa vắng...Rơi theo tiếng thì thầm của lòng khi con đường đời mỗi ngày hai buổi đi - về, chợt một sáng thay lá vàng và nghe thấp thoáng một mùa đông giá rét nhiều dự báo những hư hao.

Đời của lá có như đời anh. Lắm lần đem diệp lục tố phơi giữa mặt trời ngày. Đem màu xanh của tuổi xuân làm nên cây trái ngọt cho con, đem bóng mát của tình mình che chở cho em những ngày gian khổ. Anh có như tiếng ve kia nhiều năm ăn năn trong lòng đất, đợi một mùa hè cất tiếng hát ca, rồi giã biệt theo cành phượng đỏ...

Không còn thấy những chiếc lá ngô đồng rơi trong công viên dọc bờ sông Hương, những chiếc lá me lay bay chiều thu Sài Gòn, những chiếc lá thông úa rơi ngập Thung Lũng Tình Yêu và cành liểu rũ ven hồ ngày nọ. Nhưng anh vẫn thấy lòng ngập đầy thu trước sân với cội phong già. Em không còn đó như tiếng cười đã giấu vào kẽ lá. Nụ hôn nào đó lẩn khuất trong gió nhẹ. Những đống lá vàng cao dần theo ngày thu, dù anh đã quét, như quét tình nhau đến bao lần:

Lá thu vàng mấy độ
Anh quét bấy nhiêu lần
Áo em vàng một độ
Anh quét hoài không xong


Thì em, xin những tiếng đập khô khan của cánh chim bay lạc vào khung cửa sổ sáng nay, những tiếng thu hoài niệm. Xin những bài ca mùa đông cũ khoan về; hãy cứ để những chiếc lá thu rơi đầy ngỏ vắng. Anh sẽ vốc đầy tay những mùa vàng rơi và thả ca khúc Lá Thu gởi vào ngày cho em! Như con chim bay lạc kia không màng tìm chốn đậu, bên đời hiu quạnh. Khi mùa vàng rơi, nhiều như lá thu buồn không đợi nhau rụng bay. Như anh và em.

Tháng mười 2013

Sean Bảo

www.baosinh.com| Tùy Bút site

www.sean-bao.com| SB Graphic Design

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.