Hôm nay,  

Đọc Sách Love Wins của Rob Bell Đạo Phật và Địa Ngục

5/29/201300:00:00(View: 12882)
Cuối năm 2011 vừa đi qua, trong lãnh vực tôn giáo và tín ngưỡng, một cuốn sách đã gây nên chấn động lớn cho người tu hành và người nhiệt tâm với đức tin. Mục sư Rob Bell, thủ lãnh khối nhà thờ Tin Lành Phúc Âm (Evangelical megachurch) trong tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ - là một trong những tiểu bang miền Trung Tây nước Mỹ do cư dân từ châu Âu tránh né đạo Gia-tô gây dựng nên thành một vùng trù phú nhất thế giới về kỹ nghệ xe ô-tô - mục sư cho xuất bản cuốn sách Love Wins (Tình Thương Toàn Thắng. Cuốn sách về Thiên Đường, Địa Ngục và Số phận của mọi người đã trải qua cuộc sống). Sách bìa cứng, khổ 15cm x 21cm, Nxb Harper One, được New York Times rao là sách bán chạy nhất giữa năm 2011 (bestseller). Love Wins dày 202 trang, gồm tám chương và bổn tựa ba trang. Sách chữ lớn, đúng khuôn mẫu của một cuốn sách nhà thờ, hấp dẫn người quen đọc kinh, nhưng với người phàm phu "ngoại đạo" như hầu hết chúng ta, đọc đôi mươi trang đã thấy nặng nề, muốn được hội ý phải mất hai, ba đêm. Đề mục là Thiên Chúa không thể tạo lên địa ngục. Đấng Cứu thế Jesus là tình thương bao la, không lẽ Ngài chia cõi đời làm hai phe phái, ai theo Ngài thì được lên thiên đường, ai không theo con đường của Ngài dạy thì phải bị dọa đày xuống địa ngục hay sao?

Tưởng cần nhắc lại, từ ngữ "Tây phương" dùng để chỉ các sắc dân sinh sống ở châu Âu và Bắc Mỹ. Trong nghìn năm trước, người phương Tây dựa vào sức mạnh cơ khí, đi chinh phục thế giới và quen với mặc cảm bá quyền, họ quan niệm "tôn giáo" là đạo riêng của chính họ, người không theo đạo Cơ-đốc là "ngoại đạo", không có tôn giáo. Người phương Tây cũng đinh ninh rằng Thượng Đế, "Thiên Chúa" là Chúa Jesus. Đề mục cuốn sách "Love Wins" xác quyết là Thiên Chúa Jesus không bao giờ tạo nên địa ngục. Tình yêu của Chúa Jesus bao la, Ngài không thể tạo nên thiên đường dành riêng cho tín đồ của Ngài và gạt bỏ mọi người ngoại đạo ra ngoài cương lĩnh.

Thử đơn cử một thí dụ cụ thể. Một người như thánh Gandhi ở Ấn Độ, một tâm hồn vĩ đại (lời của Nehru, cũng là một nhân vật vĩ đại) người đã tái sinh những giá trị vĩ đại của văn hoá Ấn Độ, văn hoá Á Đông, và văn hoá cả loài người, không lẽ lúc chết đã bị đày xuống địa ngục, vì lý do lúc sinh thời không theo tôn giáo Jesus? Và không phải là một mình Gandhi đã gánh chịu nỗi oan khiên này mà hằng muôn triệu người khác -trước Thiên Chúa và sau Thiên Chúa- đã, đang và sẽ bị đày xuống tám tầng địa ngục bởi lý do không may mắn gặp ơn cứu độ của Jesus.

Lập luận của mục sư Bell rất giản dị và rất cao thâm. Nhưng dĩ nhiên là cuốn sách của ông đã gây ra tức thời trăm mối bất bình khi "Love Wins" vừa xuất hiện trên quày sách và qua mạng điện tử. Ngay những người trong hàng ngũ tín ngưỡng của mục sư Bell cũng cảm thấy bất an vì ý kiến của ông. Làm thế nào mà một người đã sống suốt đời trong giáo huấn của Thiên Chúa lại có thể "phỉ báng" lời dạy của Ngài. Khi Chúa dạy có thiên đường để tưởng thưởng những người sống theo lời dạy của Ngài, thì tất nhiên phải có địa ngục để trừng phạt những người sống xấu xa và sống ngoài ánh sáng của Ngài. Janice Shaw Cruise trong bài bình luận đắng cay trên báo The Washington Times lên án mục sư Bell đã dám trình bày một ý kiến dị giáo (heresy) đi ngược với tôn giáo tối cao và bất chấp cả truyền thống đã báng bổ Kinh Thánh (blasphemy) đã được loài người tin tưởng từ hai ngàn năm nay. Thản hoặc từ nay mỗi tín đồ - rộng hơn nữa là mỗi người có lòng tin, bất cứ tôn giáo nào - chối cãi hay tảng lờ lời dạy của Thiên Chúa và tự mình thiết lập cho chính mình cơ sở tín ngưỡng của riêng mình, xem lời dạy của Thiên Chúa là trò đùa, thì thử hỏi kết quả là tôn giáo có cần tồn tại nữa hay không? Shaw Cruise kết luận: "Khi mà bất cứ cá nhân nào cũng có thể tạo ra cho chính mình một môn thần học (theology), Nhà Thờ sẽ trở nên bất lực, mất hẳn khả năng chỉ đạo, mất hẳn cơ sở thích hợp và chính đáng ("impotent and irrelevant"). Cruise không ngần ngại đưa ra lời phê bình nghiêm khắc đối với một vị lãnh tụ tôn giáo, và đã kết hợp được, qua mạng lưới, một số ý kiến cực đoan. Đôi người trên mạng lưới đã gọi thẳng mục sư Rob Bell là một khí cụ của Xa-tăng (a tool of Satan).

Nhưng cũng có một số người vẫn giữ được trầm tĩnh, sau khi đọc "Love Wins", tìm hiểu sâu hơn ý kiến của vị chăn chiên Bell. Trong số báo New York Times, tờ báo lớn nhất của Hoa Kỳ và của thế giới (nhưng cũng không thoát được ảnh hưởng tài phiệt Do Thái). Ross Douthat lập luận: mục sư Bell đề cao sự cứu rỗi toàn diện và phổ biến cho toàn thể loài người." Ý kiến này phù hợp với chiều hướng suy tư tân tiến của thế giới ngày nay. Thế nhưng khi Thiên Chúa đảm bảo cho mỗi một chúng ta, mỗi người có một chỗ đứng vững chãi trên thiên đàng, thế thì tự hỏi cái khả năng tự quyết định chiều hướng hành động của mỗi cá nhân chúng ta, "the free will" thiện nguyện và tự nguyện, điều mà con người văn minh muốn vươn tới, cái khả năng đó còn có giá trị nữa hay không. Không địa ngục khác gì đánh cờ không bắt tướng, không đếm quân, biết ai được, biết ai thua?

Douthat lý luận khôn khéo đúng theo lập trường lâu bền của ban biên tập của New York Times: "vun vào" vừa đủ làm vui lòng đa số vững chãi của người Tin Lành, nhưng không kém "bàn ra" để tránh làm mất lòng tín đồ đạo Gia-tô La Mã, trung thành với truyền thống.

Bây giờ ta thử đi ngược lại, tìm hiểu dư luận đang yểm trợ ý kiến của mục sư Bell. Bài viết tiêu biểu có giá trị rất cao ta tìm đọc được trong báo The Christian Post. Tác giả Richard J. Mouw nhận định là Rob Bell không làm gì khác hơn là nêu lên cái cách giải thích thiên lệch của Nhà Thờ (ý hẳn muốn nói Nhà Thờ Gia-tô La Mã), đã làm cho lập truờng chính thống của Thiên Chúa Jesus bị đời sau hiểu sai lạc, nghiêng về phần ích kỷ, vị kỷ (danh từ dùng là "stingy orthodoxy"), dẫn đến chỗ thế nhân hiểu sai là Jesus chỉ bênh vực người theo đạo Ngài và đày đọa cả muôn triệu người xuống địa ngục. Chính trong sách, mục sư Bell nói rõ là mỗi cá nhân chúng ta xứng đáng được Thiên Chúa ban phát tình yêu miễn là chúng ta không chối bỏ, khước từ đức Chúa. Như thế The Christian Post bênh vực lập trường của Bell, ghi nhận rằng Thiên Chúa không tạo ra địa ngục, mà chính loài người chúng ta đã tự tạo nên địa ngục ở sát cạnh chúng ta, vào giờ phút bây giờ, vì chúng ta tham lam và ích kỷ, không ngừng chém giết lẫn nhau hằng ngày, tạo ra chiến tranh. Đó mới thật là đề tài chân chính trong sách Love Wins của Rob Bell.


Có điều các ý kiến yểm trợ hay chống đối Bell quên không nhắc tới là thái độ chính thức của Nhà Thờ (đặc biệt là giáo quyền Gia-tô) đối với cuốn sách Love Wins, chối bỏ lời dạy của Thiên Chúa về cõi âm ti. Cách đây hơn bốn trăm năm, cũng một vị mục sư, Martin Luther chỉ dán vào cổng Nhà Thờ một bản ước nguyện phản đối việc quyên tiền quá lộ liễu của Tòa Thánh để xây cất đại điện Saint Pierre Basilica tại Roma. Nhà Thờ phản đối dữ dội và rút phép thông công của mục sư, yêu cầu chính phủ nước Đức tống giam để định tội. Muc sư Luther nhờ vua Frederic III tiểu bang Saxon đem vào lâu đài Wartburg cho trú ngụ mới tránh khỏi tù tội và hành hình. Ông tiếp tục công kích triều đại Vatican và lập nên tôn giáo mới, đạo Tin Lành. (xin đọc Nguyễnphúc Bửu Tập: "Tìm Hiểu Đạo Tin Lành", email: [email protected]). Thế mới biết ngày nay đời sống xã hội đã vô cùng thế tục hoá, đời sống của cá nhân con người, về mặt đạo đức, giáo dục, nghệ thuật và kinh tế... đã đi khỏi thật xa luật lệ của Nhà Thờ mà Nhà Thờ không làm gì được.

Đến đây tưởng đã đến lúc ta đặt câu hỏi: người thờ Phật như chúng ta hiểu và nghĩ gì về lời dạy của đức Phật liên quan đến địa ngục. Khi thông suốt đươc quan điểm của giáo lý nhà Phật, ta nghĩ gì về đề mục sách Love Wins của mục sư Rob Bell? Một đề tài trong tôn giáo như Thiên Đường và Địa Ngục chắc không thể thu ghép được vào trong khuôn khổ chặt hẹp của một bài viết như thế này. Ta sẽ phải tự giới hạn vào một khổ nhỏ là địa ngục hiểu theo giáo lý Phật là thế nào và Thích-ca đã quan niệm ai được lên Thiên Đường và ai phải xuống Âm Ti, và đại từ "ai' hướng về ai?

Theo tín ngưỡng thời cổ xưa, và cũng theo quan niệm dân gian, địa ngục là nơi trú ngụ của người chết. Anh ngữ gọi là hell, Pháp ngữ là enfer, Sanskrit là naraka, Pali là niraga. Đạo Gia-tô La Mã còn gọi địa ngục là purgatory, nơi linh hồn người chết được tẩy rửa sạch sẽ bằng đau khổ để chuẩn bị giờ phán xét cuối cùng của Thiên Chúa. Quan niệm Cơ-đốc xuất phát từ đạo Do Thái, xem địa ngục là nơi chấp chứa những mối đọa đày tàn khốc cho những người lúc sống đã phạm nhiều tội xấu xa, mà tội lớn nhất là không phục tòng Thiên Chúa.

Cũng như đạo Cơ-đốc, giáo lý nhà Phật xem địa ngục là cõi khổ, là nơi đày đọa của những chúng sinh khi sống đã phạm phải nhiều tội ác. Nhưng Thích-ca không dạy rằng cuộc sống ở địa ngục là vĩnh cửu. Địa Ngục cũng như Thiên Đường chỉ là một đoạn, một mấu khúc trong dãy dài luân hồi của con người. Người phạm tội bị đọa đày, sau khi chịu trừng phạt, trả hết nợ, sẽ được tái sanh ở những cõi đời tốt đẹp hơn. Lại hơn nữa, nếu có nhân duyên, cá nhân đó có thể sống hướng thiện, tiến tới giác ngộ, đạt tới Niết Bàn tức là giải thoát khỏi luân hồi.

Như vậy, trên căn bản lý thuyết, giáo lý nhà Phật cởi mở hơn, giới hạn thời gian trừng phạt ở Địa Ngục, lại còn cởi mở cho người phạm tội có phương tiện và cơ hội trở lại cõi đời. Tuy nhiên hiểu như vậy cũng chưa hết gò bó. Ở trên đã nói Thiên Chúa Jesus tạo nên đạo, và những người ngoại đạo không biết Jesus, sẽ bị đày vào Địa Ngục. Bây giờ ta lập luận là những người thờ Phật, nếu khi sống đã phạm tội, cũng phải đi qua Địa Ngục, nhưng khác ở chỗ là khi trả hết nợ, vẫn có lối lên Thiên Đường. Ta đang tạo cho chính ta một lập luận lẩn quẩn: những người không biết đến đức Phật thì sao?

Ta có thể an tâm. Thích-ca đã nghĩ đến điểm đó. Ngài khẳng định: "Ta là Phật đã thành - Mỗi một chúng sanh là Phật sẽ thành." Và Ngài chứng minh rằng không phải một mình Ngài đã đạt đến giác ngộ, mà trước Ngài muôn vàn người đã giác ngộ, sau Ngài cũng vậy. Ngài đơn cử ví dụ trước Ngài có năm vị Phật gọi là Ngũ Quang Phật như Đại Nhật Phật, Bất Không Thành Tựu Phật, Bất Động Phật, Bảo Sinh Phật, và đặc biệt vị Phật gần gũi chúng ta nhất, Phật Adiđà (Amita, Amitaba). Ngài ở đầu môi của nghìn triệu người Á Đông khi gặp hoạn nạn hay mừng vui bất ngờ, khi nói câu chào hỏi, khi bắt đầu trò truyện... Phật Adiđà đã được Thích-ca nhắc trong ba cuốn kinh Đại Thừa Vô Lượng Thọ Trang kinh (cuốn dài và cuốn ngắn), và cuốn Quán Vô Lượng Thọ kinh. Đức Phật Adiđà lập ra 48 điều nguyện (Adiđà Tứ Thập Bát Nguyện), người thờ Phật tìm học trong Encyclopaedia of Buddhism, cuốn 1, trang 434 đến 463. Các điều đại nguyện được học giả Trung Hoa các đời Hán, Ngụy, Tùy, Đường, Tống, và học giả Nhật Bổn gần đây giải thích và phân tích làm ba nhóm: nhóm 1 ghi chép những điều thần thông của người thành Phật, nhóm 2 ghi nhận khuôn phép cách tu tịnh độ, và nhóm 3 lời nguyện cứu độ cho mỗi một chúng sanh. Ta đọc một câu kinh: “…nhược hữu chúng sanh, dục sanh ngã quốc, xưng Như lai danh, vị Bồ đề đạo” [nếu có một chúng sanh nào muốn về nước Phật chỉ đọc (nghĩ) đến tên ta, là đến được cõi Bồ đề]. Ta đọc một lời nguyện: "... ta (Đức Phật Adiđà) nguyện không thành Phật nếu ta không là một bậc cứu độ toàn thể chúng sinh, nếu ta không trở thành một người đến bên cạnh bất cứ một chúng sanh nào đang bần cùng và đau khổ... Khi ta đã bước đến mức Bồ Đề, nếu tên ta vẫn chưa đạt được đến tai mỗi một chúng sanh mười phương, ta nguyện không thành Phật."

Chắc không thể nào chứng minh được rõ ràng hơn là giáo lý Thích-ca, đã, đang, và sẽ trang trải vào đủ mọi thành phần thế sự, và vào đủ mọi người. Chưa hết, lại còn ý niệm bodhisattva, bồ tát, trong kinh Phật. Vào thời nguyên thủy, đạo của Thích-ca muốn thâu phục đại chúng phải khuất phục trước số người chân thành, chuyên việc tu hành. Giới luật kinh kệ nhằm người tu đạt mức alahán, hiện thân của giác ngộ cho chính bản thân mình. Như vậy đến bờ Niết Bàn chỉ nhờ một con thuyền nhỏ, chở cho chính mình, tín ngưỡng đạo Phật tiểu thừa Hinayana. Khi đạo Thích-ca ra khỏi mảnh đất nhỏ bên bờ sông Hằng, giáo lý của Ngài buộc phải chú tâm vào đa số quần chúng, con thuyền đưa người sang bờ bên kia tìm giác ngộ phải lớn hơn, tín ngưỡng đạo Phật đại thừa Mahayana, và số người lái thuyền phải được thấm nhuần nhiều hơn tư tưởng bi, trí, huệ của giáo lý. Bồ tát là người đã đạt được Phật quả, nhưng đã nguyện không nhập Niết Bàn, khi còn một chúng sanh chưa giác ngộ. Tiêu biểu cho Bồ tát là Phật Quán Thế Âm.

Hiểu rõ như vậy, chắc người thờ Phật có đủ hành trang tham dự cuộc đối thoại về cuốn sách Tình Yêu Toàn Thắng của mục sư Bell.

[Liên lạc email: [email protected] để nhận bài viết của tác giả Bửu Tập.]

Reader's Comment
5/29/201314:48:33
Guest
Tôi tập đánh bỏ dấu cho báo trước rồi mới viết.
Tôn giáo nên dùng danh xưng cho đúng:
Gia tô giáo trong bài náy phải nói là Công-giáo,
có tổng hành dinh là Vatican, một quốc gia dộc lập,
thủ lãnh là Giáo Hoàng(Papa, the Pope)....
không nên tránh né, người đọc sẽ hiểu sai. Trân trọng.
Send comment
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu.Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Your Name
Your email address
)
Tác phẩm Metamorphosis, tạm dịch Biến Dạng của Franz Kafka mở đầu bằng một trong những câu văn gây ám ảnh nhất trong văn học thế giới: khi Gregor Samsa thức dậy và phát hiện mình đã biến thành một con côn trùng khổng lồ. Không có lời cảnh báo, không có lời giải thích, không có sự chuẩn bị kịch tính nào. Cú sốc đến ngay lập tức – và đó là thiên tài của Kafka. Ông không dẫn dắt người đọc bước nhẹ nhàng vào cơn ác mộng của Gregor Samsa. Ông ném độc giả của ông thẳng vào đó, buộc chúng ta phải đối mặt với sự phi lý của sự tồn tại mà không có sự an ủi của logic hay lý trí.
Sự thật là nạn nhân không “bám theo ICE suốt cả ngày” như Kristi Noem đã nói. Cô bị bắn khoảng 9 giờ 30 phút sáng, trên đường quay về sau khi chở con trai cô đến trường học cách đó vài ngã tư đường. Hôm nay, tờ New York Times và Washington Post đã có video và bài phân tích chi tiết những gì xảy ra thông qua tất cả video nhân chứng ở hiện trường. Hai tờ báo lớn chỉ ra mỗi phát súng của đặc vụ ICE bắn ra ở góc độ nào, có thật sự vì gặp nguy hiểm tính mạng hay không.
LTS: Biến cố Venezuela sau vụ bắt giữ Nicolás Maduro đang làm rúng động toàn vùng Nam Mỹ. Trong bối cảnh ấy, bà Delcy Rodríguez, 56 tuổi, vốn là phó tổng thống dưới thời Maduro, đã được Tòa án Tối cao và quân đội Venezuela đưa lên nắm quyền lâm thời. Bà cũng là một nhân vật từng được Washington ngỏ ý đối thoại trước đây. Sự kiện này đặt ra câu hỏi: Phải chăng đó là bước đầu của sự "chuyển quyền trong nội bộ," hay chỉ là hồi kế tiếp của cùng một vở tuồng?
Cuộc tấn công và bắt sống vợ chồng Tổng thống Nicolás Maduro ngay trên lãnh thổ Venezuela trong ngày cuối tuần đã trở thành một sự kiện chính trị thế giới hàng đầu khi bước vào năm mới 2026 này. Trong khi những đồng minh của Donald Trump ca ngợi và ủng hộ chiến dịch quân sự này thì ngược lại, một số câu hỏi cũng đã được đặt ra là, liệu một cuộc tấn công quân sự vào Venezuela, một quốc gia không mang tính đe dọa trực tiếp và hiển hiện đến an ninh quốc gia Hoa Kỳ, có được thông báo và sự chuẩn thuận của Quốc Hội Hoa Kỳ theo hiến pháp? Cũng như một chiến dịch quân sự và bắt sống một nguyên thủ quốc gia khác trên lãnh thổ một quốc gia có chủ quyền như Venezuela có đúng với nguyên tắc ngoại giao và công pháp quốc tế hay không?
Người đàn ông lê những bước chân nặng nề giữa hai triền núi mù sương. Gió và bụi cát làm mái tóc dài của ông ta rối bời. Chiếc khăn choàng và áo măng-tô có vẻ không đủ ấm, nên gương mặt hốc hác, mệt mỏi, lấm lem những vết đen như vừa chui ra từ mỏ than. Rồi ngay sau đó, ông ta xuất hiện trong một quán nước, ngồi bên chiếc bàn có ly trà nóng bốc khói nghi ngút trên tay, mắt nhìn xa xăm ra cửa. Một tiếng hát khàn, đục, nặng như những vách núi hai bên đường ông ấy đang đi, vang lên.
Sau khi bài “Chúng Ta Sống Sót” đăng tuần qua, Việt Báo nhận được nhiều hồi âm hơn thường lệ: tin nhắn, điện thoại, thư điện tử. Có người quen, có độc giả chưa từng gặp. Nội dung không khác nhau mấy. Phần lớn là sự đồng cảm. Có người nói đọc xong thấy nhẹ lòng, vì biết mình không phải là kẻ đơn độc nghĩ như thế. Có người gửi lời cảm kích khi có người nói hộ tiếng nói lòng mình. Nhưng điều đáng chú ý không nằm ở nội dung, mà ở cách người ta nhắn gửi hồi âm. Tất cả đều chọn nói riêng. Không bình luận công khai. Không chia sẻ kèm ý kiến. Họ đi bằng “cửa hậu”. Lý do dễ hiểu: không muốn bàn chuyện chính trị nơi công cộng, nhất là trên mạng xã hội — nơi một câu nói có thể bị chụp mũ nhanh hơn tốc độ người ta kịp giải thích mình muốn nói gì.
Năm 2025 đi qua trong chiếc bóng của Donald Trump. Vị tổng thống ồn ào này, với cách hành xử phá bỏ mọi khuôn thước, đã làm xoay chuyển trật tự thế giới: khiến các nền kinh tế lên cơn sốt, nhưng cũng đẩy đồng minh Âu châu phải chi nhiều hơn cho quốc phòng. Bước sang 2026, khi “cơn lốc Trump” vẫn còn cuộn, đây là mười điều đáng dõi theo.
Năm 2025 đang khép lại. Không tổng kết. Không lời ca tụng. Chỉ lặng lẽ như một người vừa đi qua nhiều mất mát — chẳng còn hơi sức nói thêm điều gì. Nhìn lại — năm 2025 không dạy ta cách thắng, mà dạy ta cách không ngã gục. Chúng ta sống sót — vì thói quen nhiều hơn hy vọng. Quen giá cả leo nhanh hơn đồng lương. Quen nhìn nhau bằng ngờ vực hơn cảm thông. Quen tin dữ đến sớm hơn cà phê sáng. Quen mỗi ngày đều phải chọn một nỗi lo để mang theo, bởi không ai ôm nỗi chừng ấy đổ vỡ vào lòng cùng lúc.
Con người ở bất cứ nơi nào trên thế giới cũng có quyền được hạnh phúc và tạo ra hạnh phúc. Nó giống như dưới bầu trời có thể xảy ra trận không kích bất cứ lúc nào, dù ngày hay đêm, nhưng người Ukraine vẫn có thể khảy lên tiếng đàn Bandura. Một năm qua, ai trong chúng ta không mệt mỏi với những dòng chảy đầy bụi bặm, thoát ra từ một gánh xiếc nghiệp dư, mang theo những chất dơ của hận thù, ích kỷ, tham vọng, độc tài. Những ngày cuối cùng của năm 2025, hãy nói về Lửa Và Tro (Avatar: Fire and Ash), thưởng thức siêu phẩm giả tưởng của James Cameron, để cùng khép lại một năm ngộp thở của nước Mỹ, và cùng chiêm nghiệm một điều mà nước Mỹ đang cố tình lãng quên.
Mùa Giáng Sinh này, khi chúng ta chúc nhau an lành, hòa bình và thiện chí, có lẽ ta biết rõ hơn bao giờ hết, mình sẽ là người mở cửa quán trọ hay là Herod của thời đại mới? Khi đó, chúng ta sẽ hiểu — Chúa ở bên ai trong mùa Giáng Sinh này.


Kính chào quý vị,

Tôi là Derek Trần, dân biểu đại diện Địa Hạt 45, và thật là một vinh dự lớn lao khi được đứng nơi đây hôm nay, giữa những tiếng nói, những câu chuyện, và những tâm hồn đã góp phần tạo nên diện mạo văn học của cộng đồng người Mỹ gốc Việt trong suốt một phần tư thế kỷ qua.
Hai mươi lăm năm! Một cột mốc bạc! Một cột mốc không chỉ đánh dấu thời gian trôi qua, mà còn ghi nhận sức bền bỉ của một giấc mơ. Hôm nay, chúng ta kỷ niệm 25 năm Giải Viết Về Nước Mỹ của nhật báo Việt Báo.

Khi những người sáng lập giải thưởng này lần đầu tiên ngồi lại bàn thảo, họ đã hiểu một điều rất căn bản rằng: Kinh nghiệm tỵ nạn, hành trình nhập cư, những phức tạp, gian nan, và sự thành công mỹ mãn trong hành trình trở thành người Mỹ gốc Việt – tất cả cần được ghi lại. Một hành trình ý nghĩa không những cần nhân chứng, mà cần cả những người viết để ghi nhận và bảo tồn. Họ không chỉ tạo ra một cuộc thi; họ đã và đang xây dựng một kho lưu trữ. Họ thắp lên một ngọn hải đăng cho thế hệ sau để chuyển hóa tổn thương thành chứng tích, sự im lặng thành lời ca, và cuộc sống lưu vong thành sự hội nhập.

Trong những ngày đầu ấy, văn học Hoa Kỳ thường chưa phản ánh đầy đủ sự phong phú và đa dạng về kinh nghiệm của chúng ta. Giải thưởng Viết Về Nước Mỹ thực sự đã lấp đầy khoảng trống đó bằng sự ghi nhận và khích lệ vô số tác giả, những người đã cầm bút và cùng viết nên một thông điệp mạnh mẽ: “Chúng ta đang hiện diện nơi đây. Trải nghiệm của chúng ta là quan trọng. Và nước Mỹ của chúng ta là thế đó.”


Suốt 25 năm qua, giải thưởng này không chỉ vinh danh tài năng mà dựng nên một cộng đồng và tạo thành một truyền thống.
Những cây bút được tôn vinh hôm nay không chỉ mô tả nước Mỹ; họ định nghĩa nó. Họ mở rộng giới hạn của nước Mỹ, làm phong phú văn hóa của nước Mỹ, và khắc sâu tâm hồn của nước Mỹ. Qua đôi mắt họ, chúng ta nhìn thấy một nước Mỹ tinh tế hơn, nhân ái hơn, và sau cùng, chân thật hơn.

Xin được nhắn gửi đến các tác giả góp mặt từ bao thế hệ để chia sẻ tấm chân tình trên các bài viết, chúng tôi trân trọng cảm ơn sự can đảm của quý vị. Can đảm không chỉ là vượt qua biến cố của lịch sử; can đảm còn là việc ngồi trước trang giấy trắng, đối diện với chính mình, lục lọi ký ức đau thương sâu đậm, và gửi tặng trải nghiệm đó đến tha nhân. Quý vị là những người gìn giữ ký ức tập thể và là những người dẫn đường cho tương lai văn hóa Việt tại Hoa Kỳ.

Với Việt Báo: Xin trân trọng cảm ơn tầm nhìn, tâm huyết, và sự duy trì bền bỉ giải thưởng này suốt một phần tư thế kỷ.
Khi hướng đến 25 năm tới, chúng ta hãy tiếp tục khích lệ thế hệ kế tiếp—những blogger, thi sĩ, tiểu thuyết gia, nhà phê bình, nhà văn trẻ—để họ tìm thấy tiếng nói của chính mình và kể lại sự thật của họ, dù đó là thử thách hay niềm vui. Bởi văn chương không phải là một thứ xa xỉ; đó là sự cần thiết. Đó là cách chúng ta chữa lành, cách chúng ta ghi nhớ, và là cách chúng ta tìm thấy nơi chốn của mình một cách trọn vẹn.

Xin cảm ơn quý vị.

NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.