Hôm nay,  

TĐ Romney: Ông Là Ai?

31/07/201200:00:00(Xem: 24876)
  • Tác giả :
...khả năng vận động tranh cử của ông vẫn không bằng tài nói mát tai của TT Obama...

Mặc dù đại hội hai đảng chưa tổ chức, nhưng ai cũng biết ứng viên của hai chính đảng. Tuần trước, ta đã có dịp nhìn lại TT Obama, bây giờ ta thử xét TĐ Romney.

Thống Đốc Mitt Romney sanh năm 1947, từ một gia đình nổi tiếng trong chính trị Mỹ. Ông thân sinh là George Romney, thống đốc tiểu bang Michigan từ 1963 đến 1969, dưới thời TT Johnson. Xuất thân là một đại doanh gia rất thành công, ông George Romney từng là Tổng Giám Đốc hãng xe lớn thứ tư của Mỹ, American Motors Company (AMC), là hãng sản xuất cái xe mà không có một quân nhân nào trên thế giới không biết đến: xe Jeep. Thập niên 80, AMC được bán cho hãng xe Pháp Renault, sau đó, Renault bán lại cho Chrysler, và bây giờ Chrysler vẫn tiếp tục sản xuất xe Jeep.

Năm 1962, ông Romney cha bỏ kinh doanh tham gia vào chính trị, đắc cử Thống Đốc Michigan. Ông theo đảng Cộng Hoà, nhưng có khuynh hướng ôn hòa, có thể nói là cấp tiến trong đảng, là cha đẻ ra thuế lợi tức của tiểu bang, ủng hộ mạnh phong trào đòi dân quyền cho dân da màu của thập niên 60, chống lại nhóm Cộng Hòa thiên hữu cực đoan của TNS Barry Goldwater. Ông có quan điểm ủng hộ cuộc tham chiến của Mỹ tại Việt Nam thời đó. Năm 1967, ông ra tranh cử tổng thống, chạy đua cùng cựu PTT Nixon. Ông dẫn đầu Nixon khá xa và có triển vọng đắc cử trong nội bộ đảng Cộng Hòa. Nhưng trước không khí chống chiến tranh Việt Nam, ông thay đổi quan điểm, bắt đầu chống việc Mỹ tham chiến. Ông cho rằng trước đây, ông đã bị các tướng lãnh Mỹ “tẩy não” khi ông viếng thăm Việt Nam nên suy nghĩ sai lầm. Câu chuyện này trở thành xì-căng-đan, ông bị tố không có đủ khả năng trí thức để lãnh đạo, rớt đài mau chóng, phải rút lui ra khỏi cuộc chạy đua. Kỳ bầu đó, Nixon thắng, nhưng bổ nhiệm ông George Romney làm bộ trưởng Gia Cư, và ông đã thi hành một chính sách rất cấp tiến, xây nhà hàng loạt cho dân lợi tức thấp. Ông mất năm 1995, để lại một gia tài lớn cho con, nhưng ông Mitt Romney đã mang hết tài sản này tặng cho từ thiện.

Ông Mitt Romney như vậy xuất thân từ gia đình “đại gia”, tốt nghiệp những trường lớn như Brigham Young và Harvard. Sau khi tốt nghiệp, ông Romney đi làm cho một công ty tư vấn về quản lý kinh doanh có tầm vóc quốc tế với chi nhánh tại nhiều nước, Bain & Company. Công ty phát triển mau chóng, nhưng đến giữa thập niên 80, bị đe dọa phá sản vì những tranh chấp cá nhân trong nhóm lãnh đạo công ty.

Năm 1984, một công ty mới được thành lập, lấy tên Bain Capital, và ông Mitt Romney được bổ nhiệm làm tổng giám đốc. Cần ghi nhận là hai công ty Bain & Company và Bain Capital khác nhau. Công ty đầu là công ty tư vấn về quản lý doanh nghiệp, trong khi Bain Capital là công ty chuyên đầu tư mạo hiểm, bỏ vốn vào các công ty có triển vọng nhưng nhiều rủi ro, đặc biệt là các công ty đang gặp khó khăn, hay mới thành lập. Trong thời gian này, Bain Capital đã cứu hàng trăm công ty khỏi phá sản hay giúp tung ra thị trường hàng trăm công ty khác, trong đó có những công ty ngày nay đã trở thành khổng lồ như Staples với 90.000 nhân viên, Home Depot, Dominos Pizza, Burger King..., tức là đã cứu hay tạo thêm hàng trăm ngàn việc làm.

Năm 1999, ông Romney từ chức TGĐ Bain Capital, nhưng vẫn là cổ đông lớn. Ông qua điều hành chương trình Thế Vận Mùa Đông (Winter Olympics) tại Salt Lake City năm 2002, đưa ra hàng loạt cải cách tinh giản hoá hệ thống tổ chức, cắt giảm chi tiêu, cứu chương trình này khỏi bị phá sản, mang lại thành công lớn cho Thế Vận năm đó. Ông làm ba năm cho chương trình này, với tư cách tình nguyện không ăn lương.

Sau đó, năm 2002, ông tranh cử và đắc cử Thống Đốc Massachusetts, làm một nhiệm kỳ đến cuối 2006 và không ra tranh cử lại. Trong bốn năm ngắn ngủi đó, ông đã thực hiện được hai chuyện: xoá bỏ 1,5 tỷ thâm thủng ngân sách tiểu bang bằng cách cải tổ hệ thống hành chánh tiểu bang và cắt chi tiêu mà không cần tăng thuế; thiết lập bảo hiểm y tế toàn dân đầu tiên của nước Mỹ. Trong bốn năm này, ông cũng không lãnh một đồng lương nào.

Năm 2008, ông ra tranh cử tổng thống, nhưng bị TNS John McCain hạ trong nội bộ đảng Cộng Hoà. Năm nay ra lại, và sau nhiều cam go, cuối cùng đã trở thành ứng viên của Đảng Cộng Hoà.

Dựa trên thành tích cải tổ doanh nghiệp, cứu Thế Vận, và cân bằng ngân sách tại Massachusetts, ông chỉ trích giải pháp của TT Obama, bành trướng hệ thống hành chánh thư lại, tăng chi tiêu để rồi đòi tăng thuế không thể là giải pháp đúng để giải quyết khó khăn kinh tế hiện nay. Bảo hiểm y tế của TĐ Romney được coi như là mô thức mẫu cho cải tổ y tế của TT Obama, nhưng ông Romney khẳng định mô thức của ông khác xa chế độ y tế của TT Obama, cũng như chỉ có thể áp dụng được cho Massachusetts chứ không thích hợp với tất cả 50 tiểu bang. Ông cam kết sẽ thu hồi luật cải tổ của TT Obama nếu đắc cử tổng thống.

Ông Romney chủ trương không đại xá cho những di dân bất hợp pháp, chống hôn nhân đồng tính, giới hạn phá thai, miễn thuế cho các đại công ty có cơ sở ở nước ngoài muốn mang tiền và cơ sở kinh doanh về Mỹ lại, không can thiệp quân sự ngoài nước Mỹ nếu an ninh của Mỹ không bị đe dọa, tiếp tục chính sách cứng rắn chống khủng bố cũng như chống các đe dọa nguyên tử như Iran và Bắc Hàn, ủng hộ mạnh mẽ Do Thái. Các chương trình an sinh xã hội như tiền già, medicare, medicaid cần được xét lại để cải tổ, tránh phá sản trong vài năm nữa.

Khối cử tri quan trọng nhất của TĐ Romney là giới trung lưu và thượng lưu, đàn ông Mỹ trắng, trong khi ông vẫn không tìm được hậu thuẫn trong khối dân da màu, dân gốc thiểu số Nam Mỹ hay Á Châu, giới trí thức trẻ, và phụ nữ. TT Obama vì không có thành quả gì đáng kể nên đã tìm cách kiếm phiếu bằng những biện pháp lấy lòng từng khối cử tri nhỏ như khối di dân (cấm không cho trục xuất những người ở lậu trong tuổi đi học), khối sinh viên (giới hạn lãi xuất trên tiền cho sinh viên vay), hay khối dân đồng tính (ủng hộ hôn nhân đồng tính). Tất cả những biện pháp lẻ tẻ, quyết định vài tháng trước ngày bầu cử, tuy lộ liễu như những cố gắng lấy phiếu, nhưng cũng rất hiệu quả.

TT Obama trong thời gian qua cũng tung hàng trăm triệu quảng cáo trên truyền hình. Dựa trên các quảng cáo của TT Obama, TĐ Romney trên căn bản có ba tội lớn: 1) giàu có, có tiền cất ở ngoài nước, 2) khi còn làm tổng giám đốc hãng Baine Capital chuyên sa thải nhân công, 3) cũng như chuyên mở công ty tại nước ngoài, mang jobs ra khỏi Mỹ. Đại ý, TT Obama muốn thiên hạ thấy ông Romney chỉ là một tài phiệt biết kiếm tiền và ngồi đếm tiền mà không thắc mắc sẽ có bao nhiêu người mất việc, và bầu cho ông thì sẽ còn nhiều người mất việc hơn nữa.

Đúng là TĐ Romney có nhiều tiền và một số được cất ngoài nước. Nhưng như vậy theo lý luận này thì “giàu” là cái tội sao? Giàu nhờ ăn cướp kiểu trùm mafia Al Capone thì quả là cái tội, nhưng giàu vì có khả năng và chịu khó cầy cuốc như Bill Gates, Warren Buffett cũng là tội sao? Còn chuyện cất tiền ở ngoài nước thì đúng ra phải là điều TT Obama nghiên cứu kỹ hơn và đặt câu hỏi tại sao và làm cách nào sửa đổi. Có phải tại vì thuế quá cao và thủ tục hành chánh quá rườm rà, do đó đã làm thất thoát một số tiền lớn cho Mỹ không? Và như vậy có nên tìm cách để chiêu dụ các tài phiệt mang tiền về để phát triển kinh tế đất nước thay vì sỉ vả họ, tăng thuế và đặt thêm luật?

Chuyện tố TĐ Romney là “nhà giàu” nằm trong chiến lược kích động đấu tranh giai cấp mới chứ thật sự không nghiã lý gì. Hình ảnh đảng Dân Chủ như đảng của người nghèo là một huyền thoại vô lý nhất mà vẫn được nhai lại không ngừng. Tất cả ứng viên tổng thống trong lịch sử cận đại đều là triệu phú hết, kể cả tất cả các ứng viên của đảng “nhà nghèo” như Obama, Kerry, Gore, Clinton, đến Johnson và Kennedy.

Cũng đúng là TĐ Romney trong lúc làm cho Bain Capital đã khuyến cáo các công ty bên bờ phá sản phải sa thải bớt nhân công. Nhưng chỉ trích điểm này là chú tâm vào khiá cạnh tiêu cực mà không nhìn vào hàng trăm ngàn người khác đã có việc làm. Ngay cả các chính khách Dân Chủ như thị trưởng Cory Booker, cựu Chủ Tịch đảng Dân Chủ Ed Rendell... và đến cả TT Clinton cũng đã phải lên tiếng bênh vực thành quả của Baine Capital và TĐ Romney.

Chuyện ông Romney chuyên mang jobs ra nước ngoài không đúng sự thật. Sau năm 1999, Baine Capital đầu tư mạnh vào một số hãng Mỹ mở chi nhánh tại nước ngoài, nhưng khi đó, ông Romney đã hết làm tổng giám đốc rồi vì mắc lo Thế Vận tại Salt Lake City, không có quyền quyết định gì trong Bain Capital nữa.

Qua những quảng cáo trên truyền hình và báo chí, người ta không thấy TT Obama quảng bá thành tích gần bốn năm của ông, mà chỉ thấy toàn là những đả kích chống TĐ Romney. Một cố gắng hăm dọa cử tri khiến cử tri phải lo sợ về một viễn tượng Romney làm tổng thống. Đó là chiến lược tranh cử tiêu cực mà ứng viên Obama đã từng lớn tiếng bác bỏ.

Năm 2008, ứng viên Obama trong bài diễn văn chấp nhận đề cử của đảng Dân Chủ tại Denver dõng dạc tuyên bố: “Nếu ra tranh cử mà không có thành tích gì thì phải tô vẽ đối thủ của mình như một người cần xa lánh” (nguyên văn: If you don't have a record to run on, then you paint your opponent as someone people should run from). Theo ông Obama, đó là chính trị của quá khứ phản ánh một thái độ giả dối gian trá (cynicism) và “các bạn đã đứng dậy, từng người một, để nói đủ rồi với cái chính trị của quá khứ đó”.

Cử tri Mỹ đã “mê” Obama vì những quan điểm tươi mát này. Nhưng điều hiển nhiên chính là TT Obama đang trở về cái chính trị của quá khứ mà ông từng đả kích, qua chiến lược mang con ngáo ộp Romney ra đe dọa cử tri. Thế mới nói chính trị gia nói dzậy mà không bao giờ là dzậy.

TT Obama tránh không đả động đến tôn giáo của TĐ Romney, nhưng không ít chính khách khác trong đảng Dân Chủ cũng như trong guồng máy vận động của TT Obama công khai đặt vấn đề ông Romney theo đạo Mormon, được nhiều dân Công giáo coi như một “tà giáo”. Đạo Mormon chủ trương kiêng rượu, thuốc lá, trà, cà phê, coi nặng tinh thần cộng đồng, và trước đây cũng chấp nhận đa thê.

Ông Romney là một chuyên gia kinh doanh và kinh tế, không phải là một tay hùng biện chính trị kiểu các mục sư da màu, lại càng không chịu hứa trăng hẹn biển gì nhiều, do đó, khả năng đọc diễn văn tranh cử thua xa TT Obama. Trên căn bản, ông chỉ cam kết hai chuyện mà ông cho là quan trọng nhất hiện nay: thu hồi luật Cải Tổ Y Tế của TT Obama và phục hồi kinh tế bằng cách cắt giảm chi tiêu và giữ mức thuế thấp cho tất cả mọi người. Không có những lời hứa đổi đời như đại đoàn kết dân tộc, thay đổi không khí chính trị Hoa Thịnh Đốn, hay những sáo ngữ vô lý như “tạo bình minh mới” hay “hạ thủy triều”.

So với TT Obama, ông Romney có nhiều kinh nghiệm chính trị và kinh tế, nên có đầu óc thực tiễn hơn, từ đó cũng dễ uyển chuyển thay đổi lập trường hơn. Như trước đây ông ủng hộ phá thai, bây giờ thì không.

Những thay đổi quan điểm này đã bị TT Obama tố cáo như là thái độ lươn lẹo bất nhất, nhưng quan trọng hơn những tố giác của TT Obama, những thay đổi đó khiến khối bảo thủ Cộng Hòa cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào ông Romney. Thăm dò dư luận cho thấy ông được hậu thuẫn ngang ngửa với TT Obama, nhưng một phần lớn hậu thuẫn ông Romney có chỉ phản ánh thái độ chống Obama chứ không phải là thái độ hậu thuẫn Romney.

Thật ra, chính khách có quan điểm chính trị nhất định, không thay đổi, có lẽ hiếm hơn tuyết rơi mùa hè, nhất là trong cái thể chế dân chủ mỵ dân kiểu Mỹ. Kiếm phiếu cử tri là điều quan trọng nhất, quan điểm hay hứa hẹn chỉ là phương tiện, có thể du di tùy nhu cầu. Cột báo này đã bàn nhiều về những “thay đổi” quan điểm của TT Obama.

Nói chung, TĐ Romney là một người bảo thủ nhưng ôn hoà, sẵn sàng tìm thoả thuận với đối lập để giải quyết vấn đề, như khi ông làm Thống Đốc Massachusetts, phải làm việc với một quốc hội cấp tiến nhất. Thái độ ôn hòa đó giúp ông đắc cử và thành công trong một tiểu bang cấp tiến nhất. Với thái độ này, người ta có thể hy vọng ông sẽ làm việc được với các nghị sĩ và dân biểu Dân Chủ nếu ông đắc cử tổng thống, khác với TT Obama đã quá cứng ngắc trong quan điểm cấp tiến của ông để trở thành tổng thống tạo phân hoá lớn nhất lịch sử cận đại Mỹ, làm tê liệt cả lập pháp lẫn hành pháp.

Những thăm dò dư luận mới nhất cho thấy ông Romney vẫn ngang ngửa với TT Obama. Ông Romney hơn TT Obama 1% theo Gallup, hơn 5% theo Rasmussen, hơn 1% theo CBS/New York Times, thua 4% theo NBC, thua 4% theo Fox. Tất cả đều trong sai biệt xác xuất nên không có bao nhiêu ý nghiã, chưa kể sẽ còn thay đổi hàng ngày trong ba tháng tới.

Hành trình của TĐ Romney cam go hơn TT Obama rất nhiều. Chẳng những vì dân Mỹ thông thường khá nhẫn nại với tổng thống vì muốn cho tổng thống thời giờ, nhất là khi phải trực diện với khủng hoảng mà nhiều người coi như lớn nhất thế kỷ, mà cũng vì ông Romney vẫn chưa thuyết phục được cử tri vì khả năng vận động tranh cử của ông vẫn không bằng tài nói mát tai của TT Obama.

TĐ Romney vẫn có hy vọng thắng nếu dân Mỹ chịu khó nhìn kỹ vào thành quả của bốn năm Obama, chấp nhận trao trách nhiệm giải quyết khó khăn kinh tế cho một chuyên gia kinh tế, thay vì tiếp tục sống trong ảo vọng của những lời hứa hẹn và hẹn hứa. Kinh tế èo uột vẫn là ưu tư số một của dân Mỹ. Và theo các thăm dò mới nhất, giải pháp của TT Obama được coi là sai lầm. 55% cử tri cho rằng TT Obama đã làm Nhà Nước ngày càng to lớn và nặng nề, 75% cho là dân Mỹ lệ thuộc quá nhiều vào Nhà Nước, 64% cho rằng Nhà Nước là vấn đề chứ không phải là giải pháp. (29-7-12)

Vũ Linh
Quý độc giả có thể liên lạc với tác giả để góp ý qua email: [email protected]. Bài của tác giả được đăng trên Việt Báo mỗi thứ Ba.

Ý kiến bạn đọc
31/07/201214:38:46
Khách
Many thanks to author Vũ Linh
for a very informative & useful review/asessment/comparison.
04/08/201209:08:23
Khách
Cám ơn tác giả vói những nhận định cụ thể để có thể thuyết phục độc giả. Thời niên thiếu đã từng trải qua kinh nghiệm sống đầy gian nan khổ ải dưới một thể chế "nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" và kết quả đất nước VN ngày nay ra sao chắc ai cũng thấy rồi, giấc mộng tiến tới "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" đã đi đến chân trời nào"? Không biết người Mỹ đang nuôi mộng gì? Cũng từng là thần dân của tiểu bang Mas khi ong Romney còn làm thống đốc, ít nhất ông đã không cổ vũ mở sòng bài trong tiểu bang để kiếm thêm việc làm nhu ông thống đốc ké nhiệm bây giờ đang kêu gào, dân cư Mass phản đối dự luật này tơi bời chỉ vì không muốn biến một tiểu bang có truyền thống học hành bao đời bỗng trở nên một nơi thu hút nhũng tâm hồn nghiện ngập đỏ đen, vậy có nên chăng chửi ông Romney là nhà giàu? Thêm vào nữa, khi "bà thần lụt" Katrina hoành hành LA, ông đã mở một trại tiếp cư tại Mass để tiếp đón nạn nhân bão lụt rất là chu đáo, dù họ đến bằng phương tiện tự túc hay những chuyến bay do chính phủ tài trợ.
Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.