Hôm nay,  

Trung Quốc Tụt Hậu

02/05/201200:00:00(Xem: 16016)
Chiến lược chủ động công nghiệp hoá qua vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước đã thất bại thê thảm...

Những Sai Lầm Trong Chánh Sách Kinh Tế

Bảo rằng Trung Quốc đang tụt hậu thì nhiều người khó tin, nhất là sau khi xứ này vừa vượt qua Nhật Bản vào năm 2010 để thành nền kinh tế hạng nhì thế giới trong khi cả ba khối công nghiệp hoá là Hoa Kỳ, Nhật Bản và Âu Châu vẫn chưa ra khỏi bốn năm suy trầm với nhiều khó khăn chồng chất. Và từ năm ngoái, thiên hạ còn được dự báo rằng kinh tế Trung Quốc sẽ vượt Hoa Kỳ trong mươi mười lăm năm nữa. Hão huyền!

Nhưng sự thật kinh tế ở bên trong Trung Quốc lại không được như vậy, và đây là hồi chuông cảnh báo cho Việt Nam, vốn dĩ vẫn cứ đi dưới bóng rợp của nước láng giềng anh em.

Chúng ta phải vượt qua nhiều nghịch lý trên bề mặt thì mới thấy sự thật kinh tế và xã hội ở bên dưới....

Trong hai quý cuối cùng của 2011, sản lượng kinh tế của Trung Quốc đã giảm sút đáng kể, và đây là một điều hay!

Tháng Ba vừa qua, sau kỳ họp thứ năm của Quốc hội khóa 11, Tổng lý Quốc vụ viện (Thủ tướng) Ôn Gia Bảo thông báo chỉ tiêu tăng trưởng năm nay là 7,5% và đề ra một số đường hướng cải cách. Nói cho dễ hiểu, lãnh đạo xứ này muốn cỗ xe chạy chậm lại để có thể quẹo cua mà không lật vì biết là phải chuyển hướng. Vì vậy, nếu đà tăng trưởng có giảm thì không hẳn là điều dở. Nhưng với điều kiện là để có thể cải cách.

Sự thật là lãnh đạo thì tính như vậy, nhưng các tỉnh vẫn cố rồ máy tống ga nên Trung Quốc vẫn sẽ có đà tăng trưởng cao hơn chỉ tiêu, như thực tế của mọi năm trước, trong khi vẫn chất chứa những nhược điểm, xuất phát từ sai lầm về chính sách. Chúng ta sẽ tìm hiểu chuyện đó ở đây.

Trước hết, khi kinh tế toàn cầu còn bị suy trầm, đà tăng trưởng của Trung Quốc vẫn cứ bị hiểu lầm và được ngợi ca. Nếu kinh tế thật sự tăng trưởng với phẩm chất tốt đẹp thì cỗ máy tạo ra phép lạ ấy là các doanh nghiệp tất nhiên là phải phát đạt hơn. Nếu vậy, tại sao thị trường chứng khoán xứ này – và cả Việt Nam – vẫn cứ èo uột?

Thật ra tăng trưởng của Trung Quốc thiếu phẩm chất mà thừa lãng phí.

Một cơ thể mà được bồi dưỡng quá nhu cầu và một cách vô ích thì dẫn tới nạn mập phì. Trong lãnh vực kinh tế, nạn mập phì đó là lạm phát.

Khi nạn tổng suy trầm toàn cầu nổi lên từ năm 2008, lãnh đạo Trung Quốc ráo riết tăng chi và bơm tín dụng vào kinh tế để nâng mức đầu tư hầu phần nào bù đắp sự hao hụt của xuất cảng vì ba thị trường nhập cảng lớn là Âu-Mỹ-Nhật đều co cụm. Biện pháp kích thích kinh tế đó lớn bằng 40% tổng sản lượng, cỡ 2.000 tỷ Mỹ kim, tương đương với 5.800 tỷ nếu cũng được áp dụng tại Mỹ!

Một cơ thể được bơm vào một lượng thuốc bổ bằng 40% sức nặng thì tất nhiên dẫn tới hiện tượng dân ta nôm na gọi là "phì lủ", béo vì bệnh. Bệnh đó là nạn bong bóng đầu cơ và lạm phát.

Cả một nền kinh tế hay cơ thể mà bị lệ thuộc vào thuốc bổ thì mới vận hành là điều nghịch lý.

Nó thể hiện ở nạn lạm phát thực tế còn trầm trọng hơn những con số thống kê biểu kiến. Và nó dẫn tới sự lầm than của dân nghèo. Đa số người dân Trung Quốc vẫn chưa có mức lợi tức trung bình có bốn đô la một ngày.

Mà ưu thế tăng trưởng ngoạn mục trên bề mặt, như 10% một năm trong hai chục năm liền, đang hết dần vì cái vựa người đã cạn: nhờ chính sách mỗi hộ một con, dân số Trung Quốc hết giảm và đã sớm bị lão hóa, doanh nghiệp bắt đầu thiếu người.

Muốn gia tăng sản xuất, người ta có thể nâng cao bốn loại nhập lượng là đất đai, tiền bạc, nhân công và kỹ thuật. Khi nhân công hết còn tăng mạnh mà kỹ thuật không cải tiến để nâng cao hiệu năng của lao động thì người ta chỉ còn đất và tiền. Hãy nói về đất và tiền.

Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân nhưng do đảng và nhà nước quản lý và phân bố - chủ yếu là cho doanh nghiệp nhà nước và thân tộc của đảng viên các cấp. Nhu cầu tăng trưởng chỉ tính theo lượng mà bất kể tới phẩm tất nhiên dẫn tới nạn cướp đất, là chuyện đã xảy ra tại cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, với hậu quả bong bóng địa ốc khiến giá nhà tăng vọt trong khi nhu cầu gia cư vẫn không được thoả mãn.

Một thí dụ cụ thể là thông thường, giá trung vị (median price) của một ngôi nhà bằng ba hai năm năm lợi tức trung bình của cư dân – theo định nghĩa của Liên hiệp quốc và Ngân hàng Thế giới – thì được coi là bình thường. Tại Trung Quốc, trái bóng địa ốc khiến người dân bình thường phải cầy mất 12 năm, hoặc tại Bắc Kinh là 27 năm, thì mới có thể mua nhà! Đó là về đất và bóng.

Về tiền thì khi nhà nước tiếp tục bơm tiền như nhồi thuốc bổ vào một cơ thể có bệnh, lạm phát tất nhiên bùng nổ, như cả Trung Quốc và Việt Nam đều bị.

Khi vật giá leo thang, mà các doanh nghiệp vẫn được tài trợ dễ dãi thì tính sao? Họ ra sức mua vào nguyên nhiên vật liệu và sản xuất rất mạnh – lại vượt chỉ tiêu – rồi cất hàng vào kho. Vì vậy, chính sách bơm tiền kích thích kinh tế không chỉ thổi lên trái bóng địa ốc hoặc trái bóng thương phẩm – là các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu và nông sản – mà còn dẫn đến hiện tượng tồn kho chất đống. Nghĩa là hàng ế, phố hoang, cửa hàng vắng khách.

Một trong các tiêu chuẩn thẩm định xem kinh tế đã ra khỏi suy trầm hay chưa là ngó vào lượng tồn kho.

Nếu tồn kho giảm thì kinh tế bắt đầu ra khỏi chỗ trũng và sẽ phát đạt khi doanh nghiệp bắt đầu sản xuất thêm và tuyển lại người. Các doanh nghiệp chủ đạo của Trung Quốc đã đầu cơ bằng tồn kho, lại còn được ngân hàng tài trợ thêm, hoặc du di các khoản nợ đáo hạn để có sổ sách gọi là quân bình.

Cho nên việc điều chỉnh tồn kho nghĩa là bán cho hết hàng ế, vẫn bị trì hoãn, bị đẩy lui. Nghĩa là người ta không giải quyết vấn đề mà chỉ đánh bùn sang ao. Và gây ấn tượng hoành tráng cho những kẻ thiếu hiểu biết – khá đông tại Hà Nội – rằng kinh tế Trung Quốc vẫn mạnh, vẫn có đà tăng trưởng cao.

Bây giờ, chúng ta hiểu vì sao Ôn Gia Bảo muốn hạ chỉ tiêu tăng trưởng – mà có khi không nổi!

Vấn đề chính ở đây là Trung Quốc phải cải thiện năng suất của bộ máy sản xuất. Năng suất mà không cải tiến thì càng bơm tiền kích thích kinh tế sẽ càng gây lạm phát. Yêu cầu chuyển hướng và cải cách kinh tế mà Hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng đề ra năm ngoái và Quốc hội công bố năm nay chính là để nhắm vào chuyện năng suất đó.

Nhưng cũng sẽ không thành!

Lý do là bộ máy nhân sự điều khiển bộ máy sản xuất đó không thấy nhu cầu!

Cho đến nay, các đại gia có quan hệ tốt với đảng viên cán bộ các cấp từ trung ương và các thành phố lớn đến các tỉnh và địa phương vẫn cứ ăn nên làm ra. Vì vậy, họ không cần cải tiến cái cơ chế ưu đãi và còn ra sức phá hoại nỗ lực cải cách. Điều ấy không là một suy đoán có ác ý mà nằm ngay trong ngân sách năm nay. Thay vì giảm thuế cho doanh nghiệp thì lại tăng chi, thêm 14% cho tài khoá 2012.

Về chuyện thuế, doanh nghiệp Trung Quốc bị đè dưới gánh nặng thuế khóa. Người ta tính ra là 45% phí tổn về nhân công chính là gánh thuế phải nộp cho chính phủ, một tỷ lệ cao hơn các nước công nghiệp hóa, kể cả Hoa Kỳ của Barack Obama.

Vì yêu cầu tăng trưởng "bằng mọi giá", doanh nghiệp Trung Quốc có mức doanh lợi cực thấp trong suốt một chuỗi sản xuất từ trên xuống dưới và càng làm gia công ở dưới thì tỷ lệ lợi nhuận càng thấp. Họ bù lỗ bằng chế độ bóc lột nhân công được hợp pháp hóa, định chế hóa bởi chiến lược "nhân công rẻ".

Nhưng bộ máy đàn áp công nhân có thể dẹp được biểu tình chứ không thoát khỏi quy luật kinh tế. Lãnh đạo Trung Quốc lãnh hai hậu quả xã hội và kinh tế nghiêm trọng như nhau.

Về xã hội là nạn khiếu kiện tập thể và biểu tình lan rộng, về kinh tế là sự phá sản hàng loạt các tiểu doanh thương tư nhân nằm ở công đoạn thấp nhất của chu trình sản xuất. Kết quả chung cuộc là lợi tức quá thấp của người dân không nâng cao được số cầu của thị trường nội địa, qua sức tiêu thụ của dân chúng, nên kinh tế vẫn lệ thuộc vào đầu tư của nhà nước và vào xuất cảng.

Khi các nước nhập cảng đều gặp khó khăn như hiện này, nhà nước lại càng ra sức đầu tư, tăng chi để đầu tư, các địa phương đi vay để đầu tư. Mà càng đầu tư vào bộ máy kém hiệu năng thì càng thổi lên bong bóng và lạm phát.

Sau kỳ họp của Quốc hội tháng trước, người ta chỉ chú ý đến vụ khủng hoảng tại Trùng Khánh và những hành vi mờ ám của gia đình Bạc Hy Lai.

Nhưng nếu chịu khó nhìn thêm vào ngân sách được Quốc hội ban hành, ta còn thấy một sự việc khác: chính quyền nói đến cải cách mà vẫn làm như cũ. Không cải cách vì không thể cải cách. Vụ điều tra về thành tích biểu kiến của Trùng Khánh dưới quyền lãnh đạo của Bạc Hy Lai từ năm 2007 cho đến khi bị cách chức vào Tháng Ba cho thấy một hiện tượng chung: các địa phương có thể qua mặt trung ương mà làm bậy và Trùng Khách mắc nợ quá nhiều.

Các lãnh tụ địa phương mà có thần thế ở trung ương còn có khả năng tác động vào chính sách kinh tế quốc dân ở cấp cao nhất! Họ dẫn xứ sở vào cái "bẫp xập của cải cách", nghĩa là hết dám cải cách, như nhiều trí thức trong bộ máy nhà nước đã công khai than phiền từ đầu năm nay.

Cơ chế kinh tế chính trị xứ này tạo ra các nhóm quyền lợi, những trung tâm cản trở nỗ lực cải cách mà chẳng ai biết vì báo chí không có tự do và xứ sở không có dân chủ.

Bây giờ, ta hãy nhìn rộng ra ngoài.

Các tổ hợp quốc tế bước vào làm ăn tại Trung Quốc đều nhìn ra nhược điểm này. Và tận tình khai thác. Họ tìm ra đòn bẩy là mối quan hệ giữa các đại gia, các tập đoàn nhà nước với lãnh đạo ở trên và kiếm lời rất khỏe. Họ đều biết thủ thuật ăn cắp công nghệ của Trung Quốc nên phải thủ rất kín, đôi khi thất bại khi ăn cắp hoặc ăn cướp tác quyền trí tuệ được coi là quốc sách. Nhưng đa số thì vẫn thành công, vì vậy họ vẫn ở lại!

Họ thành công khi trao cho doanh nghiệp Trung Quốc những công đoạn thấp nhất của tiến trình sản xuất và giữ lấy cho mình phần có giá trị nhất. Trong tiến trình hợp tác đó, doanh nghiệp Trung Quốc chỉ làm gia công và ra sức bóc lột công nhân bằng lương thấp bổng kém để đạt mức doanh lợi cao hơn cũng theo hình tháp, là càng ở dưới thì càng ít lời mà cần nhiều nhân công.

Nhìn cách khác, Trung Quốc làm thế giới khâm phục hoặc hãi sợ khi ồ ạt sản xuất hàng gia dụng hoặc tiêu dùng hạng sang, kể cả xe hơi hay máy điện toán. Nhưng khác với các tổ hợp quốc tế Âu, Mỹ, Nhật và cả Đại Hàn, doanh nghiệp Trung Quốc chưa tiến lên trình độ quyết định về giá cả - hoặc có khả năng "làm giá", kinh doanh học gọi là "pricing power" – mà vẫn chỉ loay hoay với chiến lược bán rẻ để bán nhiều.

Đó là ưu thế của một nước lạc hậu!

Khi nhìn cả tiến trình mở cửa và hợp tác như một cái tháp, các doanh nghiệp quốc tế ở trên đỉnh vẫn giữ phần hơn. Họ thực tế chỉ đạo hoặc khống chế các khu vực chiến lược và béo bở nhất của kỹ nghệ Trung Quốc và thải xuống những phần xương xẩu cho các doanh nghiệp Trung Quốc ra sức giành nhau, trên lưng của công nhân.

Vì vậy, trên các thị trường quốc tế, doanh nghiệp Trung Quốc chỉ có tiếng chứ không có miếng và chưa thể cạnh tranh với những Samsung, Hyundai của Nam Hàn, hay HonHai của Đài Loan. Người ta cứ la trời rằng trong cái iPad có đầy cơ phận thực ra là "chế tạo tại Trung Quốc". Nhưng đó chỉ là "made in China", chưa thể là "products of China"!

Các nước tiên tiến thật ra vẫn nắm dao đằng chuôi, doanh nghiệp của họ cũng vậy. Trong khi cả kiến trúc vĩ đại của Trung Quốc với các tập đoàn công nghiệp hay ngân hàng của nhà nước chỉ đứng phất cờ, thổi lên bong bóng, gây ra lạm phát. Và còn được nhà nước yểm trợ để làm ra cái trò huê dạng này.

Chính sách phát triển tư bản nhà nước của Trung Quốc chỉ phát triển ra hệ thống "tư bản thân tộc" – crony capitalism - và chế độ "quần đới quan hệ" (nepotism) là khi một người làm quan cả họ được nhờ. Mà quần đới là gì? Thưa là cái dải quần!

Chiến lược chủ động công nghiệp hoá qua vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước đã thất bại thê thảm. Trung Quốc tụt hậu là trong ý nghĩa đó. Theo sau là Hà Nội lúp súp ôm lấy cái dải quần mà không dám buông tay.

Vì vẫn chưa thoát khỏi cái định hướng xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Quốc.

Nguyễn Xuân Nghĩa

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.