Hôm nay,  

Một Bà Mẹ

02/05/201100:00:00(Xem: 8565)

Một Bà Mẹ

Đỗ Văn Phúc dịch
(Truyện cổ tích của Hans Christian Andersen)
Kính tặng các bà Mẹ nhân ngày Mothers Day 8/5/2011
Có một bà mẹ đang ngồi âu sầu bên đứa con nhỏ. Bà rất buồn vì con bà đang hấp hối, em bé xanh xao đã nhắm nghiền đôi mắt thơ và lồng ngực đang thoi thóp những hơi thở cuối cùng. Thỉnh thoảng em rền rỉ qua hơi thở thều thào, bà mẹ cúi sát tận mặt em mà lòng se thắt đau đớn vô cùng.
Bổng có tiếng gõ cửa. Một ông lão nghèo khổ bước vào. Người ông trùm kín trong tấm chăn mà người ta chỉ dùng khoác cho ngựa. Bên ngoài trời rất lạnh, tưởng chỉ có thứ chăn này này mới đủ che ấm tấm thân già. Băng tuyết xuống đầy, phủ kín cả một vùng; những cơn gió như những lằn dao cắt vào da thịt. Ông già bước vào, run cầm cập. Thấy con đang ngủ thiếp đi, bà mẹ nhen lửa hâm chút rượu. Ông lão ngồi xuống đu đưa đứa bé với tiếng ru buồn. Bà mẹ ngồi vào chiếc ghế cạnh ông lão, nhìn con đang thoi thóp mà hỏi:
- Liệu có sao không hả cụ" Đức Chúa lòng lành có bắt nó đi không cụ"
Ông lão lắc đầu, chẳng ai hiểu rõ là cách trả lời hay biểu hiện sự bất lực. Bà mẹ gục đầu khóc nấc lên. Em bé đã qua ba ngày hấp hối và bà thì đã kiệt sức lo lắng tho con, không hề chợp mắt được một giây, Ba thấy đầu óc trĩu nặng và thiếp đi một chốc. Cơn rét làm bà rùng mình thức dậy. Không thấy con và cả ông già, bà la thét lên:
-Trời ơi, cái gì thế này" Con tôi đâu rồi"
Cộp! Một tiếng động vang dội trong nhà. Chiếc đồng hồ quả lắc vẫn từng gõ nhịp nay ngưng lại, quả lắc rơi bộp xuống sàn nhà. Bà mẹ đáng thương vùng chạy ra khỏi nhà, miệng gọi tên con không ngớt. Một bà cụ mặc áo đen đang ngồi trên đống tuyết chặn bà lại và mách:
-Tôi thấy thần Chết vào nhà bà và mang đứa bé đi mất. Lão ta chạy nhanh hơn gió. Một khi lão đã mang đi thì chớ hòng lão mang trả lại.
Bà mẹ thiểu nảo khẩn cầu:
-Cụ ơi, xin vui lòng chỉ cho tôi biết đường nào mà đi tìm lão.
-Đồng ý, nhưng bà phải hát cho ta nghe một bài mà bà từng hát ru con để đổi lấy sự chỉ đường của ta. Ta từng nghe nhiều bài hát, nhưng chỉ thích nghe giọng bà hát cơ. Ta là thần Đêm, từng ở bên bà và nghe bà hát ru con não ruột, chan hoà nước mắt.
Bà mẹ lại năn nỉ:
-Tôi xin hát đây, hát bất cứ gì cụ muốn nghe, nhưng cụ phải chỉ đường cho tôi đi tìm thần Chết đòi lại con tôi.
Bà mẹ hát, lời ca làm não lòng người, nước mắt bà chảy dài chan hoà trên hai gò má gầy. Bà vừa hát vừ nức nở, nấc lên từng hồi. Thần đêm nghe xong bèn chỉ đường:
-Ta thấy thần Chết mang con chị biến vào khu rừng tối kia. Cứ đi theo hướng đó mà tìm.
Bà mẹ lao vào bóng đêm theo hướng thấn Đêm vừa chỉ. Đến một ngả ba giữa rừng già, bà phân vân không biết nên theo lối nào. Bà hỏi một bụi gai bên đường đang trơ trọi những cành khô bám đầy tuyết:
-Gai có thấy thần Chết mang một đứa bé chạy qua đây không"
-Thấy, có thấy, nhưng bà phải ôm tôi vào lòng, ấp cho tôi được chút hơi ấm rồi tôi chỉ đường cho. Tôi lạnh cóng gần chết đây.
Bà mẹ không ngần ngại kéo bụi gai ôm sát vào ngực mình. Những cây gai nhọn đâm vào khuôn ngực trắng mịn của bà, đau điếng, màu từ tim bà nhỏ giọt nhưng bà cố nén cơn đau. Cành gai thấm máu trở nên tươi tốt, đâm chồi trổ ra những bông hoa đẹp.
Nhờ bụi gai chỉ lối, bà mẹ đến một hồ lớn. Nhưng bà không tìm thấy một chiếc thuyền để đi qua bờ bên kia. Mặt hồ đã đóng thành một lớp băng, nhưng quá mỏng để có thể bước lên đó. Hồ thì lại quá sâu, khó lòng lội qua được, nhất là nước lạnh giá. Nhưng bà quyết lòng phải vượt qua, bà cúi xuống uống dần nước hồ. Đúng là việc làm chẳng thể nào thành được, nhưng biết làm sao, lòng thương con vô bờ làm cho bà mẹ không suy tính lý lẽ nữa. Bà chỉ cầu xin Thượng đế sẽ làm một phép mầu như Người đã từng ban cho nhân loại trong những phút giây khổ đau cùng cực.
Hồ nước thấy thế, khuyên bà:
-Bà không uống cạn được nước hồ đâu, đừng làm chuyện điên rồ. Này nghe ta bảo, chúng ta trao đổi với nhau đi. Ta thì khoái chơi ngọc, mà bà thì có đôi mắt long lanh đẹp tuyệt, có giá trị hơn cả những hòn ngọc trong suốt. Bà hãy khóc đi, khóc cho đến khi nào vơi nước mắt và hai con mắt bà sẽ rơi xuống. Cho ta đôi mắt ấy, ta sẽ đưa bà đến tận nơi ở của thần Chết. Đó là một khu vườn ươm hoa mà mỗi cây hoa là một linh hồn con người đã do thần Chết mang về.
Bà mẹ nức nở:
- Tôi có tiếc điều gì của tôi đâu, chỉ mong tìm thấy con thôi.
Thế là bà khóc, nước mắt tuôn rơi dầm dề cho đến lúc đôi mắt đẹp theo giòng nước mắt rơi xuống tận đáy hồ và hoá thành hai hòn ngọc tuyệt đẹp. Hồ giữ lời, mang bà đặt vào trong một ngôi nhà lồng kín to lớn. Bà me, nay đã mù, không nhìn được gì xung quanh, nên chẳng thể đoán được đây là đâu.

-Thần Chết ở đâu để ta còn đòi lại con thơ"
Môt bà lão coi vườn bảo bà:
-Thần Chết chưa về đâu. Làm sao bà có thể vào tận đây được"
-Thượng đế đã đưa ta đến đây vì lòng người khoan ái vô cùng. Bà hãy vì Chuá, tỏ lòng thương xót mà cho ta hay con ta hiện ở đâu.
-Tôi làm sao biết được mặt mũi con bà ra sao. Mà bà thì lại chẳng nom thấy gì. Ở đây có hàng triệu triệu cây hoa, nhiều cây đã chết héo đêm qua, chờ thần Chết về trồng lại. Mỗi gốc cây là một sinh mệnh con người. Hoa ở đây khác hẳn hoa trên trần thế. Mỗi hoa có một trái tim biết đập theo nhịp sống hẳn hoi. Có những cây hoa là linh hồn con trẻ, cũng biết đập nhịp. Bà cứ đi mà tìm, chắc bà sẽ nhận ra nhịp tim của con bà, vì bà là mẹ cơ mà. Nhưng nếu bà muốn tôi giúp cho, thì hãy đền ơn cái gì đi.
- Bà thấy ta còn gì để cho bà chăng" hay ta sẽ theo hầu hạ bà tận cùng nơi thế gian này.
- Ta cần gì nơi tận cùng kia, hãy cho ta mái tóc óng ả của bà, ta thích những sợi tơ vàng óng kia. Đổi lại ta cho bà mái tóc bạc của ta.
Bà Mẹ đồng ý, trao đổi mái tóc vàng óng lấy mái tóc bạc phơ của bà lão.
Họ buớc vào căn nhà lồng kính của lão thần Chết. Trong đó có biết bao muôn vạn cây hoa, đủ lọai, đủ màu. đủ hương sắc. Mỗi cây tượng trưng cho một sinh mạng con người, có cây cho kiếp người bên Trung Hoa, có cây là kiếp người bên Ấn Độ... Có cây xanh tươi mơn mỡn, có cây héo uá khô cằn. Bà mẹ cúi xuống tận từng cây hoa, nghe nhịp tim của chúng, và giữa hàng triệu nhịp tim đó, bà đã nhận ra nhịp tim của con mình.
- Đúng là con tôi đây, làm sao có thể quên được nhịp tim mà mình hằng nghe bao năm dài.
Bà chỉ vào một cây hoa màu xám nhạt, nhỏ bé yếu ớt, thân cây không đủ sức đứng vững, quằn quẹo qua một bên.
- Chớ đụng vào cây. Lát nữa thần Chết trở về, đừng cho thần nhổ cây hoa này. Thượng đế trao cho thần giữ vườn hoa này; mỗi cây hoa còn mạnh là một người trên thế gian còn sức sống. Cây nào yếu là biểu hiện của một người thế gian đang bệnh hoạn, nếu nhổ lên là linh hồn người kia sẽ lìa khỏi thể xác đấy. Bà cứ doạ rằng bà sẹ phá tan vườn hoa này để thần Chết sợ mà làm theo ý bà.
Thần Chết về, mang theo hơi lạnh âm ty rùng rợn. Thấy bà mẹ, thần quát lên hỏi:
- Làm sao ngươi có thể đến đây được"
Bà mẹ vươn ngực dõng dạc trả lời:
- Ta là một bà mẹ.
Thần Chết đưa cánh tay dài chộp lấy cây hoa ốm yếu; nhưng bà mẹ, bằng hết sức mình, ôm kín lấy cây hoa không cho thần Chết đụng vào. Thần Chết hà hơi vào bà, bà cảm thấy lạnh buốt đến tận cùng tủy xương.
Thần Chết doạ bà.
- Ngươi không đủ sức chống lại ta đâu. Chớ dại.
- Thượng đế sẽ tiếp sức cho ta.
- Ta làm theo lệnh Thượng đế, ta chăm sóc khu vườn sinh mệnh này là làm theo ý Người. Ta nhổ cây ở đây là để đem lên trồng trên Thiên đàng cho linh hồn được hưởng cõi hạnh phúc vô biên hằng hữu.
Bà mẹ quỳ xuống van xin:
- Hãy trả lại con ta. Nếu không, ta sẽ nhổ hết cây trong vườn này.
Vừa nói, bà vừa quơ tay vơ lấy một chùm cây.
- Chớ, chớ. Chớ làm thế. Ngươi là một bà mẹ đau khổ, sao ngươi lại muốn làm các bà mẹ khác đau khổ theo ngươi"
Bà mẹ ngơ ngác, bàng hoàng. Những bà mẹ khác" Sẽ có những bà mẹ khác đau khổ vì ta nhổ lên những cây sinh mệnh của con họ sao"
Thần Chết ôn tồn nói:
- Đây là đôi mắt của ngươi, ta thấy chúng long lanh dưới đáy hồ nên vớt lên. Hãy nhận lại đi. Đôi mắt ấy trong sáng hơn xưa nhiều, hãy theo ta nhìn dưới đáy giếng kia, ta sẽ cho biết tên hai trẻ mà ngươi vừa định nhổ đi cành cây sinh mệnh.
Bà mẹ nhận lại đôi mắt, nhìn xuống đáy giếng, thấy từ một trong đoá hoa toả lên niềm hạnh phúc thơ ngây; một đoá hoa khác thì u sầu ảm đạm.
Thần Chết nói:
- Tất cả đều do ý của Thượng đế, ai hạnh phúc, ai trầm luân đều do Người sắp xếp cả.
- Tại sao lại có hoa hạnh phúc, hoa bất hạnh"
- Ta không thể trả lời ngươi được. Nhưng cần biết một trong hai hoa đó là linh hồn của con ngươi, là hình ảnh tương lai của nó.
- Trời ơi! Hãy cho ta biết hoa nào trong hai kia là hoa linh hồn của con ta. Nếu đời nó về sau sẽ đau khổ thì xin hãy mang nó đi, mang nó về chốn thiên đàng cho nó được hưởng chút phúc trời. Xin hãy quên những điều ta đã nói ra, xin hãy quên cả những dòng nước mắt khổ đau của ta.
Bà quỵ xuống chìa đôi bàn tay ra khẩn cầu:
- Xin Thượng đế vô cùng nhân ái hãy rước con tôi về bên người. Xin đừng nghe những lời cay đắng oán than của tôi. Xin hãy thương xót lấy con thơ...
Thế là thần Chết mang đứa bé ra đi, đưa nó đến nơi xứ sở mà bà mẹ ước nguyện.
Bà mẹ gục đầu xuống che dấu niềm đau thương nhưng thầm cám ơn rằng con mình đã được an phần nơi vĩnh phúc.
Michael Do (Do Van Phuc)
webpage: www.michaelpdo.com

Gửi ý kiến của bạn
Vui lòng nhập tiếng Việt có dấu. Cách gõ tiếng Việt có dấu ==> https://youtu.be/ngEjjyOByH4
Tên của bạn
Email của bạn
)
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.